|
Sĩ Tải Bùi Văn Tiếp |

LỜI NÓI ĐẦU
HOÀN CẢNH XUẤT SẢI
GIỮ TRẠI CÂY
LÀM THƯ KÝ TRẠM XĂNG
LÃNH PHIM HÁT BÓNG
LÀM HÃNG DỆT
TÁI XUẤT GIANG HỒ
KẾT LUẬN
LỜI NÓI ĐẦU
Năm hai mươi tuổi, tôi thi đậu Luật Sự, được may duyên gần gũi những Chức Sắc đạo đức giảng giải về kiếp sống nhân sinh là phù du, ảo ảnh, tôi có tâm niệm Đạo theo Hội Thánh mãi mãi, tức là không cưới vợ, không tạo gia đình, không tham gia đường thế…
Nhưng thỏn mỏn ngày qua, sự thật vẫn trái hẳn với tâm niệm của mình là năm 28 tuổi tôi phải cưới vợ, rồi phải từ chức để nuôi con, lặn lội trong đường thế gần một phần năm thế kỷ để học hỏi cũng có, để trả vay cũng có. Vậy tôi xin ôn lại thời gian nhập thế có những gì hay, có những gì dở để lưu lại cho con cháu cái “đời” là cái gì, cái “Đạo” là cái nghĩa lý thế nào. Ôi bao nhiêu vinh nhục cay đắng mà tôi đã nếm qua, nó cũng là một đọan sử mà dân tộc Việt Nam đã nếm, hầu hiểu cơ mầu nhiệm của việc vay trả của giống Việt Thường nói chung và của cá nhân tôi nói riêng.
Quang Minh
HOÀN CẢNH XUẤT SẢI
Lúc ấy (1956) tôi đang làm Sĩ Tải tại Trung Ương, sau khi cùng các bạn Hiệp Thiên tổ chức một lễ vĩ đại nhơn lễ vía Đức Chí Tôn mùng 9 tháng giêng năm Đinh Dậu, công an Ngô Đình Diệm kiếm ban tổ chức bắt giam, tôi buộc phải trốn xuống Sài Gòn để tiếp tục hoạt động cho HBCS.
Ở đậu nhà chú tôi trong 3 tháng ăn không ngồi rồi, tôi thấy hổ thẹn vì chú thím tôi phải gánh thêm một gánh nặng trong cơn vị ngộ. May thay có cuộc hùng vốn của một người bà con làm trại cây tại Cỏ Mai (Bà Rịa), đang chọn người để giữ gìn coi sóc không ra nên đề nghị tôi làm việc ấy. Tôi nhận liền.
GIỮ TRẠI CÂY
Ra Cỏ Mai tôi ở trong một cái nhà rộng, dài do một người khách trú cất để nhơn viên ở trực cây.
Cây súc thì chở ở Xuân Lộc hay Tân Uyên về đổ đó bằng xe be, rồi nhờ cần cẩu nơi đó có máy trục cây lên cao sắp thứ lớp ra ghe chài. Lối 30 cây là đầy một chài, tàu sẽ gom lại về Sài Gòn hoặc Cần Thơ bán.
Cỏ Mai là chổ rừng hoang cách Bà Rịa 5 cây số bao quanh là rừng chồi chớ không có cây lớn. Ban ngày thì từ sáng sớm muỗi mắc nó bu cắn chịu không nổi, đến khi mặt trời mọc cao lối 9 giờ mới tan. Nhưng đến chạn vạn tối thì muỗi kêu như sáo thổi. Mỗi người đều vô mùng trước 7 giờ tối, mặc dầu không ngủ. Muỗi ở đây không sợ người ta, chí như ban ngày ngồi tiêu tiểu là nó bu vào đít đuổi không kịp, có lẻ nó thèm máu người nên nhào vô không sợ chết.
Nghe những người địa phương nói, Cỏ Mai lúc trước có một cái đồn của Pháp đóng tại cầu, nên quân kháng chiến thường đánh nhau với Pháp nhiều trận, thành thử những mô đất lỳ lỳ là những mồ oan của chiến sĩ vô danh. Ở đây cũng có xóm nhà dân chài, nhưng vì thời cuộc không an ninh nên họ dở nhà đi nơi khác, còn để lại nhũng đống gạch vụn.
Trong lúc bôn ba để lánh lưới công an của Ngô Triều, phần khổ sở, phần nhớ cảnh nghèo vợ sanh không ai bảo bọc cho 3 đứa con thơ tôi tức cảnh khi thấy bầy nhạn chiều về tổ.
Cỏ Mai Chiều Hôm
Cỏ Mai nước mặn chốn rừng hoang,
Nhà vắn người thưa, gỗ bợn bàng.
Xe cổng cây to lưng rắc rắc,
Chài xơi xúc gọc bụng chan ban.
Mồ xưa lố xố không bia đá,
Nền cũ vuông vuông đóng gạch tàn.
Cánh nhạn chiều hôm về tổ ấm,
Cho ta nhắn gởi mảnh tâm cang.
Thỉnh thoảng tôi ra Cấp hoặc Long Hải chơi cho đở buồn; nhìn trời nước bao la, tôi tưởng sức trời không lường thì sức người làm gì thắng nổi Thiên ý nên niềm hy vọng được trui cứng.
Ở Cỏ Mai đựơc 3 tháng thì công việc làm ăn bị lỗ lả, tôi phải về Sài Gòn. Kỳ nầy không phải như kỳ trước, người ta đã xem cử chỉ nết na của mình, biết sức chịu đựng gian lao, lòng chơn thật, không tham lam, không ích kỷ nên đắc như tôm tươi. Người kêu làm sở nầy, kẻ mời làm sở nọ. Ông Nhàn Xuân Lộc là chủ khai thác lâm sản kêu giúp việc cho ổng. Cậu Hai Khâm kêu làm Thư Ký Xuất Nhập Cảng Nguyên Hiệp công ty nằm ở đường Nguyễn Huệ, Cô Tư Cẩm Lỹ kêu làm thơ ký trạm xăng…
Tôi lưởng lự và sau hồi suy nghĩ, giao quyền biểu quyết cho bà Phiếu Mẫu là Thiếm tôi đã nuôi tôi trong ba tháng trường biểu tôi làm đâu thì tôi sẽ làm ở đó.
LÀM THƯ KÝ TRẠM XĂNG
Có lẽ nghiệp xăng nhớt còn dài nên sau khi làm ở trạm ESSO Hiền Vương Paster, tôi lại xuống Cột Cờ Thổ Ngữ cũng gọi ESSO Printe de Blageur, rồi trở lại ESSO Hai Bà Trưng, Trần Cao Văn cho đến ngày giải phóng Sài Gòn 30-4-1975.
Ngày đầu tiên bắt tay vào việc tôi ngơ ngác như con nai vàng, phải học trong một tháng mới rành giá cả các món đồ và công dụng của nó như thế nào.
Hôm ấy chủ đi khỏi tôi phải gác trưa, nên một buổi cơm phải dọn ở gốc me buộc tôi phải ăn. Lòng tự ái không thể ngăn giòng lệ, là từ hồi nào đến giờ, tuy không đài cát nhưng không đến đổi vất vả như thế nầy. Hồi ở với cha mẹ, lúc đi học, lúc làm Đạo, thì cơm lúc nào cũng dọn trên bàn, ăn phải bữa. Nay cơm dọn gốc cây, ăn giữa đám đông người qua lại, thật nuốt nghẹn ngào. Lúc ấy tôi rất sợ gặp một người quen, nhứt là một người Đạo Hữu ở Đà Lạt, nếu họ thấy được thì còn gì là danh thể.
Nhưng lần lần cũng quen, lòng tự ái bị ghìm xuống từ từ, cảnh sống thực tế của đời nó buộc ta phải chấp nhận những gì mà ta ái náy. Những sự rầy rà oan khúc, những cái lố bịch của kẻ có của nói với người làm công nó dạy tôi một bài học của trường đời. Đời là thế ! đời là thế ! Trí hiếp ngu, sang khinh hèn, giàu mắng nghèo… đó là việc thường của thế cuộc. Vì từ ngưỡng cửa trường bước vào cửa Từ Bi tôi chỉ thấy toàn là lẽ phải, sự thương yêu, chân thật, sự công bằng tương đối. Nay đụng với đời thực tế thì nó trái ngược hẳn. Nên tôi nghĩ tại sao tôi phải khóc trong bửa cơm nơi gốc me thì cũng có lý lắm.
Nghĩ mình đã cởi áo Đạo ra làm đời mà bầm dập cả lương tri. Lương bổng lại không đủ nuôi vợ con đừng nói đến giúp cha mẹ nên buồn làm đặt vài vần.
Xuất Sãi Ký Sự
Xuất sãi làm công gẫm tủi phần,
Dường đem hạc nội trói đôi chân.
Xã giao dua bợ sai lòng chánh,
Toàn tín gian ngoa trái Đạo nhân.
Lấp miệng vú da, em khóc ngất,
Trám hàm mía mắt, lão cười khan.
Ước chi cởi được dây oan buộc,
Thả hạc tung bay ngút chín từng.
Kiểm điểm mấy năm sống ở Đô Thành tôi thấy học khôn được nhiều việc. Nào là biết đi gởi tiền các ngân hàng, lảnh chi phiếu, đóng chi phiếu, nào là giao thiệp với các giới bình dân có, sang trọng có, từ chủ hãng xe, nhà xe, xe đò, thương gia cho đến tài xế, phụ xế, tắc xi....Ban đầu còn lạ, lần lần thân đến nổi thành bạn tâm sự, nên có việc chi họ cũng đến trạm xăng bàn bạc. Một biến cố xảy ra ở Đô Thành là 5 hoặc 10 phút sau trạm xăng hay liền. Lựu đạn nổ ở đường nào, biểu tình học sinh ở trường nọ, nhứt là tin đảo chánh lại càng thêm xốp dẻo. Đã 3 phen Ngô Đình Diệm bị đảo chánh là 3 phen tin tức tấp nập của giới taxi đến phụ nhỉ: “Ê ! lình nhảy dù bao vây dinh Độc Lập hồi 3 giờ khuya. Một xe buýt bị bắn ở đường Thống Nhứt, Phật Giáo biểu tình ở Phan Đình Phùng, hầm bí mật bị khám phá ở Sở Thú có vài chục người được cứu sống... hoàn toàn là tin giựt gân tới tấp mà chưa chắc cảnh sát Cuộc có đầy đủ hơn ở trạm xăng. Nơi đây ta cũng biết khuynh hướng của từng cá nhân một, họ tự do bày tỏ tư tưởng mình mà khỏi bị ai theo dõi, khỏi sợ bị làm khó dể...
Trở lại cảnh sống, cứ 2 năm bà xã đều đều sản xuất 1 đứa nên tiền bạc eo ngặc, thêm thuốc men, ăn uống, quần áo...cứ lặt vặt tiệm tiền mãi thành ngân sách gia đình thâm thủng, tôi tự thán một bài như sau:
Tự Thán
Vất vã là nghề bán nhớt xăng,
Nhưng không làm rứa biết làm răng ?
Tiền nong eo hẹp con nheo nhóc,
Quần áo hôi tanh vợ mãi nhằn.
Chẳng phải bất tài không thạo việc,
Vì chưng thời cuộc khó làm ăn.
Gượng vui cười cợt cho qua buổi,
Chẳng gặp tri âm phải nói xằng.
Khi xuống Sài Gòn vài tháng, tôi lúc đầu mướn nhà ở đường Đòan Thị Điểm nối dài, tức xóm nhà sàn ở Bến Tầm Ngựa. Hễ nước lớn thì mát mẻ dễ chịu, nhưng hễ nước rồng thì hôi hám vì cống rãnh hực lên một không khí khó thở. Nhưng nghèo làm sao mướn phố với giá đắt tiền. Thỉnh thoảng mấy đức nhỏ bước trợt chân té xuống sông rất nguy hiểm. Điều nguy hiểm nhất là sợ cháy nhà. Cái hẻm đi vô thì hẹp mà rũi cháy hẻm trước thì cả dãy phía sau không đường ra, không lẻ nhảy xuống sông. Nhưng may những cảnh ấy không xảy ra cho chúng tôi.
Sau dời lên ở với 2 đứa em vợ ở đường Nguyễn Cảnh Chân còn kêu là xóm Nancy. Lần lược thằng em trai đi quân dịch, đứa em gái có chồng. Một mình gánh không nổi gia đình nên tôi chọn đường về Tây Ninh cho đở tốn và cũng là nguyện vọng đã nuôi sẵn từ lâu. Đem sắp nhỏ về gần ngọn đèn Thiêng Liêng cho nó nhiễm Đạo đức. Hơn nữa dọn con đường tương lai khi mình rảnh nợ thì chỉ cần một thân bay về là tiện lợi nhứt.
Tôi mướn xe, chở giường chổng, lu hủ và đem gia đình về Ngã Năm (gần cửa số 4 chùa Tòa Thánh), phần tôi vẫn ở lại Sài Gòn làm việc để nuôi đoàn con dại.
LÃNH PHIM HÁT BÓNG
Tôi ngoài việc ở cây xăng tôi còn lãnh thêm một phận sự nữa là lãnh phim cho rạp hát Tân Việt Châu Đốc, lương được 12000$ mỗi tháng. Ông chủ là cò Nam dẩn tôi đi giới thiệu các chủ hãng phim ở Đô Thành như: Fax, Paramounth, MGM, Tân Kiết Y Oan, Đại Quang Minh, Colombia…Tiền có thêm nhưng rất mệt trí vì ông Nam giao cho tôi tiền và một chương trình trong 2-3 tuần. Ngày nào đến đâu lãnh phim hiệu gì, trả bao nhiêu tiền, lãnh affiche, hình ảnh, quản cáo…rồi đem ra xe Công Tạo gởi về Chàm Sóc. Khi ở Chàm Sóc hát xong thì gởi xuống ngày nào, xe đem lại 140 Gia Long là nhà chủ tôi, tôi phải chở đến trình với cơ quan thuế ở đường Kim Biên chợ lớn, rồi mới đem trả cho chủ hãng phim.
Buổi đầu tiên phim Chàm Sóc gởi xuống chiều thứ 7. Tôi đinh ninh chú nhật nghỉ nên để thứ 2 trình. Quan thuế đòi phạt tôi 50.000$ tôi lên ruột, vì tiền lương của mình 1 tháng chỉ có 1.200$ làm sao đóng tiền phạt. Tôi năn nỉ vì mới bắt tay vào nghề, không hiểu luật lệ trình báo. Nhưng vô ích, nó nhứt định phạt. Lúc nầy tôi hơi bối rối, thấy cuộc thế khó khăn quá đổi nên xúc động tâm cang. Buồn tình ra ngoài uống nước đá thì một người trạc 30 tuổi lại nháy nháy nói: “xì cho tôi 50$ thì tôi làm cho êm xuôi. Mừng quá, tôi chìa cho nó 50$. Một lát có người kêu tôi lấy giấy tờ và phim về.
Thật là 1 tổ chức làm tiền không cam nổi. Hễ trình giấy thì phải chi cho người vô sổ 20$, rồi đem cho quan kiểm nhận xem coi phải đúng phim trong giấy phép không. Kế đem qua người lưu chiếu, mà muốn lấy ra cũng 20$ nữa. Nếu không cho chúng ăn chúng sẽ kéo phim ra cả nùi, chừng cuốn lại lối 1 giờ chưa rồi thì còn có nước khóc mà trừ.
Hơn nữa đem lại hãng phim trả, nếu trễ ngày thì nó phạt từ 1.000$ sắp lên. Thật là mệt mõi, tâm trí cứ dao động, sợ người nầy, ngán kẻ khác. Nhiều khi trong chương trình dặn ngày ấy đi lãnh phim mà nói phim còn ở Song Mao Bạc Liêu chưa về thì mình phải làm sao bây giờ ? Vậy mới biết làm ra đồng tiền thật chảy máu con mắt.
Đến chương trình quảng cáo cũng thế. Mình đặt in, hẹn ngày đó đi gởi, nó cứ ừ à tử tế, chừng lại lãnh nó nói công việc nhiều, chưa rồi. Có phim, có offiche mà không có chương trình thì làm sao hát có tiền. Chủ rạp có hiểu nổi khổ của mình đâu ? Có lần tôi gởi phim chương trình mà quên bỏ hình nơi học tủ nên bị ông chủ cằn nhằn quá xá.
Thấy rằng đã mệt xác, cực trí mà lương bị bọn lòng tong lục chốt nó sỉa hết nên bạo dạn xin nghỉ quách vụ lãnh phim cho khỏe thân.
Ông có Nam sợ tôi kiện đòi tiền nầy, tiền nọ nên viết sẳn 1 tờ bắt tôi ký tên, đại ý nói tôi bằng lòng không đòi hỏi phụ cấp chi hết.
Tình đời thật là bạc bẻo, mình làm cho thiên hạ sắm xe hơi chạy đặng mình đứng hưởi bụi mà họ còn xem mình như thằng ở đợ, là tay sai. Mỗi đêm họ bỏ vào tiền rạp 5.000$ còn phim thì họ mướn chỉ có 1.500$ đến 3.000$ là cùng, họ hát trong 3 hoặc 4 đêm hốt mười mấy hai chục ngàn mà còn than lỗ.
Kiểm điểm thời gian làm phim tôi hiểu được địa điểm và danh sách các hãng phim, cái eo sách của chánh quyền thối nát và sự bóc lột của hạng chủ nhân.
Dẫu sao nó cũng là lò trui cho mình được chịu đựng các thử thách của đời tức là bài học hay nơi cõi thế.
Thời gian nầy tôi vừa bán xăng cho Cột Cờ Thủ Ngữ vừa lãnh phim cho Tân Việt, 2 sở lãnh được 3.200$. Nay nghỉ lãnh phim chỉ còn 2.000$ nên cuộc sống thiếu hụt. Ngồi buồn bổng thấy có một đám xác đi ngang, thấy có kèn trống nó buồn rợi, chợt thấy có cái trống cơm đánh bùng binh nghe thảm não. Tôi tự sánh mình như cái trống cơm đói khó, thân bị trói buộc bởi số dây chằng chịt nên sáng tác được bài thơ:
CÁI TRỐNG CƠM
Chẳng đám đình nào vắng mặt tôi,
Trống cơm xin bộc bạch đôi lời:
Lưng trần chẳng có manh tơi rách,
Bụng đói chỉ nài một nhúm xôi.
Nào quấy trói thân năm bảy nuột,
Tội chi vã má cả ngàn thôi.
Tiển Thần mong tấu lên Cung Ngọc,
Rằng tớ trần gian lắm khổ rồi.
Huệ Phong họa:
Đạo đời hằng chuộng cái danh tôi,
Khởi giọng bùm bum giống thốt lời.
Rác mặt kêu đau người rưởm lệ,
Buộc mình chịu đấm kẻ ăn xôi.
Lưng đai giềng mối y như rấm,
Bụng giữ điều hòa tiếng tớ thoi.
Trách vụ còn dài khi hữu sự,
Cổi tơi giúp chúng phận chưa rồi.
20-3-1983
Tử Trước cũng họa:
Nợ cơm manh áo nát lòng tôi,
Mở miệng thốt ra những ngượng lời.
Ràng buộc chung thân nhân nghĩa trọng,
Trong không ruột thắm ngẩm ơn xôi.
Vai mang dây bạc, tâm không bạc,
Mặt thốt tình tang dạ dứt thoi.
Cửa vỏ thôi đành ra thổ vỏ,
Liệt trinh chia cách ối thôi rồi.
Sớ là trạm xăng ESSO Cột Cờ Thủ Ngữ của ông Ninh tôi làm ở Hiền Vương Paster vài năm rồi đổi xuống đó. Vì ông Ninh làm ăn sa sút nên vay mượn không được nữa mới cậy Thiếm tôi xoay cho ông. Số nợ càng ngày càng to mà phương hoàn trả không có nên ông Ninh giao cho Thiếm tôi làm chủ. Lụi đụi nơi ấy bị giải tỏa nên tôi mới trở lại trạm xăng Hai Bà Trưng làm việc.
Đang hồi đắc khách, Ba Bảo đòi sang với số bạc 16 triệu. Ông Ninh bằng lòng nên tôi chỉ lãnh 3 tháng nghỉ việc và thất nghiệp bắt đầu.
LÀM HÃNG DỆT
Tôi đến ông Lý Văn Tịnh là chủ hãng dệt Liên Phương xin sở được chấp nhận.
Ngày 1-7-1970 tôi bắt đầu nghề mới là làm kế toán viên hãng dệt.
Nghề nghiệp không rành, cái gì cũng mới lạ, phải chỉ vẽ từ ly từ tý như trẻ mới 7 tuổi vào học vỡ lòng. Tôi phải học hỏi những đức trẻ tuổi việc nầy, việc nọ trong 3 tháng trường dần dần cũng quen. Khi vào làm tôi chỉ được hưởng lương 13.000$, tôi phải làm giờ phụ trội mỗi ngày 3 giờ mới được lảnh 20.000$. Trong lúc còn làm trạm xăng tôi lãnh 30.000$ cộng thêm tiền ngoài được lối 50.000$ . Nay chỉ lãnh có 20.000$ làm sao chi đủ. Tôi chạy lại các trạm xăng quen xin sở. Họ trả lời rất cay: chúng tôi chỉ cần những người vô dầu mở, rửa xe, ra nhớt, làm việc sóc vác chớ không cần thư ký hay người làm việc giấy tờ….Thôi rồi đời tuộc dốc nữa.
Ngồi ở sở dệt mà tâm trí muốn về làm Đạo nên nặng óc được 1 bài:
ĐỔI NGHỀ
Đổi thay chưa biết dở cùng hay,
Vạn sự đầu nang khó giải bày.
Vất vả nghề xăng thêm chán ngắt,
Cần cù nghiệp dệt chửa quen tay.
Vì tranh sự sống cho nên bận,
Bởi gánh con đông phải ráng cày.
Ước đặng tung trời giăng cánh Hạc,
Gieo nhân rãi nghĩa phỉ tình thay.
Lây lất với nghề kế toán viên cũng được 2 năm thì tình hình An Lộc nguy khốn, Quảng Trị bị mất, các tỉnh Miền Trung bị đe dọa trầm trọng nên nền kinh tế bị sụp đỗ. Hãng xưởng bị ảnh hưởng nặng. Bà Sáu Nguyễn Thị Giàu kiếm chuyện đuổi lần nhơn viên, tôi nghi có ngày chắc cũng đến phiên mình.
Thật vậy, ngày 8-7-1972 là ngày tôi được tờ khiển trách. Kế ông Đầu Phòng Buông khuyên tôi tìm việc khác vì một tay bí mật nào đó thọt mét…Tôi nghĩ đó là bà Hồng. Bà nầy là trưởng ban đánh máy; chữ tôi viết hơi khó coi nên bà cũng bực. Nhưng vì một việc đám cưới con bà chủ, bà Hồng ép nhân viên mỗi người phải đóng 500$ để bà mua trái tim bằng vàng làm quà cưới, còn dư ra bà mua lặt vặt tấn ơn tấn nghĩa với bà chủ để tỏ dạ trung thành. Anh em thư ký đánh máy muốn phản đối nhưng không dám sợ bả mách động đến ai là người ấy xấu số. Họ lại nói với tôi. Tôi hứa nếu bà Hồng vào ban kế toán nói điều đó bả sẽ gặp tôi. Cũng tật đó tôi phản công: “Bà chủ mời nhơn viên đi ăn tiệc cưới, ai có dư tiền đi đám cũng tốt, ai nghèo thì thôi, chớ đâu có quyền buộc rằng không có tiền kể như từ chối, không dự tiệc.”
Việc nầy thấu tai bà chủ, bà buộc phải trả tiền cho những người đã đóng lại hết và nói rõ bà mời ăn tiệc ở nhà hàng thôi chớ không nhận quà cưới.
Thế là bà Hồng bể mặt nhưng oán tôi.
Ông Buông biểu tôi lại nói với ông chủ để chuyển qua văn phòng Lê Thánh Tôn làm việc, tôi đồng ý và được chấp thuận.
Buồn vì mỗi ngày có kẻ bị đuổi, người lại xin vào tôi tức cảnh làm một bài.
ĐỜI TƯ CHỨC
Cái hãng Liên Phương lắm nhộn nhàn,
Kẻ đi người ở thảy đều than.
Than lương cố định không xê dịch,
Than kiếp cần lao quá phủ phàn.
Vất vã người đi đà tím ruột,
Cần cù kẻ ở phải bầm gan.
Gia đình ngân sách ngày thâm thủng,
Tóc trở màu sương, sức lụng dần.
Có cô Liên ở phòng kế toán đọc bì thi của tôi rồi cùng đồng quan điểm bằng một bài như sau:
Đời tư chức lắm khi buồn tê tái,
Nhã tơ lòng dật mãi chẳng thành thơ.
Xây mộng đành từ thử đến giờ,
Hồn vươn vấn, hoen mơ rơi ngấn lệ.
Ngày hai buổi đi về đều vẫn thế,
Ước mơ hoài kiếp sống vẫn buồn tênh.
Đường công danh muôn nẻo bước gập ghền,
Xơ xác lắm bồng bên thân tư chức.
Bao mái tóc ngã màu tiêu múi,
Vẫn cần cù trong kiếp sống nhân sinh.
Thầm trách sao thân phận của mình,
Vẫn cứ mãi làm thân tư chức.
Khi làm với ông Tình, gần ổng chừng nào mới hiểu cái giả của người tu là thế nào. Sự nghiệp của ông được trong tay là nhờ Cao Đài mà có. Ổng lảnh cota vải rồi bán chợ đen lấy lời, lần lần mới khá, kế mua máy móc lập xưởng dệt. Nay được 3 cơ sở là Liên Phương công ty, Thanh Hòa công ty và Liên Hòa công ty. Ông còn cất 5 cái building cho Mỹ mướn, nhập cảng Honda, xi măng, tơ sợi, thuốc nhuộm đủ màu, sắm xe hơi lớn nhỏ trên 50 chiếc. Có thể nói ông Tình là người giàu nhất Sài Gòn mà không khi nào dám ngồi quán. Cúng 1 ngày 3 thời, ăn chay trường, nhưng lòng dạ lại ác nghiệt. Có một thư ký bị ông đuổi vì lấy cây thước đánh các nốt chữ. Tài xế thì kể bị đuổi ra vào như đi chợ, ông không tin ai hết. Người nào xài được thì phải làm đến 8,9 giờ tối mới về đặng đến nhà, nhưng lương bổng thì nhỏ giọt.
Ông bắt mình đi hối lộ mỗi công chức nơi Xã Tây 1 sắp vải hoặc 2 sắp vải mà mình thì ổng không ngó ngàn gì hết.
Ban đầu ông trả tôi 24.000$, sau sụt lại còn 20.000$ rồi bắt ở lại đến 8 giờ tối tại trạm xăng Laclte để phát bon xăng cho tài xế khỏi ăn gian. Việc nầy làm bọn tài xế oán tôi đáo để. Tôi tính một tháng ổng khỏi bị chúng ăn gian trung bình 50.000$ mà ổng chỉ trả cho tôi có 2.000$ tiền phụ trợ mỗi tháng.
Bây giờ nói đến thi. Nơi xưởng Liên Phương ở Thủ Đức có 1 cô tên Liên người có Đạo Cao Đài nhưng chi phái, ăn chay trường, hiền hậu được Sĩ Tải Khỏe giới thiệu tôi là một thi sĩ nên cô yêu cầu cho cô một bài thi. Tôi có làm bài tả Hoa Liên, cô rất ưng ý.
Tặng Cô Kim Liên (Ngành Hồ Thủ Đức)
Tuy mọc đồng ao lắm bụi hồng,
Có ngày lên lọ ngự thong dong.
Hương xong bát ngát bên bàn Phật,
Lan, cúc, đào, mai khó sánh cùng.
Cô Liên viết cho tôi một bức thư như sau:
Kính gởi Ông Tiếp !
Đọc xong bài thơ tả về Hoa Liên của ông làm rất hay. Tôi chịu thua nhà thi sĩ Quang Minh đã khen tặng quá lời, ngâm đi, ngâm lại bài thơ tôi đã thuộc lòng rồi, nhưng còn thiếu bánh ngọt với trà lâu nữa thì tình thân mật mới được thoải mái như vậy mới đúng đó phải không thi sĩ ?
Cám ơn thi sĩ quá lời,
Quang Minh soi thấu tâm người trần gian.
Dám đâu sánh với cúc, lan,
Mai đào còn đẹp hơn ngàn hoa liên.
Bánh ngon tư tưởng một giềng,
Uống trà ngâm tứ Thần Tiên Niết Bàn.
Thủ Đức ngày 10-3-1972
Kim Liên
Tôi nhờ làm ít bài thi như vậy nên uy tín được lên và được sự nể nang của hàng trí thức.
Có ông Trưởng phòng kế toán tên ông Trung người Miền Trung, không hiểu ông buồn gia đình thế nào mà vào sở ông thường hay nói: “Thế thì phải mặc áo gỗ”. Tôi để ý vài hôm là ông lại nhắc áo gỗ tức là vào hòm nghỉ là phải chết. Tôi làm bài thi như vầy:
Áo Gỗ
Áo gỗ hôm nào cũng nhắc luôn,
Nếu trời cho mặc ắc ông buồn.
Buồn vì vợ trẻ chừ hiu quạnh,
Buồn gánh con đông sống cạn nguồn.
Ơn nước nợ thầy mang nặng trịu,
Công cha nghĩa mẹ hứa đều suông ?
Nêu danh hậu thế cho nên mặt,
Trung hiếu đền chưa ? kiếm lỗ chuồng ?
Sài Gòn ngày 4-6-1971
Khi tôi công bố bài thơ cũng ít người để ý, vì tưởng là chuyện đặt thơ chơi cho vui, nào dè đâu vài tháng sau nghe tin ông Trung tự vận chết vì lý do vợ ngoại tình. Lúc ấy họ mới chạy hỏi tôi bài thi áo gỗ để chép làm kỷ niệm. Tôi cũng giựt mình, không biết bài thơ mình đặt nó có tác dụng cho ông Trung quyên sinh hay không, nên sợ mang tội cùng Thiêng Liêng chẳng nhỏ. Ông Hồng Kế Toán Trưởng rất thích bài áo gỗ vì ông đọc đến thuộc lòng.
Còn đám cưới con ông Tình tôi có làm một bài chúc hôn. Ông biểu tôi đánh máy, ký tên rành rẽ để ông gởi đi Canada. Vì mặc dầu làm đám cưới ở Việt Nam mà cô dâu và chú rễ ở tận phương trời Mỹ Châu.
Cậu tên Lý Thanh Tùng, cô tên Ngô Thị Anh Đào. Xui gia đều là người triệu phú nên cũng môn đăng hộ đối.
CUNG CHÚC TÂN HÔN
Nhà giàu, học giỏi, đẹp thêm duyên,
Lạc thú trần gian thảy hưởng đều.
Rộn rịp kẻ mừng câu hảo hiệp,
Nhộn nhàn người chúc đắc cao quyền.
Danh thơm họ Lý sanh con đức,
Nghĩa rạng giồng Ngô đặng gái hiền.
Tùng tựa Anh Đào xòe bóng phụng,
Giao cành trước gió đón tân xuân.
Sài Gòn 9-12-1971
Trong ban quản lý và kế toán có những người quan trọng tôi tóm tắc tong một bài bát cú như sau:
Liên Phương Kỷ Niệm
Buôn bán Chảy trôi mới Đặng Giàu,
Tâm đồng ý Hiệp dựng lầu cao.
An Nhàn tuổi hậc Hồng ân hưởng,
Chung đỉnh thanh xuân Phúc rạng làu.
Mở tiếc Liên hoan, Loan trổi giọng,
Tiếp trang Anh tuấn, trống kèn chào.
Nhạn về tổ ấm vui sum họp,
Kế toán phòng Trung hiếm kiệt hào.
Sài Gòn 31-5-1972
Càng đeo theo nghề dệt tôi thấy tương lai càng tắc nghẽn, ý muốn trở về làm Đạo nhưng tấn thối thế nào cho vẹn bề được nên nằm nghĩ ra một bài tựa là lưỡng lự:
LƯỠNG LỰ
Muốn về nhưng ngặt đám con đông,
Tám đứa mà lo cũng ngất cần.
Nào gạo, áo quần, quà, học phí,
Nào xe, sách vỡ, điện, xà phòng.
Trăm điều cần có ngàn đồng đủ,
Mọi thứ chờ lương mới giải xong.
Gió vẫn thổi ào cây muốn lặng,
Chờ trời quan đảng ắc về đông.
Mình chê cái kiếp nô lệ mà dứt nó ra không được, nghĩ cũng cái quả gì đây, ắc mình phải vui lòng trả cho hết. Nghĩ đến câu nho mà Đức Khổng Tử nói: “Thượng bất óan, thiên hạ bất vu nhơn, cỗ quân tử cư vị vĩ sĩ mạng”. Nghĩa là trên không oán Trời, dưới chẳng trách người cho nên người quân tử sống bình dị mà chờ mạng.
Gẫm mình giống như gà mái, phải bương chải để nuôi con mà cũng cho là gà yêu, gà quỉ, bươi phá rau hành, có ai hiểu hoàn cảnh đảm đang bầy con dại của nó. Sức gà bao nhiêu mà dám đá với diều hâu, cự với chồn cáo, nhưng tình thương con mảnh liệt buộc nó phải bảo vệ núm ruột của nó, chừng nào con nó lớn biết tự sống thì phận sự nó châu toàn và nó cũng ước ao bỏ kiếp gà khổ nảo nầy đặng biến thành con phụng bay ngút chín từng trời xanh hầu thoát khổ.
PHẬN GÀ MÁI
Hớp khí thanh không sống được nào ?
Phải bươi mẽ ớt, xới ghè rau.
Thẳng tay chị bếp phan bay bỏng,
Lớn tiếng anh phu đuổi chạy nhào.
Đương cự cùng diều hơi yếu thế,
Giao tranh với cáo, sức là bao ?
Những mong con lớn vuông tròn phận,
Hóa phụng có ngày dứt khổ đau.
22-2-1973
TÁI XUẤT GIANG HỒ
Có lẻ trời còn thương con hạc lạc nên được tin cây xăng của ông Ninh được hoạt động lại, tôi đến xin việc và được nhận. Tôi đâm đơn xin nghỉ việc với ông Tình không mến tiếc.
Tôi hoạt động đắc lực để đem lại quyền lợi cho ông Ninh. Tôi đến những thân chủ cũ bắt mối nên càng ngày càng thạnh vuợng. Nhờ mỗi lần xăng lên giá là ông Ninh kiếm bạc triệu, nên đời sống của tôi cũng được thoải mái phần nào.
Tôi lên tinh thần đặt một bài được ông Hoàng Chấm là giám đốc ESSO Trung Ương cho đăng nơi tờ báo của hãng và phiên dịch ra anh văn, có lẻ nó đã đến các nước trên thế giới nơi nào có hãng ESSO.
NGHIỆP BÁN XĂNG
Chẳng phải đề cao nghiệp bán xăng,
Nhưng không có tớ cũng nhăn răng.
Trên trời vắng bóng phi cơ lượn,
Dưới đất làn khan chiếc máy nằm.
Cuốc bộ nhà xa công chức mếu,
Vác rương di chuyển sĩ quan nhăn.
Sử gia có nhớ thằng tôi nhỉ,
Khai quốc công kia gẫm suýt bằng.
Có lẻ tinh thần ông Hoàng Chấm là tinh thần kẻ làm công trí thức nên chỉnh câu chót lại là:
Khai quốc công đâu dám sánh bằng.
Mừng chưa được bao lâu thì giải phóng đến, và ngày 30-4-1975 đã thay đổi cuộc đời tôi một cách đột ngột.
Tôi được công ty Xăng Dầu Miền Nam cấp giấy có cờ giải phóng là nhơn viên trạm xăng dầu số 1 và lảnh lương như chủ cũ. Lần lần họ không cấp lương con vợ. Tôi từ Thư Ký trạm xăng biến thành huấn luyện viên, kế bảo vệ.
Tôi buồn tình đặt 4 câu như sau:
Hai mươi năm lẻ bán dầu xăng,
Nay nghiễm nhiên thành nhiếp kích lan.
Miễng đặng đồng lương nuôi lũ trẻ,
Công danh quyền thế tớ đâu màng.
Ban đầu chú Loan, cán bộ từ Hà Nội vào làm Giám Đốc, kế chú Xuyến thay, rồi chú Chức thay Xuyến. Chức hiểu tâm lý nên cho tôi trở lại thế quyền như Phó Giám Đốc coi sóc việc chuyên môn của trạm.
Tôi thấy lương bổng không thể nuôi vợ con được nên xin về Tây Ninh theo chính sách bung dân ra khỏi Đô Thành và được chấp thuận.
Nơi trạm xăng cũ, nhơn viên hùng lại đải tôi 1 bửa tiệc với lời lẽ mến tiếc. Còn anh em cũ của ông Ninh lên Tân Định đãi tôi một tiệc khác đậm đà hơn, có cô Tám là con ông Ninh tham dự.
Thấy ở đâu mà mình được lòng thương mến của bọn bình dân thì mình không bị lạc lỏng, vẫn còn tình người, còn biết trọng kẻ hiền, người đức.
Từ 1956-1976, chẳng 20 năm phế Đạo tùng đời, tôi rất đau khổ tâm hồn vì chí mình không đạt. Tưởng rằng ra thế năm ba năm mình tạo được một sự nghiệp khả dĩ để trở về lo phục vụ dưới bóng từ bi, nào hay buông ra chỉ 2 bàn tay trắng, chẳng lẻ phải lội lặng mãi rồi biết bao giờ mới làm Đạo đặng.
Tôi cương quyết dâng đơn xin phục chức Sĩ Tải và tái thủ phận sự, tùng Hội Thánh Hiệp Thiên Đài sử dụng, giao phó tương lai đời mình, gia đình mình cho Chí Tôn, Phật Mẫu định sao thì định. Nên trước 15 hôm được giấy nghỉ của chánh phủ, tôi gởi đơn xin làm Đạo, sợ rằng hòan cảnh sẽ làm mình đổi ý. Và tôi được toại nguyện.
Hai mươi năm ao ước, nay được như ý, tôi thỏa chí với bài.
CHÂU VỀ HIỆP PHỐ
Nhắm hướng rừng thung quyết trở chơn,
Hai mươi năm lẻ chí chưa sờn.
Cửa quyền cộng chánh tơ nguồn ái,
Khuôn luật thương yêu xóa cội hồn.
Chán ngấm tuồng đời bày giả cảnh,
Mừng nhìn cội Đạo dựng nền nhơn.
Hạc về quê cũ tung tăng múa,
Hiệp phố mừng châu đã phục hườn.
KẾT LUẬN
Ngày tôi ra đi cũng là hoàn cảnh bất khả khán chớ nào có ý bỏ Đạo theo đời. Bây giờ cũng là hòan cảnh không thể ở được nữa nên phải trở về cội Đạo để thực hiện tâm niệm của mình.
Kiểm điểm về nhân số, ngày ra đi chỉ có 3 con, ngày về được 12 đứa tức là lời được 9 đứa. Về tiền tài, đi ra con số không, đi về cũng con số không tức là huề vốn về trường đời, ngày ra đi là con nai vàng ngơ ngác mà ngày về là con cáo già nhiều trí khôn, vậy vốn liếng còn mà còn lời ít nghề chuyên môn: nghề bán xăng, nghề lãnh phim ảnh, nghề kế toán…
Về thi văn cũng lời bộn, nhờ tạo được trong thực cảnh những bài sống động chớ không phải ca tụng trăng thanh gió mát, xuân mãng đông về.
Cũng nhờ cuộc đổi đời mà tôi thoát được ách tục; thoát đây không phải chết hẳng mà chết đời sống Đạo. Cái con gió chướng làm chìm biết bao thuyền bè, ngã biết bao cổ thụ, nhưng cây của tôi rạp xuống rồi ngóc dậy tự nhiên, nên tôi xin kết luận hai mươi năm xuất sải bằng bài thơ dưới đây:
ĐỔI ĐỜI
Đổi đời gẩm lại cũng hay hay,
Các giới phong lưu thảy xụ mày.
Cán chính suy thời đi quét lộ,
Công nông đắc thế ngự cao ngai.
Thuở nào bơ sửa phì da bụng,
Nay tạm muối dưa xếp dạ dày.
Tuyết bủa hoa rơi, tùng sựng sửng,
Vàng cao chịu lữa sắc nào phai.
Về được với Đạo, tôi mừng cho phận mình quá lẻ, nhưng ngó ngoái lại Đô Thành còn bao bạn thân cũng đồng chí hướng như mình, nhưng hoàn cảnh không cho phép. Tôi chực nhớ đến hai câu thi của Tôn Thọ Tường mà tỏ tình thương các bạn:
Ngảnh lại lầu xanh thương những kẻ,
Trầm luân chưa thoát nợ hồng nhan.
…………………………………….
Viết tại Tòa Thánh ngày 26-5-Canh Thân
(08-07-1980)
Sĩ Tải Bùi Văn Tiếp
* * * * *
PHỤ BẢNG
Sau khi đọc xong “Hai mươi năm xuất sãi” thi sĩ Huệ Phong có cảm đề 1 bài như sau:
Xuất sải Quang Minh nhị thập niên,
Lò cừ nung thủ bực hi hiền.
Giồng đời ghé mắt trò cay nghiệt,
Bến giác về nguồn, nếp sống yên.
Có nghĩa có tình bằng Đạo đức,
Không danh không lợi ví Thần Tiên.
Bao cơn thử thách mừng qua khỏi,
Gội phước Hư Linh sạch nổi phiền.
10-7-Canh Thân
Huệ Phong
Rất phấn khởi cho tôi khi nhận được bài thi của bạn Tử Trước cùng vài lời khen tặng.
Bạn Tử Trước viết:
May mắn được bạn Quang Minh cho xem bản thảo “Hai Mươi năm xuất sãi” cảm động Tử Trước xin có ít vần thơ:
Biển trần kỳ ảo vịnh cùng doi,
Khách tục nhìn mây khéo định mòi.
Cửa Đạo rèn trui ba tánh đức,
Trường đời song lướt một thân côi.
Sông mê cuốn cuốn phàm tâm đắm,
Bến giác minh minh thánh chất roi.
Hạc lại tùng xưa vui lúc xế,
Chơn Như rạng rỡ đáng ngàn thoi.
Tử Trước
Tiếp được ngày 10-1-Nhâm Tuất (1982)
