B- PHẦN TỪ NGỮ

 

 

1-ÂM DƯƠNG

2-BÁC-ÁI

3-BÁT ÂM

4-CAO-ĐÀI

5-CÀN KHÔN 

6-ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ

 

7- CẦU NGUYỆN 求 願
8- CỬU-TRÙNG-ĐÀI 九 重 臺
9- CHUNG ĐỈNH 鍾 鼎
10- ĐẠI-ĐỒNG 大 同
11- ĐẠO TÂM 道 心
12- LONG TU PHIẾN 龍 鬚 扇
 

 

1- ÂM DƯƠNG

           E: Yin and Yang

           F: Yin et Yang

Giải thích chữ Âm Dương bằng chiết tự.

- Chữ ÂM bên trái có bộ Phụ là núi đất; bên phải phía trên là chữ Kim có hình như cái nóc nhà, bên dưới chữ Vân ý nói bị che khuất nên tối tăm. Do đó Âm là chỉ phía mặt trời bị che khuất. Bởi, phía có mặt trời chiếu vào thì sáng sủa ấm áp, cây cối phát triển; còn phía ánh sáng mặt trời bị che khuất thì tối tăm, lạnh lẽo, cây cối không phát triển.

- Chữ DƯƠNG gồm 2 phần: Bên trái là là bộ Phụ là núi đất, bên phải có chữ Nhựt là mặt trời đứng trên đường ngang, ý nói mặt trời đã mọc lên khỏi đường chơn trời, bên dưới là chữ Vật vẽ hình giống các tia sáng rọi xuống. Do đó, chữ Dương có nghĩa là phía có ánh sáng mặt trời chiếu vào, nên sáng sủa.

            Như thế nghĩa của Âm Dương lúc khởi đầu của nó là sự Tối Sáng; suy ra các nghĩa khác là hai cái tương phản nhau mà có cùng nguồn gốc như: lạnh - nóng, đêm - ngày, nữ - nam, ác - thiện, xấu  - tốt, đục - trong... Và hai Khí do Thái Cực biến hóa sanh ra cũng được gọi là hai Khí Âm Dương, vì hai  Khí  nầy  có  đặc  tính trái ngược nhau mà

không tương hại. Tương khắc mà tương hòa, tương sanh mà tương diệt là vậy. 

       Tại sao gọi Âm Dương mà không gọi Dương Âm? Bởi Dương có tính phát tán, còn Âm thì tụ hội, cho nên Âm luôn bao bọc Dương, cũng như một trái cây: phần mềm là Âm, còn hột cứng nằm bên trong là dương, là hột giống để gieo trồng lại cho lần sau. Cũng như nói “vợ chồng” chứ không nói chồng vợ. Trong gia đình được hạnh phúc hay không là do bàn tay người vợ hiền. Nếu trái lại thì hạnh phúc bị đe dọa. Người đàn bà là cái nôi ấm áp cho một gia đình hạnh phúc. Thế nên, khi người con trai lớn lên đến tuổi trưởng thành thì có vợ, vợ là người để bảo vệ cái gia sản tinh thần cũng như vật chất cho người chồng, làm quân bình cho cuộc sống.

1-Đạo là Dịch: Không một ai phủ nhận, nhưng khi vào nghệ thuật như Âm nhạc Việt-Nam, hay nói chung là Nhạc Dân tộc cổ truyền thì không thể thiếu tinh-thần Dịch lý để điều-hoà từ Âm thanh đến tiết tấu. Càng không thể không biết Dịch, khi Thánh-nhân chế tác các loại đờn đã áp dụng Dịch-học vào nghệ thuật một cách sâu sắc. Xưa Vua Phục-Hi là một nhà thông minh huệ trí, ngẩng lên thì ngắm Thiên-văn, cúi xuống thì xét lý Âm Dương, chẵn lẻ, vì cớ đó mới vạch thành nét: Một nét liền tượng Dương  một nét đứt tượng Âm  (Đây cũng là do theo lý tính của người mà phân biệt Âm Dương, Nam Nữ. Chỉ một Âm, một Dương làm đầu mối cho muôn ngàn sự vật trong cõi đời này. Cả thế-giới hữu hình lẫn vô hình, chính hai ngôi này làm khởi thuỷ, như cha và mẹ trong gia đình; vạn-vật là đực cái, trống mái. Người dân-tộc Campuchia hay Chàm họ cũng biết đến hai ngôi này, họ cũng lấy vật Tổ để thờ gọi là “Linga” tức là hình ảnh “chày đặt lên cối” cũng là hình ảnh Âm Dương, nhưng suy-nghĩ của họ còn nằm trong thời ấu-trĩ, tức là còn bán khai, chưa tiến-hoá. Dịch-học gọi đây là Lưỡng-nghi (Lưỡng nghi tức là hai ngôi Âm Dương), cũng gọi là Kiền Khôn. Hai ngôi tác động lên nhau thì có biến-hoá. Sự biến-hoá ấy giống như một tế-bào cứ tăng gấp đôi lên: một sinh hai, hai sinh bốn, bốn sinh tám. Khoa toán học gọi là theo luật song tiến-số. Dịch-học gọi là Lưỡng-nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát Quái, Bát-Quái biến hoá vô cùng mới thành ra Kiền Khôn thế giái.

2-Thành lập nên quẻ KIỀN  KHÔN   

Biến-hoá lần này là qua hai giai-đoạn: thêm âm, thêm dương lên ngôi Dương thành ra hai nét dương  gọi là Thái-dương số 1, lấy Dương làm gốc, cho một âm đặt lên dương nữa sẽ có dạng là  gọi Thiếu-âm số 2.

Bấy giờ đến ngôi Âm biến-hoá cũng như trên, lấy âm làm gốc,thêm dương lên sẽ có một dương một âm  gọi là Thiếu-Dương số 3, nếu tiếp-tục thêm âm sẽ có hai âm   gọi là Thái Âm số 4. Lưỡng-nghi sanh Tứ-tượng là lần biến-hoá ở giai đoạn này, tức nhiên hai nghi sinh được 4 tượng là Thái dương số 1, Thiếu-âm số 2, Thiếu dương số 3, Thái-âm số 4.

Gọi là tượng, tức là tượng hình, mỗi tượng chỉ có hai vạch thôi.Vạn-vật biến-hoá không ngừng, thế nên Tứ tượng cũng biến-hoá theo qui-tắc như trên.(Lưu ý là Âm Dương luôn đi liền nhau, chứ không bao giờ hai Âm hay hai Dương kề nhau) Tức nhiên lần này Tứ tượng biến Bát Quái, gốc Tứ-tượng vẫn đặt ở dưới, Ví như:

1-Thái-Dương qua hai lần thêm dương, thêm âm lên trên thành ra lần đầu có 3 nét dương tạo thành quẻ KIỀN  Kiền vi Thiên (Kiền là trời) là quẻ số 1.

Lần sau thêm lên nét âm thành quẻ ĐOÀI    tức là có một Âm trên hai Dương. Đoài vi Trạch số 2. Trạch là hồ, đầm, ao…

2-Thiếu-Âm cũng qua hai lần thêm dương, thêm âm thành ra quẻ LY   Số 3, Ly vi hoả (ly là lửa), tiếp theo là quẻ Chấn vi Lôi số 4, CHẤN   là sấm.

3-Thiếu-Dương cũng qua hai lần biến sẽ có quẻ số 5 là TỐN  Tốn vi phong (Tốn là gió). Quẻ số 6 là  Khảm vi thuỷ, KHẢM  (Thuỷ là nước).

4-Thái-Âm qua hai lần biến-hoá như trên, sẽ cho ra hai quẻ là CẤN  số 7 và KHÔN   số 8

Bấy giờ tất cả được hoàn thành ra Bát Quái là  Kiền, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.

Đây là bảng tóm tắt về Bát Quái:

Đặc tính của Dịch là Âm Dương luôn đi liền nhau, không bao giờ có trường hợp hai Âm hoặc hai Dương đi cạnh nhau. Nhất là Thiếu Âm là gốc của Dương nghi, thì hào Âm phải ở trên dương, vì Thiếu âm là Âm trẻ, tức là âm mới sinh, tương tự thiếu Dương  cũng vậy.

 

 

 

 

 

Vì sao phải học DỊCH?

- Vì Càn Khôn là hai cánh cửa để đi vào Đạo Dịch. Kinh Cao-Đài ngày nay luôn hiển hiện hai chữ CÀN KHÔN. Lại nữa những phương pháp chế tác Nhạc cũng như tạo ra các Nhạc khí, nhạc cụ đều dùng đến cách án Tam tài, Bát phương, Bát hướng…đâu đâu cũng hiển hiện tinh thần Dịch-lý trong đó. Dịch là trọng yếu của môn Âm

Nhạc Cổ truyền Việt-Nam đó vậy..

Đạo Cao-Đài là thể hiện của Dịch, từ nghi thức cúng kính thờ phượng, kinh kệ, đến cả lối kiến trúc Đền Điện, nhất là Đền Thánh là ẩn tàng một sự biến hóa vô cùng của Dịch. Là biểu hiện một “Kim-Tự-tháp” tức là dạng thức cái tháp hình chữ KIM . Dịch là Đạo vậy.

            Nhất là Đông-y đã hiển hiện tinh thần Dịch lý một cách sâu sắc.Chuyện đơn giản như việc gói thuốc Bắc chẳng hạn: phải dùng giấy vuông, bốn cạnh, là Tứ tượng. Xếp theo đường chéo thành Tam Tài, bật một chéo nữa vào, ấy Lưỡng nghi; cho hai chéo còn lại vào giữa, là trở về Thái cực. Bấy giờ cột dây ràng qua bốn cạnh và cái gút dây nằm chính giữa gói thuốc là Ngũ hành.

         Thế nên Ông Nguyễn Đình Chiểu có viết rằng:

“Đạo Y nửa ở Dịch Kinh,

“Chưa thông lý Dịch sao rành chước Y ?”

  Tính chất của Âm Dương:

Một Âm một Dương mà sinh sinh hóa hóa nên mới nói rằng “sinh sinh chi vị Dịch” 生生之謂易.  Tức là sự sinh hóa của trời đất khởi đầu do cái Âm Dương Nguyên-Thuỷ làm nền tảng, làm gốc cho sự sinh, thì Kiền Khôn tức là cửa khép mở để vào toà lâu đài Dịch vậy.

            Kiền là quẻ ba vạch liền   (tượng bằng số1)

           Khôn là quẻ ba vạch đứt   (tượng bằng số 0)

- Dương thì động, cứng rắn, phát tán.

- Âm tính thuận, co rút, âm-thầm.

           Lý Âm Dương vô-cùng-tận vậy, nhưng chỉ có Hòa thì mới Bình gọi là Hòa-Bình. Hòa phải hiệp nên gọi là Hòa-Hiệp đó là cơ đắc Đạo vậy.

            Nguyên-lý: Trời đất có Âm Dương, vạn-vật có thể phách, nhơn loại có xác hồn; sự sống của vạn-loại trong Càn Khôn thế giới chỉ nhờ có vật-chất và tinh-thần tương hiệp mới thành hình. Xác phải phù-hợp với hồn, cũng như vật chất phải phù-hợp với tinh-thần trở lại vô-vi, vô-vi cùng hữu-hình phải tương-đắc ...

           Ngôi Âm và ngôi Dương ấy gọi là Lưỡng-nghi (tức là hai ngôi).“Lưỡng-nghi là cơ Âm Dương phối-hợp thì bất cứ vật chi chi trong trời đất này cũng đều do Âm Dương mà sản-xuất, cũng gọi là Lý Nhị nguyên đó vậy.

           Âm với Dương vốn là cơ động tĩnh, mâu-thuẫn nhau, tương-khắc mà lại tương-hòa. Hai cái lý đối-nghịch nhau để hỗ-trợ lẫn nhau chớ không phải để tiêu-diệt nhau.

           Trời có sáng tối; Người có Nam, Nữ; Vật có cứng mềm; đất có nắng mưa; vạn loại có trống mái; cho chí đến loài cây cỏ mới nẩy chồi thì ra hai lá đầu tiên, ấy là hình tượng của Âm Dương đó (gọi là song tử diệp).

            Âm Dương vốn là cơ sản-xuất, nhưng trong Dương có Âm và trong Âm có Dương. Nho-gia gọi là “Vạn-vật phụ âm nhi bảo dương, trung chí dĩ nhi Hoà”萬物負陰而

陽中至以而和 (Tất nhiên vạn-vật ôm-ấp Âm Dương, đến mực trung thì gọi là hòa)

           Khi nói đến TRUNG tức nhiên là nói đến CHÁNH, hai chữ trung-chánh này nắm cả then chốt của Đạo Dịch:

  - Dịch khiến cho thiên-hạ không trung trở về chỗ trung.

  - Dịch khiến cho thiên-hạ không chánh trở về chỗ chánh.

           Trung Chánh mà lập lại đặng rồi thì cuộc biến-hóa của vạn-vật được thông vậy.

 

 

 

2- BÁC-ÁI

        Bác thuộc về bộ thập và chữ chuyên là chở đi rộng khắp. Ái là yêu thương, bộ tâm đặt ở giữa của chữ, chứng tỏ rằng tình thương sâu kín trong lòng, chứ không phải là thứ tình hời hợt. Tình yêu thương này xuất phát từ trong trái tim con người. Bác ái là tình thương lớn rộng,là con đường trở về đã vạch sẵn trong nguơn hội này:

                   “Bác-ái là đề thi tiến-hóa,

                  “Nghĩa-nhân  ấy định phép duy tân.”

          Đức Phật Quan-Âm Bồ-Tát dạy về  “đề tài Bác-aí”: 

“Các em có hiểu vì sao mà phải khai rộng cho đến lòng BÁC-ÁI chăng? -Vì vạn-vật do Đức Từ-bi mà sanh hóa trong cả thế gian, vậy vạn-vật đồng nhứt thể. Tánh háo sanh của Đức Từ-bi cũng nhân đó mà vô biên vô giới, còn chúng ta lại là một loài trong vạn-vật, thì chúng ta cũng ở trong luật hóa sanh ấy. Vì vậy mà hễ giết một mạng sống thì đau lòng Đức Từ-bi, mà hễ đau lòng Đức Từ-bi thì Thiên sầu địa thảm. Các em thử nghĩ người tục có dám phạm đến  oai Trời chăng ? Cứ do đó thì ta đã rõ rằng: Ta phải mở lòng Bác ái, thương xuống đến các vật yếu hèn.

              - Một là tránh khỏi sa vào Luật quả báo, vì Luật Thiên-điều chẳng hề vị ai. Tuy mắt thịt không bao giờ thấy được, chớ kỳ thiệt một mảy lành dữ không qua được. Các em có lẽ hiểu câu “Thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu”. Ấy là một lẽ;

           - Còn  một lẽ nữa là người sanh trong cõi trần, Đức Đại-Từ-bi ban cho một tánh tối linh hơn vạn vật; là có ý để thay thế cho Người mà  dìu-dắt loài yếu hèn hơn.

           Các em thử xét, nếu cha phàm mà rủi có một đứa con bất hiếu, thì có phiền không ? Còn Đức Đại-Từ-bi rủi có đứa con không lòng Bác-ái thì thế nào? Mà người có nên trái lòng Trời là Đức Đại-Từ-Phụ chăng?” (TN II /86)

            Dịch nói “Chúng dĩ quả vi chủ” 眾以寡為主 nghĩa

là trong số đông thì lấy phần ít làm chủ. Hãy nhìn lại Tượng Ngũ Chi thờ trên Thiên Bàn, có 8 hình tượng của các Đấng Giáo chủ, duy chỉ một Đức Quan-Âm là Nữ, tức là Nữ Phật Tông. Trong nguơn hội Cao Đài, Ngài thay mặt Phật giáo, là Nhị Trấn Oai Nghiêm, tượng đức BI, là một trong ba đức BI- TRÍ- DŨNG. Tức nhiên nhân sanh nhìn vào đó để lãnh hội ba đức cao thượng ấy, là Tinh-Khí-Thần hiệp nhứt. Duy có đức Bi chính là tinh thần BÁC-ÁI rất là trọng hệ. Tinh thần Bác-ái phải được làm CHỦ trong ngươn hội này như lời Thầy dạy: là Đề thi tiến hóa.  

Vì sao ? – Vì nhân loại ngày nay cái TRÍ quá mực thường rồi. Chính cái tài trí đó của những nhà Bác học, Nguyên tử học chế ra không biết bao thứ để giết người hằng loạt trong một nháy mắt thôi.

- Về DŨNG thì càng nguy hiểm hơn, giả sử như bao vấn đề khủng bố, ôm bom tự sát để giết người hằng loạt thì họ cũng có thừa cái Dũng rồi.

- Duy thiếu đức TỪ BI - BÁC ÁI mà thôi. Nếu họ có bác ái thì họ biết quí mạng sanh của chính mình, không hủy hoại một cách vô lối và cũng không bao giờ hủy mạng sống của người khác. Người có lòng Bác ái thì cũng không sát hại sanh vật mà làm thức ăn cho rằng béo bổ…Chính vì lòng BÁC-ÁI KHÔ CẠN, Thầy mới đến ban cho nền Đại-Đạo hầu thức tỉnh nhân loại hãy biết dừng lại con đường tranh đấu là cơ tự diệt.

Sát sanh nhiều cũng là cơ tự diệt, vì động vật ngày nay mang nhiều mầm bệnh làm chết người.

Hãy biết giữ Ngũ giới cấm nhất là “Tam bất Tà dâm" để khỏi vương mang vào người một thứ bịnh hiểm nghèo mà chưa có thuốc nào diệt được thứ siêu vi trùng ấy

            Có bao giờ chúng ta nghĩ rằng tại sao các loại gia cầm, gia súc, động vật hoang dã…cho đến loài thủy sản, san hô… rất nhiều, rất nhiều thứ chết hàng loạt, hàng loạt mà lịch sử nhân loại chưa bao giờ có không.? Nay là cơ Đại-Ân-Xá của Chí-Tôn, chúng được phóng thích ra khỏi vòng chết chóc dưới lưỡi dao oan nghiệt của con người: nào cắt cổ, nhổ lông, nào giết chóc đủ cách để phục vụ cho miếng ăn, phải qua giai đoạn bầm xắc, nấu nướng rồi một phen vào bụng con người: là vào “Nhứt Tỳ” ở đó, ấy là nghĩa địa chôn xác thú vật; chịu cho đến khi con người thật sự ra “Nhị Tỳ”là nghĩa địa của con người, thì nó mới được thoát vòng oan trái. Nay chính vì dịch bịnh nên người phải quăng tất cả các súc vật bịnh vào lửa thiêu xác thì nó mới hóa kiếp mau mà thôi.

            Vì sự khủng hoảng bởi khí hậu toàn cầu ấm lên mà làm cho băng Bắc cực tan nhanh khiến lũ lụt, ngập tràn xuống miền lục địa gây chết chóc, mất nhà cửa, của cải, nghèo khổ… Thế giới bây giờ thấy rõ nạn nuôi súc vật lấy thịt là một sự thiệt hại lớn, tốn kém nhiều, gây ô nhiễm môi trường nặng-nề, đang báo động và sau cùng kêu gọi “ĂN CHAY TRƯỜNG”. Sự kiện này lạ thường cũng như hai quả bom nguyên tử rơi xuống Nhật bản vậy.Nhưng đối với Tôn giáo nó là một việc thường, là cơm ăn nước uống thường ngày mà thôi.Tuy nhiên dù  trễ nhưng chưa muộn.

Hỏi vậy Đạo Cao-Đài có bắt buộc ĂN CHAY TRƯỜNG không ? –Trên nguyên tắc thì không. Vì Tân luật được ban hành trong thời Đạo mới khai nên Luật không buộc mà Tân luật chỉ qui định:   

 TÂN LUẬT -Chương II:  Người giữ Đạo

- Ðiều Thứ Mười Hai: Nhập môn rồi gọi là tín đồ. Trong hàng tín đồ có hai bực: - Một bực còn ở thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc phải giữ trai kỳ họăc 6 họăc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ Giái Cấm và phải tuân theo Thế Luật của Ðại Ðạo truyền bá. Bực này gọi là người giữ Ðạo mà thôi; vào phẩm Hạ thừa. - Một bực đã giữ trường trai, giái sát và Tứ đại điều qui, gọi là vào phẩm Thượng thừa.

- Ðiều Thứ Mười Ba: Trong hàng Hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ mười ngày sắp lên, được thọ truyền bửu pháp, vào Tịnh thất có người chỉ luyện Ðạo.

- Ðiều Thứ Mười Bốn:  Chức Sắc cai trị trong đạo từ bực Giáo Hữu sắp lên, phải chọn trong bực người Thượng thừa mà thôi”.

Luật Hòa ước trên Tượng Tam Thánh

buộc trường trai

            - Trên tay Đức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cầm bút lông  (lông thỏ hoặc lông mèo là tượng thú, bốn chân) chỉ loài hạ thú..

            - Trên tay của Đức Victor-Hugo cầm bút lông chim (tượng loài thượng cầm).

            Chính đây gọi là Thiên Nhân Hòa ước, tức là loài người ký hứa với Đức Thượng Đế phải BÁC ÁI và CÔNG BẰNG với tất cả. Qua lời Kinh Sám hối rằng:

Thượng cầm, hạ thú lao xao,

Côn trùng, thảo mộc loài nào cũng linh.

Nó cũng muốn như mình đặng sống,

Nỡ lòng nào tuyệt giống dứt loài,

Bền công Kinh sách xem coi,

Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan.

 

 

 

3- BÁT ÂM

Bát âm là tám thứ tiếng về Nhạc:

Bát là tám. Âm là âm thanh. Bát âm gồm có:

1-Biều là quả bầu, xưa dùng trái bầu để thật chín, khô vỏ, lấy hết ruột ra (tiếng sên)

2- Thổ là đất (tiếng trống đất)

3- Cách là da của con trâu lấy ra phơi khô, căng thẳng ra dùng bịt trống (tiếng trống da)

4- Mộc là cây gỗ (tiếng mõ gõ)

5- Thạch là đá (tiếng đá)

6- Kim là kim loại (tiếng chuông đồn)

7- Ty là sợi tơ  (tiếng dây đàn).

8- Trúc là tre hoặc trúc (tiếng ống sáo tre)

Nhạc khí của dân tộc Việt-Nam dùng đến bát Âm này, mà Đạo Cao-Đài chỉ sử dụng Bát âm này mà thôi.

Đức Hộ-Pháp nói: “Bởi cớ nên dùng đến những vật Bát âm, nó đã chết đi rồi như cái trống chẳng hạn, tấm da trâu ấy đã chết, mà với sự khôn ngoan loài người mà nó có tiếng kêu được tức là làm cho nó sống lại được, nghĩa là Bát Hồn ấy vận chuyển sống lại mà đảnh lễ Đức Chí Tôn, vì cớ nên khi nghe NHẠC TẤU QUÂN THIÊN là có âm thinh sắc tướng, song hiểu xác ý: khi dâng lễ Chí-Tôn qui pháp định, thấy và nghe cả Bát Hồn vận-chuyển dâng cái sống cho Ngài".

           Thế nên, trong các thời Đại-đàn dâng lễ Đức Chí Tôn có Đờn bảy bài, do Thánh-giáo Đức Chí-Tôn dạy về ý-nghĩa của bảy bài đàn ấy, bởi trong các bài đàn này là thể hiện đủ tám món nhạc khí của dân-tộc Việt-Nam. Chỉ duy hiến lễ cho Chí-Tôn  Ngọc-Hoàng Thượng-Đế mới có bảy bài ấy mà thôi:         

    1- Xàng xê là khi trời đất mới sơ khai, chưa phân thanh trược, thuở còn hỗn độn.

    2- Ngũ Đối thượng hay là  bài thượng, là khí thanh bay lên làm trời.

    3- Ngũ đối hạ hay là bài hạ, là lúc khí trược lắng xuống thành đất .

    4- Long đăng là mặt nhựt chiếu sáng, sức nóng làm cho nước bốc lên thành mây. 

    5- Long ngâm là lúc mây gặp khí lạnh nên tụ lại thành mưa, từ trên trời rơi xuống.

    6-Vạn giá là muôn vật đã định rồi, ấy là lúc nước hợp với đất biến sanh, khiến sản-sanh ra vạn-vật, gọi chung là chúng-sanh.     

    7-Tiểu khúc là những vật nhỏ-nhít đều có định luật của nó, khi đất biến ra ngũ-hành sanh ra kim-thạch, thảo mộc, thú cầm đến loài người …

 

 

 

4- CAO-ĐÀI

CAO (10 nét) là trái lại với thấp. Đài (12 nét) là cái đài, xưa nuốn cầu chư Tiên thường cất một cái Đài cao bằng tranh lá, rồi lên đó thỉnh cầu cho được thanh khiết, yên tịnh, còn gọi là Thảo đài.

Cao-Đài là Tòa ngự của Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng

Thượng Đế đến để dạy Đạo nơi Nam phương, tức là miền

Nam của Việt-Nam này làm khởi điểm. Lấy danh của Đức CAO-ĐÀI gọi nơi Tòa ngự của Ngài là Cao-Đài.

Xét về số thì chữ CAO (10 nét) ứng với Thập Thiên Can. Đài (12 nét) ứng với Thập Nhị Địa chi. Như vậy chỉ riêng hai chữ Cao-Đài đã nói lên quyền năng tối thượng của Đấng Thượng Đế đến trong nguơn hội này.

Kinh Phật-Mẫu có câu:

Thập Thiên Can bao hàm vạn tượng,

Tùng Địa Chi hóa trưởng Càn khôn.

Tại sao gọi là CAO-ĐÀI ?

           Có nhiều Hội-giáo đã lập thành có trót trăm năm trước khi mở Đạo đặng dạy lần cho Vạn-quốc rõ thấu

chánh-truyền.

            “Ngày nay Thầy mới đến lập một cái CAO-ĐÀI

nghĩa là Đền thờ cao trọng hay là Đức-tin lớn tại thế này (La haute Église ou plus grande foi du Monde) làm nên nền Đạo; lại mượn một sắc dân hèn-hạ nhỏ-nhít của hướng Á-Đông là An-nam ta, đặng cho trọn lời tiên tri “Đạo xuất ư Đông” và cho trúng Thánh-ý chìu lụy hạ mình của Thầy lập thành Hội-Thánh, làm hình thể Thiêng-liêng của Thầy hầu cầm cho đặng dùi trống Lôi Âm giục giọng truy hồn, nắm cho chặt chày chuông Bạch Ngọc đặng trổi hơi định-tánh làm cho cả con cái của Thầy thức tỉnh, nhìn Thầy mà trở về quê cũ” (PCT)

Chúng sanh niệm danh Ngài là “Nam-mô Cao-Ðài Tiên Ông Ðại Bồ-Tát Ma Ha-Tát” (12 chữ). Danh niệm này là qui cả ba Tôn giáo: Nho- Thích- Đạo gọi là Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

Cao-Đài là tượng-trưng Nho-giáo,

- Tiên-Ông tượng trưng Lão-giáo hay Tiên-giáo.

        - Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát tượng trưng Phật-giáo.
          Như vậy Vị Giáo-chủ vô-vi của nền Đại-Đạo là Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát, danh hiệu ấy cũng gọi là “câu chú của Thầy” ám chỉ rằng: Giáo lý Đại Đạo là “Qui nguyên Tam Giáo phục nhứt Ngũ Chi.”

Câu chú của Thầy có 12 chữ là gồm cả Tam-giáo.

Số 12 là số riêng của Thầy, theo lời Thầy giảng:

“Thập nhị khai Thiên là Thầy, Chúa cả Càn khôn thế-giới, nắm trọn thập nhị Thời Thần vào tay. Số mười hai là số riêng của Thầy”  (TNI/12)

Ngày nay Ðức Chí-Tôn dùng Câu Chú nầy có mục đích Qui Tam giáo Phục Ngũ Chi, tức là đem Tam-giáo Phật- Lão- Nho về một gốc, Ngài là Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế làm Giáo-chủ.

Trong bài cơ, đề ngày 5 tháng 8 Bính-Dần (Samedi 11 Septembre 1926) Thầy có giải-thích về ý nghĩa danh niệm ấy như sau:

“Các con nghe: Các con coi bậc Chí-Tôn như Thầy mà hạ mình độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên-Ông và Bồ-Tát, hai phẩm chót của Tiên, Phật. Ðáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối cao tối trọng; còn Thầy thì khiêm nhường là thế nào? Vì vậy mà nhiều kẻ Môn-đệ cho Thầy là nhỏ. Cười...

Hạnh khiêm-nhường là hạnh của mỗi đứa con, phải noi theo gương Thầy mới độ rỗi thiên hạ đặng. Các con phải khiêm nhường sao cho bằng Thầy. Thầy lại nói, buổi lập Thánh-Ðạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội lỗi đâu đến nhọc công Thầy.

Ấy vậy các con rán độ kẻ tội lỗi, là công lớn làm cho Thầy vui lòng hơn hết”.

Niệm danh Thầy để được giải thoát…

Đức Hộ-Pháp giải trong Con đường Thiêng-liêng hằng sống có nói: “Hỏi thử tội tình của chúng ta đã làm trong kiếp sanh, Đức Chí-Tôn để trong phương-pháp nói rằng Tội tình các con đầy dẫy nơi mặt địa cầu này mà đến giờ chót, các con biết kêu danh Thầy thì Thầy đến cứu, Thầy đem bí-pháp giải thoát để trong tay các con đặng các con đoạt chơn pháp giải thoát đó vậy. Kêu danh Thầy là “Nam-Mô Cao-Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma-Ha-Tát”.

Hôm nay Thầy đã đến với dân tộc Việt-Nam trước nhứt, có lời xác nhận rằng:

CAO-ĐÀI tá thế đến phàm gian.

Bạch-Ngọc, Huỳnh-Kim cũng chẳng màng.

Chìu luỵ đòi phen xem quá tục,

Nghĩ không đổ luỵ phải cười khan.

 

Cười khan  mà khóc bởi thương bây,

Chẳng mất một con nghiệt cả bầy.

Biết phận già không chờ chống gậy,

Nương theo con dại mới ra vầy.

 

 

 

                  5- CÀN KHÔN  

          Càn Khôn còn đọc là Kiền Khôn. (Càn là trời, Khôn là đất). Ấy là trời cha đất mẹ cũng cùng nghĩa. Đây là hai quẻ đầu của Kinh Dịch nằm trong Thượng Kinh, tức nhiên toàn bộ Dịch có 64 quẻ kép, chia làm hai thiên: Thượng Kinh gồm 30 quẻ, Hạ kinh  34 quẻ.

Chữ Kiền chia làm hai phần, chứng tỏ Âm Dương có đủ trong mỗi vật thể, dù vật tế vi thế nào cũng vậy. Bên

trái có hai chữ thập (mười) đặt trên và dưới chữ nhựt (ngày, tượng không gian). Bên phải là chữ Khí , viết đủ nét sẽ là . Như vậy Đạo Cao-Đài cũng đồng quan niệm như các Thánh Hiền xưa rằng, có Thiên đàng, địa ngục; tức nhiên chữ Thập trên là “Thập phương chư Phật”, chữ Thập dưới là “Thập Điện Diêm cung” Ở giữa là chữ Nhựt là không gian, là địa cầu mà chúng ta đang sống. Chữ  khí là Khí sanh quang tức là sự sống, cũng nghĩa là Đạo. Vậy thì nơi nào có khí sanh quang tức nhiên có sự sống của Thượng đế đến, nơi nào khiếm khí thì chịu tối tăm. Những hồn tội phải chịu cảnh âm-u như vậy mới gọi đó là địa ngục. Nay là buổi Đạo Trời khai mở, định cho quyền hành của Giáo Tông như sau:

PHÁP CHÁNH TRUYỀN: “Nó đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, Lục Thập Thất Ðịa Cầu và Thập Ðiện Diêm Cung, đặng cầu rỗi cho các con”.

KHÔN là đất gồm có bộ Thổ (là đất) và chữ

thân (là trải dài) vậy có nghĩa là toàn cả mặt địa cầu này đất và đất, nên gọi là quả đất.

Hai quẻ Càn Khôn biến tướng qua nhiều hình thức:

1-Hai quẻ Âm Dương này tạo thành một hình:

Với 3 nét của quẻ Càn ta xếp các cạnh liền nhau sẽ thành một hình tam-giác đều, đỉnh quay lên, còn lại với 3 nét đứt của quẻ Khôn nếu đặt liền nhau cũng sẽ tạo thành một tam-giác đều có 3 cạnh bằng nhau và 3 góc

 

 


bằng nhau; đặt chồng lên tam-giác kia, đỉnh quay xuống dưới. Như vậy ta có được hình ngôi sao sáu cánh. Cả hai tam-giác này đều nội-tiếp trong vòng tròn. Tâm 0 của vòng tròn chính là tâm của tam giác là nơi hiệp các giao điểm của ba đường phân-giác, cũng là trung-đoạn hay trung tuyến của các tam giác trên. Đây chính là ngã ba chờ Thầy (Thượng Đế) tức là Trung với Đạo, Hiếu với Chí-Tôn và Phật Mẫu.

           Chữ Trung   chính giữa, nhưng nếu người tu

hành biết đặt cái tâm vào nơi ấy thì thành ra là sự trung hiếu, trung thực, trung thành

Từ một quẻ Càn hay quẻ một quẻ Khôn đã làm nên một tam-giác đều, ấy là một sanh ba, mà ba cũng là một, đó cũng là lý: Một sanh ba, ba sanh vạn-vật, thuộc về cơ quan chưởng-quản. Rồi đến hai hình tam giác gát chồng lên nhau là chỉ Âm Dương hiệp nhứt.

Quyền Chí-linh đối phẩm với quyền Vạn linh. Chí linh là cơ qui nhứt, Vạn-linh là cơ tấn hóa; nên Chí linh đầu nhọn quay lên, mà Vạn-linh đầu nhọn quay về phía dưới. Chí-linh và Vạn-linh vốn đồng quyền nhau. Bấy giờ vòng tròn chính là Càn Khôn vũ trụ, tâm 0 là chỉ một quyền-uy tối thượng là Đức Thượng đế Chưởng-quản

      Thế nên, Đức Hộ-Pháp là Giáo Chủ về hữu hình, vì Ngài nắm cả hai Đài Hiệp-Thiên và Cửu Trùng đó vậy.

2- Hai quẻ Càn Khôn tạo thành  chữ Thập

3-Hai quẻ Càn Khôn tạo thành chữ điền.

4-Hai quẻ Càn Khôn tạo thành  chữ Trung

 

 

6- ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ

      “Đức Chí-Tôn mở Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ Độ tức là Đạo Cao-Đài đặng mở một kỷ-nguyên mới, Qui Tam-giáo hiệp Ngũ Chi, lập thành một nền Tôn-giáo Đại-Đồng cho hiệp với trình-độ tiến-hóa của nhơn-loại và của quả địa cầu 68 của chúng ta, dọn đường cho Đức Di-Lạc ra đời”.

           “Vì muốn độ 92 ức nguyên-nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa-đọa cõi hồng-trần. Ngày nay Đức Chí-Tôn mở Đạo không giáng trần bằng xác thân mà  chỉ  giáng  bằng

huyền-diệu Cơ-bút  mới qui đặng cả Đại-Đồng Thế-giới”.  

            Khi Đức Hộ-Pháp còn sanh tiền Ngài có làm một huy-hiệu hình ngôi sao như thế này, sơn nền vàng, giữa có ảnh bán diện của Đức Ngài, đầu đội mão trắng, mắt hướng về phiá hữu (nhìn đối diện), giữa ngôi sao là ba sọc đỏ. Đặc biệt là mỗi cánh sao có mang một chữ của danh-hiệu:

Ý-nghĩa:

Qua hình ảnh trên cho ta một nhận-xét về lý Dịch trong danh-hiệu này:

-   Các chữ xếp theo chiều nghịch với kim đồng-hồ; sự nghịch chuyển  như vậy tức nhiên là trở về nguồn; chỉ con đường Đạo phải phản bổn huờn nguyên.

-  


Hai con số 3 của chữ “Đại” và chữ “Tam” xác định lý tam Âm, tam Dương của hai hình Tam giác gát chồng lên nhau thành ngôi sao sáu cánh.  Mỗi một hình Tam-giác nói lên ý-nghĩa một sanh ba, ba sanh vạn-vật, tức nhiên: 

 

- Chữ Đại (3 nét) đặt ở cánh bên mặt B’)

- Chữ Đạo (12 nét) đặt ở đỉnh, tức là đi nghịch chiều

kim đồng-hồ (A)

- Chữ Tam (3 nét)  đặt ở cánh trái, tức là đối xứng nhau qua chữ Đạo ở giữa (C’)

 - Chữ kỳ  (12 nét)  - Chữ Phổ (12 nét),

- Chữ Độ (12nét) tiếp tục xếp trên ba cánh còn lại (các đỉnh B, A’ và C) 

- 3 nét Dương của quẻ Càn tạo thành Tam giác đều, đỉnh quay lên.

            - 3 nét Âm của quẻ Khôn tạo thành tam-giác đều, đỉnh quay xuống dưới.

Ý-nghĩa 1 sanh ba, 3 sanh vạn-vật, thuộc về cơ quan chưởng-quản. Hai tam-giác gát chồng lên nhau chỉ Âm Dương hiệp nhứt, đó là quyền Chí Linh đối phẩm với quyền Vạn-Linh:

            - Chí-Linh là cơ qui nhứt  (đỉnh A )

 - Vạn-Linh là cơ tấn-hóa  (đỉnh A’)

4 chữ hàng trên: ĐPTN là “Đảng phái thống nhất”                      số 4 là tượng cho Tứ Âm, Tứ Dương.                    

5 chữ hàng dưới:GCPCT là “Giáo-chủ Phạm Công Tắc”. Số 5 tượng Ngũ hành, ngôi giữa.

Thế nên, Chí-Linh đầu nhọn quay lên, mà Vạn-Linh đầu nhọn quay về phía dưới. Chí-Linh và Vạn-Linh vốn đồng quyền nhau. Đạo chủ-trương Trời- Người đồng trị: Người trị xác, Trời trị hồn.

          Màu vàng chỉ giống da vàng, Huỳnh-chủng, lý Ngũ hành thuộc Thổ, nền Đại-Đạo phải có một triết-lý siêu tuyệt để dẫn đạo tinh-thần của toàn nhân-loại trên mặt địa cầu này, đó là “Thiên khai Huỳnh-Đạo Ngũ chi Tam-giáo Hội Long-Hoa” như Đức Chí-Tôn đã chọn:

“Một nước nhỏ-nhoi trong Vạn-quốc,

“Ngày sau làm Chủ mới là kỳ”.

           Ba sọc đỏ: nhứt là biểu-hiện ba miền Nam, Trung, Bắc của Việt-Nam. Ứng hiệp với câu:

“Nam Bắc cùng rồi ra ngoại-quốc,

“Chủ-quyền Chơn-Đạo một mình Ta”.

Nền Chơn-đạo chính là tinh-thần Tam-Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt đó vậy !            

Đức Hộ-Pháp có hình bán diện, nói lên ý nghĩa về quyền-hành của Ngài là Giáo-Chủ nền Đại-Đạo về hữu hình mà thôi. Còn Quyền Chí Tôn là tối-thượng, cho nên chữ Đạo 12 nét đặt ở trên đỉnh của ngôi sao sáu cánh là chỉ ngôi Trời. Ba chữ còn lại là: Kỳ (12nét), Phổ (12nét), Độ (12nét) cọng chung là 36 nét đó là:

      “Ba mươi sáu cõi Thiên-Tào,

      “Nhập trong Bát-quái mới vào Ngọc-Hư”

          Lần-lượt rồi ta tìm đến các Bát-Quái ấy để rõ lý hơn.

  Trong cửa Đạo Cao-Đài, hình ảnh tam-giác đều được biểu tượng bằng ba ngôi: Phật- Pháp- Tăng.

            Phật tức là Đấng cầm quyền Chúa-tể Càn khôn vũ trụ là Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng Đế hay còn gọi là Đại-Từ-Phụ.

            Pháp là ngôi của Đức Phật-Mẫu Diêu-Trì cầm quyền-năng tạo khí thể của toàn vạn-linh sanh chúng là Mẹ của cả chúng-sanh.

            Tăng là ngôi của Đấng đại-diện trong mỗi nguơn hội. Nay là thời-kỳ của  Đức Di-Lạc-Vương Chưởng Quản. Tam-kỳ còn gọi là “Tam-thiết Long-Hoa Bạch Vương Đại-hội Di-Lạc Cổ-Phật Chưởng giáo Thiên-Tôn”.

            Ngôi Phật, Pháp không đổi. Ngôi Tăng thay đổi tùy mỗi thời-kỳ. Nhưng chính thời kỳ này Đức Hộ-Pháp đến trước để dọn đường cho Phật Di-Lạc ra đời mà thôi

      Danh “Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ” có 6 chữ phân ra là 3 danh từ. Mỗi danh từ như vây gồm đủ âm dương trong đó.

 

 

 

7- CẦU NGUYỆN

Cầu là xin, nguyện là hứa. Là một sự ước mong được thông công với các Đấng thần linh mong được một sự hộ trì mà sức người không thể giải quyết được, nên phải cậy sự trợ giúp của Thế-giới vô hình, của các Đấng Thiêng-Liêng, để hưởng sự Huyền-diệu ấy.

Nay Đạo Trời khai mở, người Tín-Hữu Cao-Đài đều có một Đức-tin mạnh-mẽ nhứt đó là sự Cầu-nguyện. Vì cầu nguyện là một sự cảm ứng với Thiêng-liêng. Chính chỗ này không ai kiểm soát được, không ai thấy biết được, cũng là chỗ cao thượng của tâm-linh là vậy. Nhưng sự cầu nguyện muốn được linh ứng phải hội đủ điều kiện:

1-Không vị kỷ, muốn được cho mình mà hại người.

2-Phải hợp lý, nghĩa là cầu mong ngoài những điều thực tế, như cầu mong trúng số lớn…

3-Vì việc chung hơn là cá nhân vụ lợi.

Giá trị của sự cầu-nguyện:

Đức Hộ-pháp nói: “Sự cầu-nguyện có cảm-ứng với chánh-trị Thiêng Liêng tức là các Đấng vô hình đều rõ biết mọi sự hành tàng nơi cõi thế, triết-lý về hình thể của con người, thọ tinh Cha huyết mẹ sản xuất ra thì có sự cảm giác Thiêng Liêng đối cùng nhau rất mật-thiết, cho nên một người con lúc đi làm ăn xa nhà, khi có bịnh-hoạn hay xảy ra điều gì tai biến thì thân-thể của người con sẽ có điềm máy động: giựt thịt, máy mắt hoặc là ứng mộng thấy rụng răng và các điều khác, đó là về phần Tinh Khí hình thức của con người.

Còn về phần linh tánh thì do nơi Đức Chí-Tôn ban cho Nhứt điểm lương tâm nó có cảm giác cùng Chí-linh, cho nên Ta hữu sự thì thành tâm Cầu-nguyện. Nền Đạo là một sự Cảm ứng rất mầu-nhiệm vô cùng, có câu “ Nhân tâm sanh nhứt niệm thiên địa tất giai tri” 生一念 (1) Nghĩa là khi người vừa sanh một niệm thì trời đất đều biết.

Khi giảng về “Con đường Thiêng-liêng hằng sống”                        Đức Hộ-Pháp có nói:

“Bần-Đạo có những điều trọng-yếu căn dặn: Từ ngày Bần-Đạo giảng cái Bí-Pháp ấy, Bần-Đạo vẫn cầu nguyện với Đức Chí-Tôn luôn, bởi vì nó có nhiều điều khó-khăn, những điều mà mình ngó thấy bằng con mắt Thần, lấy cái nhân-khẩu của mình mà tả chẳng hề khi nào đúng chắc đặng. Bần-Đạo thú thật rằng mười phần có lẽ Bần-Đạo tả đặng năm hay bảy phần là nhiều, sợ còn kém hơn nữa.

Bần-Đạo chỉ có Cầu-nguyện với Đức Chí-Tôn cũng như hồi trước Tam-Tạng đi thỉnh kinh nơi Ấn-Độ. Ngài là người Tàu mà kinh viết tiếng Phạn, muốn dịch ra rất khó lắm, lấy cả Kinh-Luật trong tiếng Phạn đem ra rất khó cho Ngài lắm, cho nên Ngài đại nguyện, Ngài làm thế nào Ngài rán sức âm tiếng Phạn ấy ra chữ Nho. Ngài chắc ý Ngài âm tiếng Phạn ấy chưa đúng, Ngài có hứa chừng nào mà tôi qui liễu, nếu trong Kinh-Luật Đạo Giáo mà tôi không minh tả ra đặng thì khi chết cho cái lưỡi tôi đen, nếu tôi tả trọn vẹn thì cho cái lưỡi tôi đỏ.

May phước Bắc Tông được hưởng một ân-huệ của nhà Phật đã ban ân riêng cho Đức Tam-Tạng, khi Ngài chết người ta vạch lưỡi của Ngài ra coi thì lưỡi của Ngài đỏ, vì cớ mà chơn-giáo của nhà Phật là Bắc-Tông có thể nhờ Đức Tam-Tạng đã minh tả ra trọn vẹn.

Ngày nay Bần-Đạo mỗi phen lên giảng về Bí-Pháp thì Cầu-nguyện với Đức Chí-Tôn cho sáng-suốt, mà biết vẫn còn thiếu kém không thể gì tả  bằng con mắt Thần của mình đã ngó thấy đặng trọn một bài.

Nếu đoạt Pháp đặng, thấy đặng, có lẽ cũng chỉnh thêm, giùm giúp tay với Bần-Đạo mới toàn-thiện toàn-mỹ

đặng”.

8- CỬU-TRÙNG-ĐÀI

            A- Phần đại cương:

[Viết theo tài liệu của Ngài Bảo-Văn Pháp-Quân đề ngày 06-03-Canh Thìn (dl:13 Avril 1940)]

            Kìa, chúng ta để mắt trông lên Bát-Quái-Đài, nơi Đại Điện, rồi để linh tâm nghiệm xét, thử hỏi: những bậc tiền bối ta xưa học hỏi, giồi trau, rèn tập thế nào mà nên đạo nghiệp, đắc vị, rồi trải bước trên con đường Đạo làm sao? Vùa giúp nên Đạo, nên đời; những điều chi mà gọi rằng Người đắc quả ? Ngày nay Đấng Chí-Tôn mới đem danh từ trạng thái ra đó, để làm gương cho ta soi sáng..

            Cao ngự hơn hết là Thiên Nhãn, vẫn là trạng thái điểm Linh quang trọn lành của ngôi Thái-cực, tức là căn cội của cả chơn hồn trong Càn Khôn Thế giới gọi là hồn Đạo, lại còn tôn chỉ cao thượng của Đại-Đạo. Ấy là ta trọng thờ Đấng Chí-Tôn kim viết:

                                CAO-ĐÀI

Lão-Tử                    Thích Ca          Khổng Phu Tử

Quan Âm Như Lai  Lý Đại Tiên      Quan Thánh Đế Quân

                                Jésus-Christ

                                Khương Thái Công

 

 Tóm tắt các Đấng vào trong đồ hình này:

 

 

 

 

            Ấy là Thiên ý muốn sắp đặt ngay hàng giữa có đủ ngôi thứ tùy theo đẳng cấp: Trời, Phật, Tiên, Thánh, Thần, cho ta rõ thấy trước mắt, hầu để tâm noi theo công trình tu-luyện. Công quả của các Đấng chủ trương trong mỗi phẩm vị ấy mà lần bước đoạt vị từng cấp. Ấy là Thiêng Liêng-vị. Còn hàng phẩm để cho chúng sanh tu luyện mà đoạt vị hiện tại lại có ngôi thứ sắp đặt riêng gọi là CỬU TRÙNG ĐÀI.

          Qua đồ hình trên để giải thích rõ hơn về nghi thức thờ phượng trong nền Đại-Đạo ngày nay là có đủ: Tam Giáo và Tam Trấn và Ngũ Chi Đại-Đạo:

A-Tam Giáo là:

- Đức Thích-Ca Mâu-Ni Chưởng giáo Phật Đạo

- Đức Thái Thượng Lão Quân Chưởng giáo Tiên Đạo

- Đức Khổng Thánh Tiên Sư Chưởng giáo Thánh Đạo.

Đây là Tam giáo trong thời Nhị kỳ Phổ Độ vừa qua.

B- Tam Trấn Oai Nghiêm:     

Nay qua Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí-Tôn lập Tam Trấn Oai Nghiêm thay quyền Tam giáo, tức nhiên Đức Ngài lấy tánh đức thiêng liêng của ba Đấng này, tượng cho ba đức: BI- TRÍ- DŨNG, để cho nhơn sanh noi theo mà tu hành cho hiệp đủ TINH- KHÍ- THẦN mới mong dẫn độ quần sanh trong buổi Hạ nguơn mạt pháp này

- Đức Quan-Âm thay quyền Phật giáo tượng đức BI

- Đức Thái Bạch Kim Tinh thay quyền Tiên giáo, đức TRÍ

- Đức Quan Thánh Đế Quân thay quyền Thánh giáo, tượng đức DŨNG ( cầm đầu Nho-Tông chuyển thế).

            Có như vậy nền Đại-Đạo này mới chuyển cả toàn cầu, trấn phục Ngũ châu mà đưa Thế giới đến Đại-Đồng. Từ nội dung đến ngoại dung, tinh thần Đại-Đạo đã thể hiện một chương trình Dịch lý và hoàn toàn khoa học, chủ

trương diệt trừ mê tín dị đoan,  mới đáp ứng nhu cầu cùng

sự tiến bộ của khoa học hiện đại. Có nghĩa là mỗi mỗi việc làm của chúng ta từ cách thờ phượng, cúng lạy đều có ý nghĩa, cũng đều do sự sắp xếp của Đức Thượng Đế, chứ không do một ai bày đặt ra, nhưng nếu có bàn tay phàm xen vào để sửa đổi là một sự biến thể rồi, đó chỉ là Thể pháp. Người hiểu được sâu sắc Thánh-ý Chí-Tôn rồi là nắm vững Bí pháp, thì dầu có sửa đổi cỡ nào chân lý vẫn là chân lý mà thôi. Hữu hình hữu hoại, nên chi ngày nay Đạo Cao-Đài thờ tất cả các Đấng bằng Linh vị, cũng là một lẽ  trong nhiều ý nghĩa khác nữa.

Nhận xét chung trên đồ hình có bảy vòng tròn nhỏ xếp thứ tự và nội-tiếp trong một vòng tròn lớn, là Càn Khôn vũ trụ đó. Mỗi một vòng tròn nhỏ có tâm là tượng trưng một Đấng Giáo chủ, Dịch nói rằng “các hữu Thái cực”, tức nhiên mỗi người là một Thái cực, duy linh duy nhứt, đều là Đấng vô hình, không thờ cốt tượng. Chứng tỏ rằng Đức Chí-Tôn xem các Ngài là đồng quyền, đồng đẳng nhau. Lại nữa Đức Chúa Jésus-Christ là hiện thân của một Đấng Cứu Thế đem thân mình làm con tế vật hiến cho Chí-Tôn, bị đóng đinh trên Thập-tự-giá, được đặt vào ngôi chính, tức là tâm của vòng tròn, hiệp cùng Thượng Đế, biểu tượng cho nhân loại thấy rằng tinh thần PHỤNG SỰ phải đặt vào trọng tâm, tức là Tam lập: Lập đức, lập công, lập ngôn. Hơn nữa giao điểm của hai trục là hình chữ Thập là hình ảnh của hai quẻ Càn Khôn hiệp nhứt.

Ba Đấng: Thích Ca, Thái Thượng, Khổng Thánh là Giáo chủ Tam giáo làm thành một tam giác, đứng trên các đỉnh.Tâm là Đức Lý Thái Bạch,thời này đạt được nhờ LÝ.

          Tam giác thứ nhì, đứng vào tâm của vòng tròn lớn, có ba đỉnh là: Thái Bạch Kim Tinh, Quan Âm Như Lai, Quan Thánh Đế Quân là Tam Trấn Oai nghiêm trong kỳ ba Phổ Độ,có tâm là Chúa Cứu thế, là nói lên việc phụng sự vạn linh; vì phụng sự vạn linh tức là phụng sự chí-linh, là phụng sự cho Trời.

C-Ngũ Chi Đại-Đạo: là hình ảnh các Đấng Giáo chủ đặt ở hàng giữa của đồ hình:

- Thích Ca Mâu Ni: Chưởng giáo Đạo Phật

- Thái Bạch Kim Tinh thay quyền Chưởng Giáo Đạo Tiên.

- Gia Tô Giáo Chủ Chưởng giáo Đạo Thánh (Thánh Tây).

- Khương thượng Tử Nha Chưởng giáo Thần Đạo

-Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Chưởng giáo Nhơn Đạo (Hữu hình là Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, vô hình là Lý Thái Bạch. Hiệp đủ Âm Dương. Cho nên thời này phải cần đến LÝ cũng như thời Nhị kỳ Phổ Độ. Đạt lý tức nhiên đạt Đạo vậy).

 

 

B- CỬU-TRÙNG-ĐÀI

            Cửu Trùng Đài là: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam Thập Lục Thánh, Thất Thập nhị Hiền, Tam Thiên đồ đệ.

            Nếu ta muốn đoạt ngôi vị ấy, ta phải tùng bốn nguyên pháp của Tam giáo. Mỗi Tôn giáo đều có tôn chỉ riêng, đã dạy rõ trong Bài Khai Kinh là:

- Trung Dung Khổng Thánh chỉ rành,

- Từ bi Phật dặn lòng thành, lòng nhơn.

- Phép Tiên Đạo tu chơn dưỡng tánh,

- Một cội sanh ba nhánh in nhau.

*Chánh pháp của Nho vẫn là: Tam Cang Ngũ thường, Tam Tùng Tứ Đức dạy luân lý về Nhơn Đạo.

*Đạo: Tam bửu, Ngũ Khí dạy về cơ mầu của Tạo hóa.

*Thích: Tam Qui Ngũ giới dạy về đức nhân cho ra vẻ Từ Bi.

Phàm hễ là người đã nhập môn cầu Đạo, cần nhứt là phải giồi trau nền luân lý, tức là khởi luyện về Nho-Giáo trước hết. Người được thấu hiểu nhơn-luân rồi thì đoạt vị Lễ-Sanh. Lễ-Sanh vốn là người thông hiểu Lễ nghi, đủ biết khuôn phép, trong vẹn giữ ba giềng, ngoài hằng gìn năm mối; ấy là người vừa có tư cách, đứng đầu hàng Hạ thừa. Người đã đắc truyền Nho-Giáo rồi, thì từ đây khởi chọn một khoa học nào thích hợp với mình trong Đạo giáo mà dưỡng tánh tu chơn, luyện trau cho nên tài và cũng để tâm tập rèn lần hồi về Đức nhân của Thích giáo.

Hễ vẹn phận làm người, có tài có đức thì lần bước lên cấp Giáo Hữu, tức là người đã siêu phàm nhập Thánh vào Thánh Thể của Đạo. Nhưng vì trong chữ Giáo Hữu có nghĩa là dạy bạn, lại bạn của ta là nhơn sanh thì đủ hiểu rằng ta mới cột vào hàng Thượng đẳng nhơn sanh mà thôi. Lại hễ ta được nên người, có tài, có đức, đã thăng cấp Giáo Hữu thì ta đã nhập vào hàng Trung Thừa rồi. Đấng Chí-Tôn lại do nơi khoa học, tức là tài trí của ta mà định Phái. Ấy là ký thác cho ta một trách nhiệm đặc biệt, đã chỉ giáo nơi Pháp-Chánh-Truyền Cửu-Trùng-Đài.

Lãnh một trách nhiệm đặc biệt trong Hội-Thánh, thì hàng Giáo Hữu đã khởi hành công quả xứng đáng của Đại Đạo, rồi lại tùy nơi sự sốt sắng trong đường công quả về trách nhiệm mà hạnh người, tài trí, đức Nhân của hàng Giáo-Hữu được luyện trau thường, tức là Đạo tâm tùy đó mà tấn hóa lần lên cho đến khi thăng lên Giáo Sư.

Người đã bước lên hàng Giáo Sư, tức là người đã đoạt Thần vị, chức trách của hàng Giáo Sư vẫn nặng nề khó khăn hơn là chức trách của Giáo Hữu. Song lại nhờ nơi sự công quả khó khăn hơn, nhọc nhằn hơn mà tâm trung phải lo lắng nhiều, làm cho nhóng bước lên, tấn hóa thêm về đường đạo hạnh của hàng Giáo Sư. Nghĩa là từ khi thọ lãnh trách nhậm nặng nề ấy, mà buộc người trau luyện thêm cho nhuần nhã về hạnh gười, tài trí và Đức nhân cho đến ngày có tánh cách ngang hàng với Phối Sư

mà thăng cấp.

Người đã thăng chức Phối Sư tức là đoạt đắc Thánh vị, rồi cũng do công quả nơi trách nhiệm của Chí-Tôn đã sẵn dành tùy Pháp-Chánh-Truyền, thúc giục cho ta dồi dào trong cả đôi đường Đời Đạo đặng lần lượt trau luyện mình hầu để bước lên phẩm Chánh-Phối-Sư, vốn là ba vị đứng đầu hàng Tam Phái: Thái, Thượng,Ngọc, trong 36 Phối Sư. Vì công trình lão luyện, nên có nhiều khi ba vị Chánh Phối Sư được thay thế Quyền Đầu Sư đồng phái với mình và mong mỏi ngày thăng ngay chức ấy.

            Người được thăng chức Đầu Sư tức là người đã đoạt Tiên vị. Bước vào hàng Đầu Sư thì tinh thần của người đã mẫn đạt, lão thông cả Đường Đời và Đường Đạo, cho nên trách nhiệm của Đầu Sư rất là sâu xa cao thượng thuộc vào hạng Thượng Thừa. Trên thông công với các bậc tối thượng thừa và các đấng Thiêng Liêng tức là Đạo; dưới điều khiển cả Hội-Thánh Cửu Trùng Đài tức là Đời. Trong tay nắm Quyền Thống-nhất nghĩa là tùy sự qui định hay dở của Đầu Sư mà ra lẽ hư nên của Đạo trong mỗi việc.

            Chưởng Pháp cũng đứng vào hàng Tiên vị, nhưng về trách nhiệm có khác hơn Đầu Sư, là duy có bình tâm định trí, chăm nom về Đường Đạo, nghĩa là giúp sự cố vấn cho Đầu Sư, lại là tai mắt của Giáo-Tông chớ chẳng để công trình chi về đường chánh trị của Đời như hàng Đầu Sư nữa.

            Giáo Tông là hàng Phật vị, tức là đứng về hạng tối Thượng thừa, vẫn là người Chưởng Quản Đài Cửu-Trùng, vốn là Anh Cả của toàn chúng sanh. Người duy có an dưỡng tinh thần, để tiếp ân điển nơi Chí-Tôn và các đấng Thiêng liêng nơi Hiệp-Thiên-Đài, đem về cậy tay Hội Thánh Cửu Trùng Đài ban bố cho chúng sanh cọng hưởng. Ấy là phương pháp trau luyện tận tâm bác-ái cho ra nét Tù-Bi, nên một đấng Trọn lành vậy.

            Tóm tắt lại thì Cửu Trùng Đài vẫn là những đẳng cấp của Chí-Tôn sắp đặt, có đủ ngôi thứ để thúc giục đường về cho Vạn Linh sanh chúng. Nếu ai là người tìm hiểu, muốn tùng Đạo-pháp Tam Kỳ, thì do con đường tu luyện này, cứ để công trình trước lo gầy nên Đạo nghiệp của mình tùy nơi ba tôn chỉ trong Tam Giáo, lo xong trách nhiệm trong mỗi đẳng cấp, tức là phương trau luyện cho đắc Pháp mà đoạt Vị. Điều cần nên biết nữa là: hễ ta đoạt được phẩm vị nào nơi Đài Cửu Trùng này, tức là ta đã đoạt vị ấy nơi cảnh Thiêng Liêng vậy.

            Nền Đại-Đạo Tam-Kỳ gầy nên thiệt tướng vẫn nhờ nơi sự ung đúc Chức Sắc Cửu Trùng Đài này tức là xác của Đại-Đạo..

            Tuy là mối Đại-Đạo Tam Kỳ vẫn do nơi Đấng Chí Tôn khai sáng là điều đã quyết định, nhưng nơi Thiên Thơ về phần đào tạo Chơn Truyền và Luật pháp. Chí-Tôn lại giao phó cho cả Chức sắc tiền định trong Đài Hiệp-Thiên chăm nom lo lắng về đó. Ấy cũng là phương pháp của Chí Tôn sắp đặt cho Chức sắc trong Đài được được giải quả và dồi dào thêm Đạo nghiệp của mình hầu nâng cao địa vị hơn nữa.

 

 

 

9- CHUNG ĐỈNH 

            Chung là cái chuông, đánh lên có âm thanh vang xa cho mọi người nghe thấy. Nơi chùa tiếng chuông làm cảnh tỉnh người sống và thức tỉnh hồn người chết. Đỉnh là cái vạc, cái đỉnh. Ban đầu nhà giàu có dùng cái đỉnh để nấu thức ăn, sau dùng đỉnh để trưng bày sự quyền quí cao

sang và để tỏ sự linh thiêng, sau nữa người ta dùng đỉnh để thắp nhang nơi công cộng: chùa, đình, miếu…Đỉnh chung còn nói lên sự giàu có, cao sang, quyền quí… trong nhà nhiều kẻ ăn, người ở nên phải dùng đến cái đỉnh to mà nấu cơm hoặc thức ăn, mỗi khi đến bữa ăn phải báo động bằng tiếng chuông.

Phân tách chữ Chung thấy có hai phần, đủ cả âm dương. Bên trái là bộ Kim tức là kim loại, phát ra âm thanh, bên phải là chữ trọng là nặng, còn đọc là trùng lấy làm âm.Ghép lại đọc là Chung.

Đỉnh (13 nét) vẽ hình cái đỉnh có ba chân.

Kinh Phật Mẫu có câu:

Đỉnh chung là miếng treo gương,

Khiến nên trẻ dại lạc đường quên ngôi.

Ngọt ngon trẻ nhiễm mến mùi,

Trẻ nào có biết khúc nôi đoạn trường…

Thánh ngôn Thầy cũng giải cho biết vì sao nhân loại đi đến sự cùng-cực như vậy, Bởi:

           “Đạo Trời khai ba lượt, khách tục lỗi muôn phần, khách trần-ai vẫn lấy sự vui-vẻ vô-vị chốn sông mê này mà quên trọn các điều đạo-đức của các Thánh trước Hiền xưa. Chung-đỉnh mãng tranh giành, lợi danh thường chác buộc, kiếp phù-sinh không mấy lát, đời giả dối chẳng là bao ! Sanh đứng làm người, trót đã mang vào mình một vai tuồng đặc biệt, đã chẳng lo bước hành trình cho xong mà đắp bồi nợ mảnh hình-hài, ngọn rau tấc đất, lại chác lắm điều phiền-não, ưu-sầu, lấy Thánh-đức gọi là chơi, mượn hành tàng vô nghĩa mà làm cho vừa lòng ái mộ bất lương.

           “Cái Xuân kia chẳng đợi người mà bước đời càng gay trở; lần qua thỏ lặn ác tà, bóng thiều-quang nhặt  thúc, con đường hy-vọng chẳng biết đâu là tột cùng  mà bước đời xem đà mòn-mỏi, sự thác vô-tình sẽ đến mà vẽ cuộc sinh-ly, pha màu tử-biệt, làm cho sự vui-vẻ giàu sang danh-vọng đều thành ra một giấc huỳnh-lương, rồi đây vĩnh-biệt ngàn năm tội-tình muôn kiếp. Đài Nghiệt cảnh là nơi rọi sáng các  việc lỗi-lầm, bước luân hồi sẽ dẫn vào nơi u-khổ cùng sầu mà đọa-đày đời đời kiếp kiếp. Ấy là buổi chung-qui của khách  trần đó.

           “Nguồn Tiên, Đạo Thánh dìu bước nhơn-sanh, tránh tội-lỗi, lìa nẻo vạy, bước đường ngay mà vào nơi Cực-Lạc an-nhàn, rừng tòng suối lặng, động thẵm non xanh, để mình vào bực thanh-cao, thoát khỏi chốn luân hồi ràng buộc: ai mau bước đặng nhờ  thân, ai luyến trần cam chịu khổn.

           “ĐẠO TRỜI mầu-nhiệm, khá biết xét mình sau khỏi điều tự hối.  “Chúng sanh khá biết cho”!    (TN I /90 )

 

 

10-  ĐẠI-ĐỒNG

ĐẠI-ĐỒNG là gì ?  Đức Chí-Tôn có dạy: “Thầy là các con, các con cũng là Thầy. Có Thầy rồi mới có các con, có các con rồi mới có chư Phật, Tiên, Thánh, Thần”

Nên chi cái yếu điểm của chữ đại là chữ Nhơn Nhơn là người. Bắt đầu viết chữ nhơn là phết một nét bên trái丿ấy là chơn Dương, kế một phết bên mặt ấy là chơn Âm. Thành thử con người là bán âm bán dương mới đứng vào hàng tam tài: Thiên, Địa, Nhân. Thế nên con người nếu biết cách tu-hành tức nhiên được đắc vào hàng Tiên, Phật. Bởi Nhơn cướp đặng chữ nhứt là “nhơn đắc nhứt” thành chữ đại nên gọi “Nhứt nhơn viết đại” 一人曰大 là vậy. Tức nhiên chữ nhơn thêm một nét nhứt trên đầu là chữ Đại

Đại là lớn, nhưng khi nói lớn là trái với nhỏ, tức là đứng đầu, trong chữ đại  nếu phân tích ra là gồm chữ nhứt để định giá trị cao tột của nó, rồi hợp với chữ nhân là con người; như vậy duy chỉ “người” mới được đứng vào hàng “đại”. Nhứt là chi? Là cái tâm mật-pháp, mật truyền của Đại-Đạo có một không hai, ấy là lớn; đã là lớn thì không vật gì lớn hơn nữa. Nó bao trùm tất cả vũ-trụ Càn Khôn mới gọi là Đại, thì được vĩnh kiếp, trường tồn.

Chữ ĐỒNG   là cùng chung, nét khung chỉ bầu trời cao rộng, bên trong có loài ngươì cùng sống với nhau, cùng một tư tưởng (chữ khẩu là miệng; là cùng một tư tưởng) và chữ nhứt (nhứt là một: một tôn-giáo, một nhân-chủng, một xã hội).

Đó là hình ảnh một thế giới loài người cùng có chung một tiếng nói, một tư tưởng như nhau.

Chủ-nghĩa và Giáo-lý của Đạo Cao-Đài là

ĐẠI-ĐỒNG

“Qui Nguyên Tam-giáo hiệp nhứt Ngũ-Chi, thâu thập tất cả những bài học của các Tôn-giáo đã ra đời từ trước đến giờ gom về một mối trở lại nguồn gốc, nhất là thờ Đấng Chúa-tể càn-khôn vũ-trụ tức là chủ-trương của Đấng Cha lành đã hóa sanh muôn loài vạn-vật và tôn-kính tất cả các vị Giáo-chủ đã lãnh lịnh Đức Chí-Tôn và Ngọc Hư-Cung giáng trần dạy Đạo, ngang hàng nhau như những vị Tôn sư đến làm Thầy của nhân-loại.

            Chủ-nghĩa của Cao-Đài là ĐẠI-ĐỒNG  đi từ:

            -  Đại-Đồng nhân-chủng    

     -  Đại-Đồng Tôn-giáo

     -  Đại-Đồng xã-hội.

Như Đức Chí-Tôn đã hứa “Que l’humanité soit une: une comme race, une comme religion, une comme pensée”.

           “Giáo-lý của Cao-Đài cũng như các Tôn-giáo khác, xây dựng trên  căn bản Từ-bi, Bác-ái và thêm vào đó là Công-bình, Chánh-trực, Tự-do, Dân-chủ.

          “Quan-niệm của người Đạo Cao-Đài bao giờ cũng chỉ biết: trên có Trời tức là Thiên thượng, còn dưới có dân-chúng tức là Thiên-hạ.  Bởi nguyên-lý ấy nên Tôn giáo Cao-Đài lúc nào cũng tôn-trọng quyền Vạn-linh đối với quyền Chí-linh hay nói khác hơn ý dân là ý Trời ”.

           Và, nói chung trong hàng vạn linh chỉ có người mới được dự cùng trời đất mà thôi. Thế nên sứ-mạng cuả Cao Đài-giáo trong thế-kỷ 20 này là cơ-quan làm thiên-mạng Hoà-bình cho Thế-giới đã được Đức Thượng-Đế chuẩn-bị từ lâu rồi …

           “Dầu luật-pháp nào cũng do Bác-aí, Công-bình mà lập thành, những phương-pháp họ tạo ra  cho có hình tướng cốt yếu diù-dắt tinh-thần nhơn-loại đi đến mức cao thượng là Bác-aí, Công-bình. Bác-aí, Công-bình ấy là Đạo nhân-luân đó vậy.  Chắc hẳn sẽ có ngày giờ mà cả vạn quốc đều để tâm tìm kiếm luật pháp ấy, vì cớ cho nên: ĐẠO CAO-ĐÀI Đức Chí-Tôn có tiên-tri rằng: “Đạo Cao-Đài tức nhiên là môt cây cờ báo hiệu cho vạn quốc toàn cầu hay trước là: thời kỳ NHO-TÔNG CHUYỂN THẾ đã đến!”  (ĐHP .22-11-Mậu Tý).

 

 

 

11- ĐẠO TÂM

ĐẠO TÂM 道心 có hai nghĩa chánh:

           1- Đạo Tâm là tâm-đạo của con người. Bởi tất cả mọi việc tu-hành, dù theo một Tôn-giáo nào, cũng khởi phát từ một tâm-hồn cao-thượng và biết hướng thiện, đạo đức và dục tấn trên con đường đạo pháp.

           2- Đạo Tâm là Tịch-đạo thứ hai của nền Đại-Đạo sau Tịch-Đạo Thanh-Hương.

  -Tịch-Đạo Thanh-Hương là thi-hành Thể-pháp

  -Tịch-Đạo Đạo-Tâm    là thi-hành Bí-pháp

           Xem như thời Tịch-đạo Thanh-Hương đã qua đi, nhường lại cho cơ Đạo-Tâm sắp đến, cái chơn lý tối cao, tối đại của nền Đại-Đạo này chính Đấng Thượng-Đế khai mở tại Việt-Nam chúng ta đây, là khởi điểm cho Đại Đồng Thế-Giới để cùng  sống chung Hoà-Bình. Cái hay của đạo mầu đã sẵn, duy có tìm hiểu cái chân lý tối cao thượng ấy.

           Thế nên hai câu liễn đặt trước Báo Ân Từ cho ta hình ảnh này:

-BÁT phẩm chơn hồn tạo thế giới hoá chúng-sanh vạn vật hữu-hình tùng thử ĐẠO

-QUÁI hào Bác-ái định Càn-Khôn phân đẳng pháp nhứt thần phi tướng trị kỳ TÂM

  

  

Giải-nghĩa:

Câu 1- Tám đẳng cấp chơn-hồn là vật-chất hồn,

thảo mộc-hồn, thú-cầm-hồn, Nhơn hồn, Thần-hồn, Thánh hồn, Tiên-hồn, Phật-hồn đều được sản-xuất dưới bàn tay của Đức Phật-Mẫu, nhưng vạn-vật vốn hữu hình hữu hoại, nghĩa là có sinh có diệt, có sống có chết, Đạo của trời đất định vậy.

Câu 2- Dù cho những quẻ (đại thể), những hào (tiểu thể) xuất từ tâm Bác-Ái sẽ định nền tảng cho Càn-khôn để phân ra đẳng cấp, chỉ một điểm Thần duy nhứt, không hình tướng cũng định được cái Tâm (mà chủ của cái Tâm là Thượng-Đế Cao-Đài ngày nay vi chủ)

            Tuy nhiên theo Ngài Bảo-Văn Pháp Quân thì hai câu đối này chính của Đức Chí-Tôn ban cho và đặt nơi Bát-Quái Đài, vào thời điểm mà Quả Càn Khôn còn nơi Thánh Thất tạm, bằng tranh lá cũng chính nơi đây.

Trong vũ-trụ Chúa cả tạo-đoan ấy là Thầy nắm cả huyền-vi bí-mật trong tay. Thầy mới phân tánh Thầy ấy là Pháp, Pháp tức là quyền-năng của Thầy thể hiện ra, cũng như lý Thái-cực ở trong cõi tịnh, rồi từ trong cõi tịnh lý Thái-cực phát động mới sanh ra Pháp. Pháp tức là những định-luật chi-phối cả Càn-Khôn, mà người nắm luật chi phối ấy là Phật-Mẫu.

Sao gọi là Phật-Mẫu?

            Phật-Mẫu là Mẹ, là gốc sanh ra vạn-vật. Phật Mẫu  nắm cơ hữu tướng. Phật-Mẫu là Âm, còn Thầy là Dương. Âm Dương tương-hiệp mới biến Càn-Khôn, cả Càn-Khôn ấy là Tăng, mà người nắm quyền vi chủ hàng Tăng ấy là một vị Phật cầm quyền thế-giới. Phật và Pháp không biến đổi, còn vị cầm quyền thế-giới là Tăng ấy thay đổi tùy theo thời-kỳ.

             - Tỷ như hồi Nhứt-kỳ Phổ-độ cầm quyền vi chủ là Đức Nhiên-Đăng Cổ-Phật.

           -  Nhị-kỳ Phổ-Độ  là Đức Thích-Ca Như-lai.

           -  Tam-kỳ Phổ-độ  là  Đức Di-Lạc Vương-Phật.

           Hết Tam-kỳ Phổ-Độ thì nguyên-căn qui nhứt, trở lại mở Nhứt-kỳ Phổ-Độ sẽ có vị Phật khác ra đời cầm quyền vi chủ định-luật Càn-Khôn. 

           Lại nữa: nhìn ở đầu câu liễn có hai chữ Bát Quái, cuối câu có hai chữ Đạo Tâm, điều này đã chứng-tỏ rằng Tịch-đạo Đạo-Tâm đã xuất hiện. Thế nên thời kỳ này phải khai triển lý Đạo cho đến nơi đến chốn, để không bị một sự biến thể nào bất cứ mà làm cho Đạo Tâm lung lạc bởi tà quyền cố ý làm cho biến thái,.sai lạc chơn truyền Đại-Đạo

 

 

           12- LONG TU PHIẾN 

E:  Fan by the beard of dragon

F:  Éventail en barbe de dragon

Long Tu phiến là Bửu pháp của Đức Cao Thượng Phẩm (Long tu là râu rồng; Phiến là quạt. Tức nhiên là cây quạt kết bằng râu rồng) nhưng trên thực tế, Rồng chỉ là một vật biểu tượng, vật tổ, chứ không có trong cõi trần này. Thế nên cây Quạt của Đức Thượng Phẩm được kết bằng 36 lông cò trắng.

Long Tu Phiến: -Về Pháp thể thì dùng 36 lông cò trắng kết thành một cây quạt; còn về Pháp linh thì Ðức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy như vầy:

"Long Tu Phiến là cây quạt do điển khí của Tam Thập Lục Thiên kết thành, quạt ấy tiết ra một điển lực có ảnh hưởng đến cuộc tấn hóa của quần linh. Chơn thần nào trong sạch thì nương theo đó mà siêu nhập Cực Lạc Thế Giới. Trái lại, chơn thần nào luyến ái tà mị thì lánh xa mà đi lần đến U-Minh cảnh giới. Cả cơ "thu” và "đẩy” của Long-Tu-Phiến với Chơn thần đều do luật "đồng khí tương cầu” mà thành tựu. Nghĩa là chơn thần đạo đức thì Long Tu Phiến hấp dẫn đến gần và đưa vào Cực Lạc Thế Giới; còn chơn thần trọng trược thì Long Tu Phiến đẩy ra xa và lần hồi đi đến cảnh U Minh đen tối.

Đức Hộ-Pháp cũng dạy: “Hôm nay là ngày mở cửa thiêng-liêng và đưa nơi tay các Đấng nguyên-nhân ấy một quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình, hai món Bí pháp ấy là:

          1- Long-tu-phiến của Đức Cao Thượng-Phẩm

          2- Kim Tiên của Bần-Đạo, hiệp với ba vòng vô vi tức nhiên diệu quang Tam giáo hay là hình trạng của càn khôn vũ trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ-quang-khiếu của chúng ta đó vậy. Con người có ngũ-quan hữu tướng và lục quan vô hình, mà phải nhờ cây Kim-Tiên ấy mới có đủ quyền-hành mở lục quan của mình đặng”.

Đức Hộ Pháp khi trấn pháp nơi Trí Huệ Cung thì Đức Ngài dùng hai bửu pháp:

         - Một là Long Tu Phiến của Đức Cao Thượng Phẩm,

         - Hai là cây Kim Tiên của Đức Hộ Pháp do Thái Sư Văn Trọng trao cho. Đức Ngài nói về Long Tu Phiến như:

- Long Tu Phiến có thể vận chuyển Càn-Khôn Vũ Trụ do nguơn khí đào độn sanh ra đó vậy. Nó có quyền đào độn nguơn khí, thâu hoạch nguơn khí để trong sanh lực. Con người nắm được điều ấy là người đắc Pháp. Nhờ nó mới có thể luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hóa Thần được.”

- Phất Chủ: Phất Chủ là điển khí của Thất Bửu Diêu Trì kết hợp dùng để trau rửa Chơn Thần trở nên thanh khiết.”. Ðó là Bửu pháp của Ðức Cao Thượng Phẩm, chúng ta là đoàn em cũng nên noi gương của người Anh mà lần bước trên đường hành Ðạo. Nay Ðức Thượng Phẩm thuộc về người Thiêng Liêng thì Ngài lại có nhiệm vụ “cứu rỗi phần hồn của chúng sanh”. Trong tay Ngài sẵn có hai món Cổ Pháp nói trên là "Long Tu Phiến" và "Phất Chủ". Đó là sở dụng của hai món Cổ Pháp ấy.

            1- Đức Thượng phẩm giáng cơ cho thi:

            Ngày 23-04-1931 Đức Ngài giáng cho Thi như sau:

Long-Tu-Phiến quạt bợn sơn hà,

Như Gián-Ma-Xử trấn quốc gia.

Rưới nước Cam-lồ lau xã tắc,

Múa gươm thần huệ dẹp can qua,

Niệm Kinh Khổng Thánh thâu Mao- Tưởng,

Phất phướn Nhan Uyên chận Mỹ - Nga

Thế giới Hòa bình ai chủ xướng ?

Thì dân nước Việt khải hoàn ca.

Chính bài thơ này làm động cơ thúc giục cho bốn vị trong nhóm Hòa-Bình Chung Sống của Đức Hộ-Pháp, phấn khởi tính thần mà đi cậm cờ Bến hải. Đó là: Thoại, Kỳ, Đại, Lợi đã thực hiện tinh thần yêu nước. Bốn vị này dám đột nhập cầu Hiền lương treo cờ trắng (Bạch kỳ). (xem chữ Bạch Kỳ. Vần B.)

 

2- Câu chuyện về 36 lông có trắng để làm

 Long-Tu-Phiến

Nhứt là Bà Tư Hương Hiếu (Hiền nội của ông Cao Quỳnh Cư- sau đắc phong Thượng Phẩm) có bổn phận làm chiếc Long Tu Phiến cho Đức Ngài, đúng như lời Đức Chí Tôn giáng dạy (Long tu râu rồng, phiến là quạt; tức là quạt bằng râu rồng), nhưng thật sự chỉ làm bằng 36 lông cò trắng kết thành. Vì lẽ đó mà bà Tư truyền rao trong giới công quả, ai có lông cò trắng đem hiến, với hai điều kiện là:

1- Lông cò luỵ ( tự chết).

2- Lông cò nuôi chớ không được bắn giết.

Sau đó, có người Tà Mun đem tặng Bà Tư 18 lông cò trắng. Anh ta thưa với bà Tư: Cây dầu trước nhà tôi, cách tháng nay có cặp cò đến ở. Bỗng nhiên, hôm qua con cò trống dãy chết. Tôi chỉ lựa được 18 lông tốt, còn những lông khác lem luốt không lấy được.

Hôm sau, vợ anh đó lại đem đến cho bà Tư 18 lông cò mái. Chị ta nói: Tội nghiệp đôi vợ chồng nhà cò quá ! Làm ổ chưa đẻ đã chết. Tôi chôn cả hai xác dưới gốc dầu, chớ không dám ăn thịt vì chim sa cá luỵ linh hiển lắm. 

Ngay đêm hôm đó, Bà Tư thấy cậu Cao Quỳnh An về thăm có dẫn theo người bạn gái có cái mũi thật cao.

(Cao-Quỳnh-An là người con trai duy nhứt của Bà và ông Cao-Quỳnh-Cư, học bên Pháp rồi chết ở bên ấy. Cùng một năm mà Bà Tư chịu ba cái tang: là cậu Cao Quỳnh An, Bà ngoại của cậu An và Đức Cao Thượng Phẩm).

Cậu An nói: Thưa mẹ, con xin trả lại xương cốt cho mẹ và xin Ba giúp đưa con vào cõi Cực Lạc. Nghe đến đó, bà Tư giựt mình, mồ hôi ướt đẫm. Bà nhủ thầm, nhớ lời dặn của Đức Cao Thượng Phẩm:

"Âu cũng là số kiếp: 18 lông cò trống tượng trưng cho cơ thu thuộc Dương, 18 lông cò mái tượng trưng cho cơ xuất (đẩy) thuộc Âm. Đạo Đức Kinh có viết "Nhất âm, nhất dương chi vị Đạo”. Ta thuộc chi Đạo, như vậy là hợp lẽ thiêng liêng. Điều đó chứng tỏ ngay cả Bà Tư cũng chưa thấu hiểu cơ huyền vi trong 36 lông cò trắng gồm có 18 lông Dương và 18 lông Âm. Vào năm 1949 sau ngày lễ xuất quân, một nữ thư ký đến hỏi bà Tư: Thưa bà, bà dạy con cái quạt chỉ có 36 lông cò, sao mấy ông quân đội bông mỗi mặt tới 36 lông. Bà Tư ôn tồn đáp: Nếu lông cò tượng trưng một mặt 36 lông cò thì không sao. 

- Dạ tới hai mặt. 72 lông cò .          

- Như vậy, ta đã cầu Thất thập nhị địa sát tới rồi. Họ sẽ nhập vào tướng tá mà quấy nhiễu khó lường trước được. Bà Tư âu lo. Sau đó ít lâu Bà lên trình với Đức Hộ Pháp xin đưa Quân đội ra khỏi Nội-ô mà vẫn không tránh khỏi nạn phản Thầy trừng Đạo do tướng Nguyễn Thành Phương cầm đầu.

Tiếp theo >

Top of Page

      HOME