TU TÂM
Bổn-Tánh Thánh-Chủ
Diệu-Không Thiền Sư

BỘ LÔI CÔNG

Kinh Tứ Cửu:

Trừ Quái khí, Roi thần chớp nhoáng!

Bộ Lôi Công giải tán trược quang!!!

\

\

Trước hết chúng ta định nghĩa vài danh từ.

Quái khí: Là cái tật xấu của chúng ta, chẳng hạn như uống rượu, đánh bài...

Roi thần: Là Cây Kim Tiên, là cây Huệ Kiếm, là sự sáng suốt trí huệ của chúng ta.

Một thí dụ cho dễ hiểu:

Chúng ta đi ngang qua một sòng đánh bài cào chẳng hạn, máu tham của chúng ta liền nổi lên, tức là Quái khí của chúng ta sắp nổi lên. Muốn trừ Quái khí này, chúng ta phải tức tốc cầm Cây Huệ Kiếm (Roi thần) chặt đứt liền (chớp nhoáng) bằng cách là đi xa khỏi sòng bài ngay lập tức!!! (Chớp nhoáng), nếu chần chờ thì coi chừng chúng ta móc tiền ra đặt một tụ liền!!!

Sở dĩ, chúng ta rời xa khỏi sòng bài là vì chúng ta có sự suy nghĩ sáng suốt như sau: "Cờ bạc là bác thằng bần!!!". Sự suy nghĩ sáng suốt đó chính là Cây Huệ Kiếm, là chiếc Roi Thần!!! NHƯNG... Khi chúng ta đã đi xa khỏi sòng bài thì Thập Tam Ma (Quái khí) liền dụ dỗ chúng ta. Biết đâu ngày hôm nay ta gặp hên trúng được một mối lớn!!! Có tiền nhậu một bữa cho đã!!! Thế là chúng ta liền quay đầu trở lại mà chơi cuộc đỏ đen!!!

Chúng ta vẫn có sự sáng suốt, vẫn có trí huệ vì biết rõ cờ bạc là bác thằng bần mà!!! Nhưng chúng ta vẫn thua Thập Tam Ma!!! Thế là sự sáng suốt đó, trí huệ đó chưa đủ sức trị được Thập Tam Ma, nên chúng ta chỉ gọi đó là Tiểu Huệ, là Tiểu Thánh mà thôi!!!

Muốn trị được Thập Tam Ma, muốn trừ được Quái khí, muốn giải tán được Trược quang thì ngoại trừ chiếc Roi Thần ra, chúng ta cũng cần cộng thêm vào BỘ LÔI CÔNG nữa thì mới được đầy đủ "Công lực!!!". Như vậy, Bộ Lôi Công là gì?

* Bộ Lôi Công:

Đã gọi là bộ thì phải gồm có ít nhất là hai món trở lên!!! Đó là hai món gì? Đó là ý chí và đức tin!!! (Quí Cao hữu coi lại hai chữ Thành và Tín trong bài Tịch Đạo Đạo Tâm). Ý chí và Đức tin không phải tự nhiên mà có, chúng ta phải dày công tu luyện mới được!!!

Tóm lại,

Tiểu Thánh = Roi Thần = Chưa đủ sức trị được Phàm Tâm!!!

Đại Thánh = Roi Thần + Bộ Lôi Công = Có đầy đủ "Công lực" để Tề Thiên!!! (Trị được Phàm Tâm).

Đây là một BÍ PHÁP thật quan trọng  của Đạo Cao Đài!!! Quí Cao hữu cần lưu ý quan tâm!!!

BẠCH VÂN ĐỘNG

Nhập đàn cúng Phật Mẫu:

Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

Nam Mô Cửu Vị Tiên Nương.

Nam Mô Bạch Vân Động Chư Thánh!!!

\

Khi nhập đàn Cúng Phật Mẫu, chúng ta phải mật chánh niệm 3 câu mà câu sau cùng là Nam Mô Bạch Vân Động Chư Thánh!!!

Trong việc tu hành, phải hiểu rõ Đạo lý, hiểu rõ Chơn lý, hiểu rõ lý sâu của Kinh Kệ thì việc tu hành mới được gọi là chân chính, không lạc đường lạc nẻo!!!

"Làm người rõ thấu lý sâu!!!

Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh!!!"

(Bài khai kinh)

Quí Cao hữu!

Bạch Vân Động ở đâu? Chúng ta cũng nên đến đó tham quan để được thấy tận mắt, nghe tận tai!!!

Bạch: Là trắng, tượng trưng cho sự sáng suốt trí huệ, tượng trưng cho trí Bát Nhã của mình.

Vân: Là mây, tượng trưng cho cái Tâm tự do, tự tại của chúng ta.

Động: Là hang đá, tượng trưng cho cái thể xác của chúng ta.

Như vậy, Quí Cao hữu đã biết Bạch Vân Động ở đâu rồi!!! Bạch Vân Động chính là cái thể xác có một cái Tâm sáng suốt trí huệ Bát Nhã của chúng ta! Nếu chúng ta có một cái Tâm u mê, đen tối, nặng trược thì đó chính là Hắc Vân Động, chớ không được gọi là Bạch Vân Động!!!

Chúng ta tu hành là để biến Hắc Vân Động được trở thành Bạch Vân Động!!! Khi thể xác của chúng ta đã trở thành Bạch Vân Động rồi thì Chư Thánh sẽ vào ngự đông đảo và vui vẻ!!! Nam Mô Bạch Vân Động Chư Thánh mà!!!

Như mấy bài trước đã nói, theo thông thường thì cái thể xác của chúng ta là một cái vườn hoang, là một chiếc thuyền chài, là một Hắc Vân Động!!! Bây giờ thấy rõ điều đó thì chúng ta nên cố gắng và rốt ráo tu hành để biến cái vườn hoang thành cái Vườn Ngạn Uyển, để biến chiếc thuyền chài thành chiếc thuyền Bát Nhã, để biến Hắc Vân Động thành Bạch Vân Động!!!

Tóm lại, Bạch Vân Động không ở đâu xa!!! Nó ở ngay trong bản thân của chúng ta. Bạch Vân Động cũng chính là chiếc thuyền Bát Nhã riêng của mình. Thuyền của ai nấy đi, cũng như Động của ai nấy ở!!! Không thể đi chung, ở chung được vì đó là định luật!!! Nói cho rõ hơn thì chúng ta không nên cho ai "Mượn xác" cả!!!

Ý NGHĨA HAI CHỮ: NAM MÔ

Nhập đàn cúng Đức Chí Tôn:

Nam Mô Phật! Nam Mô Pháp! Nam Mô Tăng!

Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Mahatát!

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát Mahatát!

Nam Mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ!

Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân!

Nam Mô Chư Phật, Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần!

\

\

Toàn thể Đạo hữu chúng ta ai ai cũng có tụng niệm hai chữ NAM MÔ!!! Ngày nào cũng có Nam Mô! Nhất là các cháu đồng nhi đọc kinh, tụng niệm Nam Mô nhiều hơn ai hết!!! Nào là Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng... Đặc biệt là Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Mahatát!!!

Nhưng giả sử có ai đó hỏi: Nam Mô là gì? Thì sẽ có nhiều người ngạc nhiên và mới nhận thấy rằng chính mình cũng có tụng niệm Nam Mô mà mình cũng chưa hiểu hoặc có hiểu cũng chưa rõ ràng!!! Vậy thì Nam Mô có nghĩa là gì?

Bên Đạo Phật                                                    Bên Đạo Cao Đài

Qui y Phật!                  =                                     Nam Mô Phật!

Qui y Pháp!                 =                                     Nam Mô Pháp!

Qui y Tăng!                 =                                     Nam Mô Tăng!

So sánh bên Đạo Phật và bên Đạo Cao Đài thì chúng ta nhận thấy hai chữ Qui y của Đạo Phật chính là hai chữ Nam Mô của Đạo Cao Đài. Hay nói khác hơn, Nam Mô có nghĩa là Qui y. Qui y được dịch ra tiếng Việt là hướng về (qui) một thần tượng nào và làm đúng y theo (y) lời dạy của Thần Tượng đó!!!

* Thí dụ 1: Nam Mô Phật!

Có nghĩa là Tâm ta luôn luôn hướng về Đức Phật và làm đúng y theo lời Phật dạy!

* Thí dụ 2: Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Mahatát!!!

Có nghĩa là Tâm ta luôn luôn hướng về Đức Cao Đài Tiên Ông và làm đúng y theo lời của Ngài dạy: Đại từ bi và Năng hỉ xã!!!

Khẩu tụng thì Tâm phải hành theo thì hai chữ Nam Mô mới có ý nghĩa!!! Còn như, miệng thì niệm hai chữ Nam Mô, cái Tâm lại âm mưu lường gạt thiên hạ, thì đó gọi là Khẩu Phật Tâm Xà!!!

Nếu Tâm mình chứa đầy rắn rít thì cứ niệm Nam Mô Rắn Rít thì hơn, chớ đừng mượn danh Trời Phật mà lường gạt thiên hạ!!!

Tóm lại, Nam Mô chính là Qui y. Qui y chính là hướng về một thần tượng và làm đúng y theo lời dạy của thần tượng đó!!!

ĐỊNH VỊ PHÁP

Phật Mẫu Chơn Kinh:

Diệt tục kiếp trần duyên oan trái!

Chưởng Đào Tiên thì giải trường tồn!

Nghiệp hồng dẫn tử hồi môn,

Chí công định vị vĩnh tồn Thiên Cung!!!

Lời dạy của Đức Hộ Pháp:

Các em phải tự mình định vị cho mình!!!

\

Quí Cao hữu!

Đức Hộ Pháp có chỉ cho chúng ta một bí pháp: Đó là tự mình định vị cho mình!!! Bên Đạo Phật cũng có một bí pháp tương tự được gọi là xứng danh Pháp!!! Trước hết, chúng ta bàn về Xứng Danh Pháp.

* Xứng Danh Pháp:

Chúng ta tự chọn và tự định cho mình một danh tánh nào đó rồi cố gắng thực hành sao cho xứng đáng với cái danh mà mình đã chọn!!! Một điều đáng chú ý là chúng ta đừng chọn cái danh quá cao hơn cái khả năng của mình!!!

Thí dụ một:

Chúng ta tự định cho mình một "Pháp danh" là "Cao Thiên Nhẫn"!!! Ngày xưa có Cao Bá Nhẫn, ngày nay có Cao Thiên Nhẫn!!!

Ngày xưa hoàn cảnh xã hội còn đơn giản chỉ cần một trăm lần Nhẫn (Bá Nhẫn) là đủ cao tuyệt rồi!!! (Cao Bá Nhẫn). Còn ngày nay hoàn cảnh xã hội quá phức tạp cho nên chúng ta phải tập Tâm kiên nhẫn ít ra cũng phải một ngàn lần (Thiên Nhẫn) mới xứng đáng là cao tuyệt!!! (Cao Thiên Nhẫn).

Như vậy là chúng ta đã định vị Cao Thiên Nhẫn cho chúng ta rồi đó!!! Điều đó có nghĩa là chúng ta đã định hướng tu tập cho cái Tâm của chúng ta vậy!!! Đã định hướng (định vị) rồi thì chúng ta phải luôn luôn tu tập theo cái định hướng đó, tức là chúng ta lúc nào cũng giữ cho cái Tâm không hờn, không giận, không phiền não và lúc nào cũng nhẫn nại trước mọi hoàn cảnh!!! Chúng ta phải luôn cố gắng cho xứng đáng với cái danh: Cao Thiên Nhẫn! Lúc nào gặp nghịch cảnh, chúng ta nhớ niệm Nam Mô Cao Thiên Nhẫn để nhắc nhở chúng ta chính là Cao Thiên Nhẫn thì không thể nào còn giận hờn hay phiền não nữa!!! Làm được như vậy thì gọi là đạt được Xứng Danh Pháp!!! Đạt được Cao Thiên Nhẫn!!!

Thí dụ hai:

Chúng ta hãy tự định vị cho mình một cái pháp danh khác nữa, chẳng hạn là pháp danh "Từ Từ Đạo Nhơn".

Từ Từ Đạo Nhơn có nghĩa là người tu (Đạo nhơn) phải điềm đạm, bình tĩnh, làm việc gì cũng từ từ không được dục tốc!!! Muốn xứng đáng cái danh "Từ Từ Đạo Nhơn" thì chúng ta phải cố gắng làm y như đã định nghĩa vậy!!! Lúc nào chúng ta cũng niệm Nam Mô Từ Từ Đạo Nhơn để nhắc nhở chúng ta nhớ giữ tư cách của một người tu. Đến một lúc nào đó, nhờ chí công tu tập mà chúng ta trở thành một "Từ Từ Đạo Nhơn" thật sự!!! Đó là chúng ta đã thành công bằng xứng danh pháp, bằng Định vị Pháp!!! (Quí Cao hữu cần lưu ý là Từ Từ Đạo Nhơn không phải là Tà Tà Đạo Nhơn đâu nhé!)

* Định Vị Pháp:

Định Vị Pháp cũng chính là Xứng Danh Pháp như đã nói ở trên. Ở đây, không cần phải nhắc lại, mà chỉ cần lưu ý Quí Cao hữu thêm vài điều:

1. Định Vị đúng với khả năng của mình để mình có thể thực hành trong việc tu tập. Quí Cao hữu cũng có thể định vị mình là Cao Đài Tiên Ông, là Quan Thế Âm Bồ Tát... Nhưng liệu mình có thể làm được, thực hành được như Quí vị đó không???

2.Muốn thành công trong Định Vị Pháp thì chúng ta phải chí thành công phu (chí công) tức là chúng ta phải hạ quyết tâm, phải quyết chí tu tập để đạt được mục tiêu mà mình đã định vị!!!

Tóm lại, chúng ta phải "Chí công định vị" thì mới được "Vĩnh tồn Thiên Cung" như lời dạy của Đức Phật Mẫu trong "Phật Mẫu Chơn Kinh"!!!

VÔ VI PHÁP

Kinh Cúng Từ Thời:

Tiên Thiên Chánh Đạo!

Nhiên Đăng Cổ Phật!

Vô Vi Xiển Giáo Thiên Tôn!!!

Kính Sám Hối:

Việc sanh tử như dường chớp nhoáng!!!

Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.

Giữ cho trong sạch linh hồn,

Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.

Điều họa phước không hay tìm tới,

Tại mình dời nên mới theo mình!!!

Thánh Giáo:

Tu là để giải thoát chốn thành sầu!!!

Nếu muốn giải thoát thì đừng bày chuyện bể dâu!

Dâu bể là tại lòng mình diễn biết!

Cho nên tu hoài, tu mãi mà chẳng về đâu!!!

\

Người tu chúng ta, ai cũng có dịp được nghe nói đến VÔ VI PHÁP!!!Và chúng ta cũng tưởng Vô Vi Pháp là một pháp môn cao xa khó với tới! Và muốn tu Vô Vi Pháp thì cần phải có Thầy, có Chơn Sư mới được!!! Thật ra, Vô Vi Pháp thật là đơn giản, ai tu cũng được, chỉ tại mình muốn cùng chẳng muốn mà thôi!!!

Vô Vi Pháp cũng chính là VÔ SANH PHÁP của Lục Tổ Huệ Năng!!! Đức Lục Tổ dạy: "Ai ngộ được VÔ SANH PHÁP thì Tây Phương ở ngay trước mặt không cần tìm kiếm đâu xa!!!". Dễ quá!!! Hễ ngộ được Vô Sanh Pháp thì Tây Phương trước mặt, thì Tịnh Độ ở trước mặt!!! Như vậy, Vô Sanh Pháp là gì? Hiểu được Vô Sanh Pháp tức là hiểu được Vô Vi Pháp luôn!!!

* Vô Sanh: Là vô... sanh sự!!! Vô Sanh Pháp là pháp môn dạy ta đừng có sanh sự nữa, đừng có tạo ra nghiệp chướng nữa, đừng có tạo ra bể dâu nữa!!! Chấm dứt sanh sự thì sự (nghiệp chướng) đâu còn nữa!!! Nghiệp chướng không còn nữa thì đúng là Tây Phương ở trước mắt chúng ta rồi, đúng y như lời dạy của Lục Tổ Huệ Năng!!!

* Vô Vi: Vô là không, vi là làm, Vô Vi là không làm điều ác, là không tạo bể dâu, là không gây nghiệp chướng!!! Vô Vi đồng nghĩa với Vô Sanh, tức là không mở Cửa Địa Ngục!!! Hay nói cách khác, thực hiện Vô Sanh (Vô Vi) chính là đóng cửa Địa Ngục!!! Là mở cửa Thiên Đàng!!! Là về Cực lạc quốc!!! Là về cõi Tây Phương Phật!!!

Vô Vi Pháp thuộc về Đạo Lão!!! Đức Lão Tử có dạy: "Vô tranh bất bại!!!". Vô tranh bất bại cũng có nghĩa là Vô... sanh sự!!! Vô... sanh sự chính là ý nghĩa đích thật của Vô Vi Pháp!!!

"Điều họa phước không hay tìm tới,

Tại mình dời nên mới theo mình!!!"

Đúng rồi!!! Tại mình dời nên nó (họa phước) mới theo mình!!! Tại mình dời là tại mình hữu... sanh sự!!! Nếu mình vô sanh, vô vi thì điều họa phước không tìm tới mình!!! Cái lòng của mình cứ sanh sự mãi cho nên tu hoài tu mãi mà chẳng về đâu hết!!!

* Vô Vi Xiển Giáo Thiên Tôn: Chúng ta hãy bàn luận một vài định nghĩa cần thiết:

Tiên Thiên: Tượng trưng cho thanh tịnh, cho chơn không, tượng trưng cho vô sanh, vô vi!!! Vô sanh sự (vô vi) đó là Chánh Đạo nên gọi là Tiên Thiên Chánh Đạo!!! (Có trước trời Đất vạn vật gọi là Tiên Thiên = Hư vô chí khí. Đối lập với Tiên Thiên thanh tịnh hư vô là Hậu Thiên trược hữu vi).

Xiển Giáo: Là thuyết minh, là thuyết pháp, là chỉ dạy (Giáo) cho thật rõ ràng minh bạch (Xiển) để người nghe lãnh hội được (hai chữ vô vi) một cách cụ thể không còn mơ hồ nữa!!! Đó gọi là Vô Vi Xiển Giáo!!!

Thiên Tôn: Là được thăng hoa, được tiến hóa nếu mình Xiển Giáo (thuyết pháp) thành công cho chúng sanh hiểu rõ và thực hành đúng nghĩa hai chữ Vô Vi!!! (Không tạo tác, không sanh sự nữa!!!)

Tổng tóm lại, Vô Vi Pháp còn gọi là Vô Sanh Pháp khuyên chúng ta không nên tạo ra nghiệp chướng nữa!!! Bởi lẽ "Bể dâu thì dâu bể đến liền!!!".

Tạo ra nghiệp chướng thì có liền oan nhiên!!!

NGHIỆP THÔNG

Kinh Sám Hối:

Người lương thiện ra vào thong thả!!!

Kẻ tội nhiều đày đọa rất minh!!!

Kinh Cầu Tổ Phụ:

Chốn Tây Phương đường đi thong thả!!!

Cõi Diêm Cung tha quá, vong can!!!

\

Trong bài trước, chúng ta đã có nói về Vô Sanh Pháp, Vô Vi Pháp có khuyên chúng ta hoàn toàn chấm dứt tạo tác có được không? Chúng ta hoàn toàn không có làm gì cả để được hưởng Tây Phương trước mắt, có được không??? Chắc chắn là không!!! Vì chúng ta còn phải lo nạn áo cơm cho chính bản thân mình!!! Còn lo nạn áo cơm là còn phải hoạt động, là còn phải tạo tác!!! Quí Cao hữu chắc cũng còn nhớ hai câu Thánh Ngôn:

"Có thân ắt phải khổ vì thân!

Nào có sướng chi cái kiếp trần!!!"

Như vậy thì chúng ta không thể nào hoàn toàn vô vi được, cũng như không thể nào hoàn toàn vô sanh được!!! Vì chúng ta còn có cái xác thân này!!! Do đó, chúng ta cần phải có hành động, cần phải có tạo tác!!!

Bài này, chúng ta sẽ nói về các hành động tạo tác trong cuộc sống của chúng ta.

* Dưỡng sinh chi Đạo: Dưỡng sinh là bảo vệ sự sống của chính bản thân của chúng ta, cũng như bảo vệ sự sống của vạn loài!!! Việc làm đó là hợp với Đạo vậy!!! Việc làm đó rất hợp với Đức Bảo Sanh của Đại Từ Phụ!!! Tuy nhiên, nếu suốt ngày suốt tháng chúng ta chỉ lo nạn áo cơm thì chúng ta giống như một "Con vật" không khác một chút nào!!! Chúng ta là con người thì phải có khác hơn chớ!!!

* Nhân sinh chi Quang: Mục đích của nhân sinh của sự sống con người phải khác hơn con vật ở chỗ con người ngoài việc dưỡng sinh ra, còn phải lo trau dồi trí huệ, lo trau tâm dưỡng tánh nữa!!!

Tóm lại, chúng ta có hai sự sống, có xác thân thì tức nhiên là có tạo nghiệp!!! Nghiệp có hai loại: Nghiệp thông và Nghiệp chướng.

* NGHIỆP THÔNG:

Từ xưa nay, Quí Cao hữu thường nghe nói đến Nghiệp Chướng, chớ ít khi nghe ai nói đến Nghiệp Thông. Vậy Nghiệp Thông là gì?

Làm việc phải làm việc tốt, làm việc thiện lành, làm việc có ích lợi cho xã hội nhân quần... thì tất cả việc làm đó tạo ra được Nghiệp Thông!!! Nghiệp Thông là một sự nghiệp thông suốt, không cản trở bước đường tiến hóa của chúng ta. Nghiệp Thông giúp chúng ta được an lạc, được hạnh phúc trong cuộc sống!!! Tóm lại, muốn tạo được Nghiệp Thông thì trước hết, chúng ta phải có sự sáng suốt, phải có trí huệ để phân biệt được Chánh Tà, có phân biệt Chánh Tà thì sự nghiệp của chúng ta mới thông được!!!

* NGHIỆP CHƯỚNG:

Do sự u mê hoặc do dục vọng mà chúng ta làm nhiều điều ác trược, tạo ra nhân quả vay trả trả vay mãi mãi, cản trở bước đường tiến hóa của chúng ta, cản trở bước đường thẳng trở về Cực Lạc Quốc là quê xưa cũ của mình!!! Nghiệp Chướng là nghiệp ác trược, vị kỷ, không có tình thương yêu, làm hại người để có lợi cho mình. Đó là loại nghiệp đọa lạc, luân hồi, nhân quả, trầm luân!!!

"Khối trái chủ nhẫn lo vay trả!

Lại gây thêm nhân quả nợ đời!

Rảnh mình đâu đặng thảnh thơi!

Thiên Cung lỡ lối, chơi vơi cõi trần!!!

(Kinh Giải Oan)

Tóm lại, sống là dĩ nhiên phải có tạo ra Nghiệp. Tạo Nghiệp Thông thì được siêu thăng! Tạo Nghiệp Chướng thì bị đọa đày!!! Thiên đàng, Địa ngục hai bên!!! Lành dữ hai đường vừa ý chọn!!!

NHỒI QUẢ

Kinh Cúng Tế:

Ơn tạo hóa tha tiền khiên trước!

Đưa Linh Phần tiếp rước nguyên nhân!!!

Thánh Ngôn:

Mỗi phen Thầy đến lập Đạo thì phải cam đoan và bảo lãnh các con, chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ. Các con làm tội lỗi bao nhiêu, oan nghiệt bấy nhiêu, Thầy đều lãnh hết!!! Các con đặng thong dong rỗi rảnh, chẳng lo tu đức sửa mình lại còn cả gan trước mặt Thần Thánh Tiên Phật gây thêm tội lỗi nữa!!! Thiệt là đáng giận!!!

\

Kỳ ba mở Đạo Cao Đài là thời kỳ Đại ân xá! Đại ân xá có nhiều nghĩa, cái nghĩa gần nhất là Đức Thượng Đế tha tội tiền khiên của chúng ta để chúng ta được thực rảnh rỗi mà tu hành!!! (Ơn tạo hóa tha tiền khiên trước, lại còn đưa Linh Phần tiếp rước nguyên nhân!!!) Chẳng những Thầy tha tội cho chúng ta mà còn bảo lãnh hết oan khiên nghiệp chướng của chúng ta nữa, y như một kẻ nghèo mà dám lãnh nợ!!! Như vậy thì làm gì có vấn đề nhồi quả trong thời kỳ Đại ân xá này!!! Chúng ta hiểu vấn đề nhồi quả như thế nào? Có thật sự nhồi quả hay không?

Quí Cao hữu!

Nhồi quả: Là trả quả, là trả nợ tất cả các oan khiên nghiệp chướng nợ nần (mà chúng ta đã tạo) chỉ trong một kiếp sống này mà thôi!!! Nếu chúng ta bị nhồi quả và có đủ sức chịu đựng vượt qua được nhồi quả thì chúng ta đã trả sạch hết các tội tiền khiên, hay nói cách khác là chúng ta không còn luân hồi chuyển kiếp nữa!!! (Với điều kiện là chúng ta đừng tạo thêm oan khiên mới nữa!!! Cũng có ý nghĩa là chúng ta nên tu theo vô sanh pháp, vô vi pháp như đã nói ở bài trước).

Tuy nhiên, phần đông chúng ta (nếu không dám nói là hầu hết) thuộc về Tiểu căn, Trung căn, không có được thượng trí, nếu chúng ta bị nhồi quả thì chúng ta càng bị sa đọa, càng bị chuyển kiếp luân hồi mãi mãi thêm mà thôi!!! Đoạn kinh Giải Oan sau đây chứng minh điều này:

"Khối trái chủ nhẫn lo vay trả!

Lại gây thêm nhân quả nợ đời!!!

Rảnh mình đâu đặng thảnh thơi!

Thiên Cung lỡ lối, chơi vơi cõi trần!!!

Quí Cao hữu thấy chưa, càng bị nhồi quả thì chúng ta càng gây thêm nhân quả nợ đời!!! Do đó, Đức Đại Từ Phụ vì thương chúng ta mà không dám cho chúng ta nhồi quả đâu!!! Chỉ trừ các Đại căn, Thượng căn mới được hưởng nhồi quả mà thôi!!!

Do đó, đối với hầu hết chúng ta thì không có vấn đề nhồi quả nữa để cho chúng ta được rỗi rảnh lo tu đức sửa mình!!! Như vậy thì chúng ta đâu còn nghiệp quả nào nữa mà nói nhồi quả hay không nhồi quả chớ!!! Như vậy thì chúng ta nên tìm hiểu cho ra lẽ, tại sao một số khá đông các Cao Đạo hữu lại bị nghịch cảnh dồn dập!!! Một lý do rất dễ hiểu là tại vì chúng ta được rảnh rỗi mà chẳng chịu lo tu đức sửa mình, lại còn dám cả gan gây thêm tội lỗi mới trước mặt Chư Thần Thánh Tiên Phật nữa chớ!!!

Tóm lại, đối với phần đông chúng ta thì không có vấn đề nhồi quả mà chỉ có vấn đề "ông già" (Đại Từ Phụ) dùng roi vọt để rầy la cảnh cáo chúng ta mà thôi!!! (Vì chúng ta tạo thêm nghiệp chướng mới, mà chúng ta không biết cho nên mới bị đánh đòn!!!)

Do đó, khi bị đánh một roi thì chúng ta nên liền xét mình để ăn năn sám hối (tu đức sửa mình). Càng bị đòn nhiều roi (gặp quá nhiều nghịch cảnh) thì chúng ta càng xét mình nhiều hơn nữa vì ông già không bao giờ đánh con mà không có lý do!!!

ĐẠI ÂN XÁ

Kinh Phụ Tế:

Khi dương thế không phân phải quấy!

Nay hư linh đã thấy hành tàng!

Chí Tôn xá tội giải oan!

Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn độ căn!!!

Kinh Cầu Hồn:

Ớ .................. thành tâm cầu nguyện,

Nguyện Chí Tôn linh hiển độ sanh.

Ăn năn sám hối tội tình!

Xét câu Minh Thệ gởi mình cõi thăng!!!

Dầu nghiệt chướng số căn quả báo!

Đừng hãi kinh cầu đảo Chí Tôn.

Cửa Địa Ngục, khá lánh chơn,

Ngọc Hư Cực Lạc đón đường rỗi dong!

Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo,

Dầu oan gia tội báo buộc ràng!

Chí Tôn xá tội giải oan!

Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn độ vong!!!

Thánh Ngôn:

Cõi âm quang là Tịnh Tâm Xá, là nơi để tịnh Tâm xét mình, coi trong kiếp sanh đã tạo bao nhiêu tội phước. Nơi đây có nhiều chơn hồn bị mặc cảm tội lỗi mà sầu thảm lạ thường dù tội tình chẳng trọng hệ bao nhiêu!!! Chớ chi cả nhơn sanh biết tự xét mình trước khi thoát xác thì tự nhiên tránh khỏi Âm Quang hãm tội!!! Nói cho cùng, nếu trọn kiếp dầu gây lắm tội tình mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi thì cũng được lánh xa Cửa Âm Quang đặng!!!

Thánh Ngôn:

Thầy không tư vị bao giờ!!! Phải lo sợ tội tình cho lắm, vì có sợ mới có biết giữ mình! Đừng ỷ lại có "Đại Từ Phụ" mà lờn oai, nghe các con!!!

Thánh Ngôn:

... Không biết tự hối thì làm sao mong siêu rỗi đặng!!!! Đến buổi chung qui mới thấy được Thiên đàng, Địa ngục thì đã muộn rồi!!! Các con phải biết xét mình cho lắm mới được, nghe!!!

\

Quí Cao hữu!

Có một số không ít Cao Đạo hữu hiểu lầm rất tai hại về việc Đại Ân Xá kỳ ba này. Họ cho rằng thời kỳ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ này là thời kỳ Đại Ân Xá tất cả chúng sanh!!! Họ nói hễ có công thì được thưởng, còn làm tội thì không bị phạt!!! Họ còn dẫn chứng những câu kinh để chứng minh quan niệm của họ về việc Đại Ân Xá!!!

* Dẫn chứng một:

Đóng Địa Ngục, mở Tầng Thiên!

Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây Phương!!!

 (Kinh Giải Oan)

 

Họ cho rằng Cửa Địa Ngục đã đóng lại rồi, không còn bắt nhốt ai nữa đâu mà sợ! Hơn nữa, các Đấng lại mở Cửa Tầng Thiên để rước các chơn hồn mà ban thưởng!!! Thời kỳ Đại Ân Xá mà!!!

* Dẫn chứng hai:

Khi dương thế không phân phải quấy!

Nay hư linh đã thấy hành tàng!

Chí Tôn xá tội giải oan!

Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn độ căn!!!

 (Kinh Phụ Tế)

 

Họ cho lúc còn sống tạo ra nhiều tội lỗi, đến lúc chết mới thấy được tội lỗi đó. Nhưng họ không sợ gì cả vì họ tin rằng Chí Tôn xá tội mà còn giải oan cho họ nữa!!! (Có kinh kệ chứng minh rõ ràng mà!!!) Thật là hiểu lầm tai hại!!! Một cá nhân của họ hiểu lầm thì còn có thể tha thứ được. Đằng này, họ lại còn "Thuyết pháp" cho nhiều bạn Đạo cùng nghe nữa!!! Thật là họ không biết sợ "Một câu thất đức" thì "Thiên niên đọa" chút nào cả!!!

Quí Cao hữu!

Quan niệm Đại Ân Xá như họ có đúng hay không??? Nếu đúng thì cần gì chúng ta phải tu hành chi cho cực tấm thân!!! Cứ ăn chơi thoải mái rồi khi chết được Chí Tôn xá tội, giải oan!!! Thật là khỏe re, chúng ta khỏi cần tu, sướng thật!!!

Quí Cao hữu!

Còn quan niệm về Đại Ân Xá của họ sai thì sai ở chỗ nào? Phải nói rõ, là vì họ dựa theo kinh "Thuyết pháp" mà!!!

Quí Cao hữu!

Họ quan niệm sai trái về Đại Ân Xá là tại vì họ hiểu sai lời kinh. Chúng ta cần điều chỉnh lại để giúp họ tránh được "Một câu thất đức thì thiên niên đọa".

* Điều chỉnh dẫn chứng mới:

Chúng ta phải tự mình đóng Cửa Địa Ngục để khỏi bị đọa, chớ không có ai đóng dùm cho chúng ta đâu!!! Đóng Cửa Địa Ngục có nghĩa là chúng ta dẹp bỏ dục vọng, dẹp bỏ lòng ham muốn!!! Việc làm này chỉ có chính chúng ta tự làm mà thôi, người khác muốn giúp chúng ta cũng không được!!!

Còn việc mở cửa Tầng Thiên thì cũng chính chúng ta tự khai mở mà thôi, chớ không có ai mở dùm cho mình!!! Mở Cửa Tầng Thiên (Thiên là Tâm) có nghĩa là chúng ta tu Tâm, tu trí huệ. Cũng chính chúng ta tự tu tự đắc, không có ai tu dùm cho chúng ta được vì ai tu nấy đắc!!! Các Đấng thiêng liêng nếu cần thì chỉ hỗ trợ chớ không tu dùm cho chúng ta được.

Tóm lại, việc đóng Cửa Địa Ngục hay mở Tầng Thiên đều do chính chúng ta tự làm mà thôi.

* Điều chỉnh dẫn chứng hai:

Câu kinh "Khi dương thế không phân phải quấy" có nghĩa là vào lúc ban ngày chúng ta lo kiếm kế sinh nhai không kịp phân phải quấy nên gây lắm tội tình!!! Nay hư linh là chỉ vào ban đêm, chúng ta được rảnh rang (hư linh) mà biết tự xét những hành tàng lúc ban ngày để tự sám hối ăn năn sửa mình hầu tránh được tội lỗi vào ngày kiếm cơm kế tiếp!!!

Người nào ban ngày đi kiếm ăn, tối lại biết xét mình hàng bữa (đêm đêm) tự tỉnh tu hành ăn năn thì người đó mới được Đức Chí Tôn xá tội giải oan, lại còn được Chư Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn, độ căn nữa!!! Còn người nào không biết xét mình hàng bữa mà lại còn ngày càng gây thêm tội lỗi nữa thì đừng hòng mong được Đại Ân Xá!!! Đức Hộ Pháp cũng có dạy: "ăn năn sám hối sửa mình" là một pháp tu trở thành Thần Thánh Tiên Phật!!!

Như vậy thì Đại Từ Phụ chỉ Đại Ân Xá cho người nào biết "ăn năn sám hối sửa mình" hàng bữa mà thôi!!! Đó là Đại Ân Xá có điều kiện, chớ không phải ân xá "đại trà" vô điều kiện đâu!!!

* Người nào biết:

"Ăn năn sám hối tội tình!

Xét câu Minh Thệ, gởi mình cõi thăng!!!

Thì chắc được:

Chí Tôn xá tội giải oan!

Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn độ vong!!!

* Người nào biết:

"Cửa Địa ngục khá lánh chơn!

Ngọc Hư Cực Lạc đón đường ruỗi dong!!!

Thì chắc được:

Chí Tôn xá tội giải oan!

Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn độ vong!!!

* Người nào biết:

"Đóng Địa Ngục, mở Tầng Thiên!"

Thì chắc được:

"Khai được Cực Lạc! dẫn miền Tây Phương!!!

* Người nào biết:

"Cửa Cực Lạc đón đường thẳng tới!

Tâm không môn đặng đợi Như Lai!!!

Thì chắc được:

"Hào quang diệu chiếu Cao Đài!!!

May duyên nay đã gặp ngày siêu sanh!!!

Quí Cao hữu!

Chúng tôi xin mượn vài đoạn trong Thánh Ngôn để kết luận bài này... Chớ chi cả nhơn sanh, biết tự xét mình trước khi thoát xác thì tự nhiên tránh khỏi Âm Quang hãm tội!!!...

... Không biết tự hối thì làm sao mong siêu rỗi đặng!!!! Đến buổi chung qui mới thấy được Thiên đàng, Địa ngục thì đã muộn rồi!!! Các con phải biết xét mình cho lắm mới được, nghe!!!

QUÁN ĐÀN

Kinh Cầu Siêu:

"Ba mươi sáu cõi Thiên Tào

Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc Hư!

Quê xưa trở, cõi đọa từ!!!

Đoạt cơ thoát tục bấy chừ tuyệt luân!!!"

Lời dạy của Đức Hộ Pháp:

Người nào có đi quán đàn thì sẽ được đi thẳng vào Ngọc Hư Cung mà khỏi nhập trong Bát Quái!

\

Chỉ có Thời Cúng Đại đàn, mới có tổ chức "Đi Quán đàn". Các Cao Đạo hữu ai ai cũng muốn được đi Quán đàn ít nhất là được đi một lần!!! Tại sao vậy?

Tại vì các Cao Đạo hữu tin tưởng rằng hễ được đi Quán đàn thì sẽ được vào thẳng Ngọc Hư Cung sau khi chết!!! (Lời dạy của Đức Hộ Pháp). Do đó, khi Cúng Đại đàn, các Cao Đạo hữu tranh giành nhau để được đi Quán đàn, làm mất hết trật tự tối thiểu, làm mất đi tư cách của một người tu!!!

Như vậy, chúng ta phải hiểu như thế nào về vấn đề Quán đàn? Tại sao Thời Cúng Đại Đàn, mới có Quán đàn? Có hiểu rõ vấn đề Quán đàn, chúng ta mới hiểu rõ lời dạy của Đức Hộ Pháp!!!

Do đó, trước hết chúng ta cũng nên định nghĩa hai chữ Quán đàn.

Quán: Là quán xét, là tự xét mình mỗi ngày!!! Đêm đêm tự tỉnh tu hành ăn năn mỗi ngày, chớ đừng chờ đến lúc Cúng Đại Đàn mới tự xét!!!

Đàn: Là sửa lại cho đúng, sửa lại cho tốt!!! Sau khi tự xét (quán) thấy được lỗi mình thì phải biết ăn năn sám hối tu đức sửa mình (đàn).

Các Cao Đạo hữu nào biết "Đi Quán đàn" đúng theo định nghĩa như trên thì chắc chắn sẽ được Đức Chí Tôn xá tội giải oan!!! (Xem bài Đại Ân Xá). Nói cách khác là các Cao Đạo Hữu đó sẽ được đi thẳng vào Ngọc Hư Cung!!! (Đúng y như lời dạy của Đức Hộ Pháp)

Quán đàn: Là tự xét thấy được lỗi mình để ăn năn sám hối mà lo tu đức sửa mình!!! Đây là con đường để trở thành Thần Thánh Tiên Phật!!! Do đó, Quán đàn là một việc tối đại, tối trọng đối với những người tu hành, cho nên Quán đàn chỉ được tổ chức trong thời Cúng Đại đàn là có ý nghĩa như vậy!!! (Tối đại, tối trọng = Đại đàn).

Tóm lại, hiểu được ý nghĩa của Quán đàn rồi thì chúng ta quán đàn ở chỗ nào cũng được (ở trong hay ở ngoài Tòa Thánh cũng được) hoặc là quán đàn bất cứ lúc nào cũng được (không chờ đến thời cúng mới chịu quán đàn!!!).

Tổng tóm lại, Quí Cao Đạo hữu cũng nên tự xét lại là chúng ta có nên chen lấn, tranh giành nhau để được đi quán đàn nữa hay không?

PHÁP LUÂN THƯỜNG CHUYỂN

Lời Tiên dạy:

Nhứt phiên thi kỳ!!!

Nhị thập tứ hiếu!!!

Pháp luân thường chuyển!!!

Càn khôn vô tâm!!!

\

Quí Cao hữu!

Trong bài trước có nói về Quán đàn, thì bài này cũng nên nói về Pháp Luân Thường Chuyển, mới không có sự thiếu sót. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên tìm hiểu theo thứ tự từng câu của bài Tiên dạy nói trên.

* Nhứt phiên thi kỳ:

Là một bí kíp thật là kỳ diệu!!! người tu nào cũng nên lấy bí kíp này làm căn bản. Chúng ta tìm hiểu xem trong bí kíp có điều gì kỳ diệu không?

* Nhị thập tứ hiếu (Đạo Thánh):

Là 24 cái gương hiếu thảo!!! Ồ, như vậy thì Nhị thập tứ hiếu có cái gì kỳ diệu đâu mà gọi là bí kíp! Quí bạn đừng vội đánh giá!!! Hiểu theo nghĩa gần thì như vậy!!! Còn hiểu theo nghĩa sâu rộng thì Nhị thập tứ hiếu chính là sự thương yêu hết tất cả mọi loài!!! Quí bạn hẳn còn nhớ lời dạy của Đức Thượng Đế: Sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Tam Thập Lục Thiên, Cực Lạc Thế Giới và Bạch Ngọc Kinh!!! Đây đúng là "một chiêu" rất quan trọng của cái bí kiếp kỳ diệu nói trên!!!

* Pháp luân thường chuyển (Đạo Tiên):

Hiểu theo nghĩa gần thì Pháp luân thường chuyển là một vấn đề của khí công. Đó là công phu vận chuyển khí lực (hơi thở) đi khắp cơ thể để đả thông kinh mạch!!! Còn hiểu theo nghĩa sâu rộng thì Pháp luân thường chuyển chính là công phu quán đàn!!! (Xem bài Quán đàn ở trước). Công phu quán đàn cũng vận chuyển ý đi khắp cả TÂM để quán xét xem Tâm còn có chỗ nào lợn cợn (tội lỗi) để đả thông nó (đàn)!!! Quán đàn là con đường đi để trở thành Thần Thánh Tiên Phật!!! Như vậy thì Pháp luân thường chuyển (chính là công phu của quán đàn) cũng là "một chiêu" rất quan trọng nữa cái bí kíp nói trên!

* Càn khôn vô Tâm (Đạo Phật):

Ở đây càn khôn chính là cái thể xác của mình (càn là đầu, khôn là bụng). Càn khôn vô tâm là bảo chúng ta đừng có tạo nghiệp chướng, tạo bể dâu nữa, đừng có sanh sự nữa!!! (Đọc bài Vô sanh pháp). Đức Lục Tổ dạy: "Không sanh sự nữa thì Tây Phương an lạc ở ngay trước mắt!!!". Như vậy thì càn khôn vô tâm cũng là "một chiêu" (Vô sanh pháp) quan trọng nữa của bí kíp!!!

Tóm lại, bí kíp diệu kỳ nói trên gồm có 3 chiêu thức:

1. Nhị thập tứ hiếu: Là chiếc chìa khóa mở cửa Tam Thập Lục Thiên, Cực Lạc Thế Giới và Bạch Ngọc Kinh!!!

2. Pháp luân thường chuyển: (Thường quán đàn) là con đường đi để trở thành Thần Thánh Tiên Phật!!!

3. Càn khôn vô Tâm: Không sanh sự nữa thì Tây Phương an lạc ở ngay trước mắt!!!

NHẠC TẤU HUÂN THIÊN

Kinh Tam Cửu:

Tiêu thiều lấp tiếng dục tình!

Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân!!!

Kinh Lục Cửu:

Tiêu thiều trổi tiếng nhặt khoan!

Đưa linh thẳng đến Niết Bàn mới thôi!!!

\

Sau đây là lới giải thích về ý nghĩa của Nhạc tấu huân thiên.

Nhạc: Là âm thanh có tiết điệu!

Tấu: Là khởi lên, là bắt đầu hòa âm!

Nhạc tấu là nhạc bắt đầu khởi lên và hòa với nhau một cách có nghệ thuật: làm cho người nghe được thoải mái, được nhẹ nhàng, được quên hết các đau thương trong cuộc sống, được quên hết các tham dục thất tình, được lâng lâng nhẹ nhàng siêu thoát như được ở cõi Niết Bàn vậy!!!

Tiêu thiều trổi tiếng nhặt khoan!

Đưa linh thẳng đến Niết Bàn mới thôi!!!

Nhạc tấu là phải đạt được như vậy, mới có ý nghĩa!!! Chữ tấu ở đây không có nghĩa là tấu trình lên cấp trên, mà chỉ có nghĩa là: Bắt đầu hòa nhạc!!! Do đó, nhạc tấu lên không nên hòa quá lớn tiếng, nhất là tiếng trống, làm cho người chầu lễ cúng bị đông loạn và làm mất hết ý nghĩa như đã nói ở trên!!!

Nhạc tấu lên đâu phải để cho Thượng Đế nghe, mà Thượng Đế lại ở ngay trong Tâm chúng ta thì chúng ta cần gì phải tấu lên cho quá lớn tiếng, làm mất hết ý nghĩa: "Tiêu thiều lấp tiếng dục tình!!!"

* Huân: Là huân chưng, là làm ấm lại, là làm cho thanh tịnh bình tĩnh trở lại. Chữ ấm ở đây còn có nghĩa bóng là được thoải mái, được nhẹ nhàng!!! Người đời cũng thường dùng chữ ấm theo nghĩa này: "Cậu ta trúng mánh, quá ấm rồi!!!"

* Thiên: Ở đây chữ Thiên có nghĩa là cái Tâm của chúng ta (Xem bài Huỳnh Đình Kinh có nói thiên là Tâm).

Như vậy, huân thiên là làm cho cái Tâm của chúng ta được nhẹ nhàng, được thoải mái, được siêu thoát khỏi cái cõi trần nặng trược mà thăng lên thẳng đến Niết Bàn mới thôi!!!

Tóm lại, Nhạc tấu huân thiên là nhạc bắt đầu hòa tấu lên một cách có nhịp điệu êm ái, nhẹ nhàng làm cho người nghe (người đi cùng) được thoát trần đăng Tiên!!! Như vậy, mới thật đúng với ý nghĩa của nó!!! Do đó, trách nhiệm của một nhạc sĩ trong buổi nhạc tấu huân thiên thật là rất quan trọng, quan trọng ở chỗ đưa toàn thể Linh căn con cái của Đức Chí Tôn đang chầu lễ được nhẹ nhàng thẳng đến Niết Bàn mới thôi!!!

Người nhạc sĩ hòa tấu mà đạt được ý nghĩa này đó là người có công quả rất lớn!!! Cho nên, người nhạc sĩ không nên xem thường buổi nhạc tấu huân thiên mà lỗi đạo!!!

100 ỨC NGUYÊN NHÂN

Ngọc Lộ Kim Bàn:

Đức Phật Mẫu cho xuống trần một lượt 100 ức nguyên nhân. Trong đó có 8 ức đã giác ngộ cũng xuống 1 lượt để độ tiếp 92 ức còn lại.

\

Quí Cao hữu!

Lúc mới có nhân loại thì chỉ có 2 ông bà: ông Adong và bà Eve, hoặc cao lắm là mười mấy ngàn con người thôi thì làm sao có đủ 100 ức nguyên nhân chớ. (Đức Phật Mẫu cho xuống trần một lượt mà!!! Phải có đủ 100 ức chớ!!!)

Còn hiện giờ thì cả nhân loại đến cả mấy tỷ người!!! Con số vượt quá xa 100 ức!!! (1 ức = 100.000)

Như vậy thì chúng ta phải hiểu 100 ức nguyên nhân như thế nào cho hợp lý? Chúng ta phải chú ý một đặc điểm là xuống trần một lượt, chớ không phải kẻ trước người sau!!!

Quí Cao hữu!

Chúng ta nên hiểu Đức Phật Mẫu ở đây là ám chỉ Thân Mẫu của chúng ta, tức là Bà Mẹ của chúng ta đó! "Cho xuống trần" là ám chỉ Bà mẹ "sanh ra" chúng ta. Tám ức là ám chỉ cả cái bộ não của chúng ta. Bộ não tức là chơn thần, là trí giác cung (xem mấy bài trước) là đã được giác ngộ. Số còn lại là "Chín mươi hai ức" (Cửu thập nhị tào chi mê muội ) là ám chỉ từ cổ xuống đến cả tứ chi!!! Tóm lại:

"Đức Phật Mẫu = Chính là Mẹ của chúng ta.

"Cho xuống trần = Sanh ra chúng ta.

" 8 ức giác ngộ = Là bộ não, là Tâm, là chơn thần.

" 92 ức mê muội = Là cái thể xác của chúng ta.

" 100 ức nguyên nhân = Chơn thần + thể xác.

Quí Cao hữu!

Mỗi người chúng ta ai ai cũng có đủ 100 ức Nguyên Nhân bằng nhau hết!!! 100 ức nguyên nhân đó là của chính chúng ta, chớ không có gì ngoài chúng ta đâu!!! (Cũng như mọi người đều có bằng nhau đủ 32 cái răng vậy!!! Chỉ trừ một vài trường hợp ngoại lệ đặc biệt mà thôi).

Trong NGỌC LỘ KIM BÀN, Đức Phật Mẫu còn có nói cho chúng ta mỗi người một cái "Túi đựng bát bửu" gọi là Bát Bửu Nang. Quý bạn còn giữ cái túi Bát Bửu Nang đó hay không? Nếu còn giữ thì mở miệng túi ra xem còn đủ tám món báu không? Còn đủ tám món báu mới được "Quê xưa trở, cõi đoạ từ".

Cái túi Bát Bửu chính là cái túi da (thể xác) của Quí bạn đó!!! Trong túi da đó có chứa đủ 8 món báu là : Tam Bửu cộng với Ngũ Khí (Ngũ khí triều nguyên, tam hoa tụ đảnh mà!!!). Cái túi da đó chính là cái nhà riêng (thể xác) của Quí bạn, trong đó có 100 ức Nguyên Nhân đang trú ngụ có đầy đủ hộ khẩu đàng hoàng hợp lệ!!!

HÓA NHÂN – QUỈ NHÂN – NGUYÊN NHÂN

Kinh Phụ Tế:

Ơn tạo hóa tha tiền khiên trước!

Đưa linh phần tiếp rước Nguyên Nhân!!!

Tiên Phong phủi ngọn phất trần!

Liên đài đỡ gót đến gần Tây Phương!!!

\

Quí Cao hữu!

Ơn tạo hóa đã tha tiền khiên trước, lại còn đưa linh phần mà tiếp rước Nguyên Nhân!!! Nên nhớ là Linh Phần chỉ tiếp rước nguyên nhân chớ không có rước Quỉ nhân hay là Hóa nhân!!!

Đạo Pháp trường lưu, khai cửu thập nhị tào chi mê muội!!! 92 ức nguyên nhân đang bị trầm luân ở biền trần khổ vơi vơi trời nước!!!

Nguyên nhân!!! Làm sao chúng ta biết được chúng ta có phải là nguyên nhân hay không? Nếu không phải là nguyên nhân thì chúng ta là gì??? Quỉ nhân hay là Hóa nhân???

Nếu không phải là nguyên nhân thì chúng ta bị đọa mãi hay sao??? Vì Linh Phần chỉ tiếp rước nguyên nhân mà thôi!!! Chúng ta không còn hy vọng được Linh Phần tiếp rước hay sao???

Quí Cao hữu!

Hôm nay chúng tôi sẽ gởi tặng cho Quí Cao hữu một cái "KIẾNG CHIẾU YÊU" để Quí bạn soi mặt vào đó thì sẽ biết được mình là Hóa nhân, Quỉ nhân hay là Nguyên nhân!!! Cái kiếng chiếu yêu đó có một cái đặc điểm là chỉ chính mình biết mình mà thôi, không ai có thể nhìn trộm người khác mà biết được!!! Do đó, Quí bạn cứ mạnh dạn nhìn vào kiếng, đừng sợ ai nhìn trộm cả!!!

Quí Cao hữu!

Thật ra, nguyên nhân, quỉ nhân và hóa nhân chỉ là ba bản chất trong một bản thể con người mà thôi!!! Chúng ta sẽ tuần tự tìm hiểu từng bản chất một.

* Hóa nhân: Loài thú vật mới được lên làm người, gọi đó là Hóa nhân. Hóa nhân thì còn đầy thú tính và ngu muội!!! Chúng ta hãy tự xét mình xem coi Tâm mình còn thú tánh và còn ngu muội hay không? Nếu còn như vậy thì chúng ta chính là Hóa nhân vậy!!! Nếu là Hóa nhân thì chúng ta đừng mong Linh Phần tiếp rước!!! Tóm lại, hai chữ "Hóa nhân" chỉ là ngôn từ để ám chỉ cái bản chất "Thú tánh và ngu muội" của con người mà thôi!

* Quỉ nhân:  Hóa nhân luân hồi đầu kiếp nhiều lần nên học được nhiều sự khôn ngoan nhưng vẫn còn thú tánh ác độc, giờ đây Hóa nhân được biến thành Quỉ nhân!!! Quỉ nhân biết là việc ác độc mà vẫn cố ý làm vì việc đó có ích lợi riêng cho cá nhân mình!!! Hóa nhân làm việc ác mà không biết vì còn ngu si mê muội!!! Hóa nhân làm ác mà không biết, còn Quỉ nhân biết ác mà vẫn cố ý làm!!!

Tóm lại, hai chữ "Quỉ nhân" chỉ là ngôn từ để ám chỉ cái bản chất "Tinh ma quỉ quái" của con người mà thôi!!! Chúng ta cũng tự xét nếu chúng ta còn bản chất "Tinh ma quỉ quái" thì chúng ta chính là Quỉ nhân vậy!!! Nếu là Quỉ nhân thì chúng ta cũng đừng mong được Linh Phần tiếp rước!!!

* Nguyên nhân: Nếu chúng ta xét thấy chúng ta không còn bản chất Hóa nhân (NGU), cũng không còn bản chất Quỉ nhân (ÁC) thì chúng ta chính là Nguyên nhân vậy!!! Bây giờ chúng ta mới có hy vọng được Linh Phần tiếp rước!!!

Nói rõ hơn, nguyên nhân là con người nguyên chất, đúng nghĩa bản chất của một con người!!! Nguyên nhân là một con người không còn lẫn lộn thú chất ở trong đó!!!

Một người được gọi là nguyên nhân thì phải có đủ 2 điều kiện sau đây:

1. Sáng suốt trí huệ: Tức là không còn bản chất NGU của Hóa nhân!!! Trí huệ sáng suốt = Thánh (chất)!

2. Tâm từ bi: Tức là không còn bản chất ÁC của Quỉ nhân!!! Tâm từ bi = Thiện!!!

Tóm lại, hai chữ "Nguyên nhân" chỉ là ngôn từ để ám chỉ cái bản chất THÁNH THIỆN của con người mà thôi!!! THÁNH là trí huệ sáng suốt. THIỆN là Tâm từ bi, thương yêu hết vạn loài!!!

Tóm lại, trong một bản thể con người có đủ 3 bản chất:

- Một là NGU!!! Tức là bản chất của Hóa nhân!!!

- Hai là ÁC!!! Tức là bản chất của Quỉ nhân!!!

- Ba là THÁNH THIỆN!!! Tức là bản chất của nguyên nhân!!!

Quí Cao hữu!

Chúng ta tu là chúng ta làm một cái công việc loại bỏ cái NGU và cái ÁC ra khỏi bản thể của chúng ta!!! Bản thể của chúng ta không còn cái NGU, tức là chúng ta được trí huệ sáng suốt! Bản thể của chúng ta không còn cái ÁC, tức là chúng ta được cái Tâm từ bi thiện lành!

Khi bản thể của chúng ta đã đạt được trí huệ sáng suốt và một cái Tâm thiện lành thì đó là đương nhiên chúng ta đã đạt được Tâm Thánh Thiện của bậc nguyên nhân vậy!!!

Tổng tóm lại, khi nhìn và "Kiếng chiếu yêu" (tức là đọc hết bài viết này) mà thấy mình vẫn còn bản chất hóa nhân và quỉ nhân thì chúng ta đừng vội nản chí!!! Là vì nhờ có chí công tu hành thì chúng ta cũng vẫn được trở tành Nguyên nhân như thường!!! Lúc đó, chúng ta cũng được Linh Phần tiếp rước đưa về cõi Tây Phương Cực Lạc vậy!!!

 

TRỤ CĂN

Kinh Cúng Phật Mẫu:

Phục nguyên nhân hườn tồn Phật Tánh!

Giáo hóa hồn hữu hạnh hữu duyên.

Trụ căn quỉ khí Cửu tuyền!

Quảng khai Thiên Thượng tạo quyền chí công!!!

\

Trước hết, chúng ta cũng cần định nghĩa một số ngôn từ cần thiết.

* Phục nguyên nhân: Nguyên nhân là bản chất Thánh Thiện (xem bài trước). Chúng ta tu đức sửa mình cho đạt được bản chất thánh thiện gọi là Phục nguyên nhân.

* Căn: Là nguyên căn, là bổn tánh, là Bổn Lai Diện Mục, là Phật Tánh, là Chơn Linh, là Lương Tâm, là Điểm Linh Quang, là Ngươn Thần, là Nguyên Tánh...

* Quỉ khí: Là quái khí, là trược quang, là bản chất độc ác của quỉ nhân, là tà niệm, là tật xấu...

* Cửu tuyền: Nghĩa đen là chín suối, nghĩa bóng Cửu tuyền là chết, là bị tiêu diệt, là bị chìm xuống dưới, là không còn ngóc đầu lên được, là bị chế tài...

* Thiên thượng: Thiên là Tâm. Ở đây thiên thượng được hiểu là Bộ não, là bộ đầu, là Chơn thần, là cái Tâm...

* Quãng khai Thiên Thượng: Là khai mở được bộ đầu, tức là cái Tâm được trí huệ sáng suốt, được Bát Nhã...

* Trụ căn: Là cái Tâm an trụ vào trong Phật Tánh, an trụ vào Ngươn thần, an trụ vào Nguyên Tánh, an trụ vào Bổn Tánh, an trụ vào Tịnh Thất (Bổn Lai Diện Mục) của chính mình!!! (Xem bài Kho tàng bí tạng Như Lai).

Quí Cao hữu!

Bản chất thánh thiện của bậc Nguyên Nhân cũng chính là bản chất thánh thiện của Phật Tánh, của Lương Tâm!!! Phục nguyên nhân có nghĩa là trở về với cái bản chất Thánh Thiện của Lương Tâm!!!

Trong kinh sách có câu "Thường trụ ngươn thần thì mọi đường bặt!!!".

Thường trụ ngươn thần: Là trụ căn, là luôn luôn lúc nào cũng trụ vào bản chất Thánh Thiện của Lương Tâm. (Chánh niệm luôn luôn hiện tiền trong Tâm).

Mọi đường: Là các tật xấu, là quái khí, là quỉ khí.

Bặt: Là chấm dứt, là vắng bóng, là chết, là Cửu tuyền...

Mọi đường bặt là các tật xấu, các quỉ khí đều bị tiêu diệt!!! Đó là nhờ thường trụ vào Ngươn Thần!!! Cho nên, trong Kinh Phật Mẫu mới có nói: Trụ căn (thường trụ Ngươn thần) thì các quỉ khí (các tật xấu, là niệm) sẽ bị Cửu tuyền!!! (bị tiêu diệt). Khi chúng ta đạt được: "Trụ căn quỉ khí Cửu tuyền" rồi thì chúng ta sẽ quãng khai được thiên thượng (khai mở trí huệ cho Tâm) mà tạo quyền chí công.

Trong bài Kinh Phụ Tế cũng có câu:

Trụ nguyên Tánh hồn linh nhàn lạc!

Cõi Đào Nguyên cỡi Hạc thừa Long!

Lánh xa trược chất bụi hồng!

Cung Tiên sớm tối vui vòng thung dung!!!

Quí Cao hữu!

Đến đây, Quí bạn đã thấy được sự ích lợi của việc TRỤ CĂN rất là quan trọng!!! Nhờ Trụ căn mà chúng ta tiêu diệt được các tật xấu (quỉ khí cửu tuyền!!!) Nhờ trụ căn mà chúng ta được hồn linh nhàn lạc, được cỡi Hạc thừa Long, thong dong Cung Tiên Cảnh!!! Nhờ Trụ căn mà chúng ta được trí huệ Bát Nhã (Quãng khai thiên thượng)

* Áp dụng thực tế trong việc tu tập:

Trụ căn là cái tâm của chúng ta thường trụ vào ngươn Thần. Đó là lời nói trên lý thuyết!!! Còn việc thực hành thì sao?

Trước tiên, chúng ta lựa chọn một Chánh Niệm, dĩ nhiên cái Chánh Niệm này có một nội dung ý nghĩa rất là Thánh Thiện, bản chất của Ngươn Thần! (Phật Tánh...) Sau đó, cái Tâm của chúng ta cứ tụng niệm mãi mãi cái Chánh Niệm này!!! Đừng có ngừng tu (tụng niệm) 5 phút!!! Chúng ta công phu như vậy thì được gọi là Trụ căn, là thường trụ Ngươn Thần!!! Xin xem bài "Chánh Niệm hiện tiền" thì sẽ rõ hơn. Chúc Quí Cao hữu thành công!!!

TU MAU KẺO TRỄ

Thánh Ngôn:

Cái Xuân kia chẳng đợi người mà tuồng đời càng gay trở! Lần qua Thỏ lặn, Ác tà, bóng thiều quang nhặt thúc, nguồn hy vọng tương lai chưa thấy mà bước đời xem đã mòn mỏi!!! Kiếp phù sinh không mấy lát!!! Sự Thác vô tình đến vẽ cuộc sanh ly, pha màu tử biệt, làm cho sự hoan lạc giàu sang danh vọng đều thành ra một giấc Huỳnh Lương mộng!!! Rồi đây, phải vĩnh biệt ngàn năm mà tội tình lại muôn kiếp!!!

Ai biết tự xét thì mau tiến bước đặng nhờ thân, còn luyến trần thì cam chịu khổ!!!

Đạo Trời mầu nhiệm!!!

Mau khá kiếm tìm!!!

\

Quí Cao hữu!

Cách đây cả ngàn năm, cũng có người đã nhắc nhở chúng ta "Tu mau kẻo trễ"!!! Cho đến hiện giờ lại cũng có người nhắc nhở chúng ta "Tu mau kẻo trễ"!!! Chắc về sau này, con cháu chắt của chúng ta cũng sẽ được có người nhắc nhở: "Tu mau kẻo trễ"!!! Như vậy bất cứ vào thời đại nào cũng có người nhắc nhở "Tu mau kẻo trễ"!!!

Quí Cao hữu!

Tu mau kẻo trễ!!! Vậy trễ điều gì? Trễ cuộc thi Long Hoa hội chăng? Có cái móc thời gian nào đã được ấn định để biết sự trễ chăng? Sau đây là vài lý do cho thấy chúng ta cần phải rốt ráo tu hành.

* Trễ với Tuổi Xuân: Phải có đủ sức khoẻ mới có thể làm công quả và thực hiện công phu được. Do đó, phải tu liền ngay bây giờ kẻo tuổi già lão nhược bịnh hoạn nó xống xộc kéo đến thì làm sao tu được!!! Như vậy, bỏ qua tuổi xuân là trễ rồi!!!

* Trễ với tử thần: Phải có cái thể xác mới tu được! Do đó phải tu liền ngay kẻo tử thần cướp mất thể xác của chúng ta vào bất cứ lúc nào mà không bao giờ báo trước!!! Đức Phật Thích Ca cũng có dạy:

Mạc đại lão lai phương học Đạo!!!

Cớ phần tận thị thiếu niên chơn!!!

Quí Cao hữu!

Tử thần không chờ ai!!! Thời gian không dừng lại!!! Đạo trời khó gặp!!! Thân này khó có!!! Vậy chúng ta phải trân trọng và rốt ráo:

Rắp nhập cảnh thiêng liêng hằng sống!!!

Chốn quê xưa giải mộng trần gian!!!

Tâm kệ:

Không chừng lát nữa chết!

Sẽ phải từ bỏ hết!!!

Mới thấy được vô thường!!!

Thì đã gặp Diêm Vương!!!

NGÂN KIỀU BÁT NHÃ QUA ĐÒ
ĐƯA DUYÊN ĐỂ BƯỚC KỊP GIỜ SIÊU THĂNG

 

ĂN THỊT TAM TẠNG

Tây Du Ký:

Trên đường đi Tây phương thỉnh kinh, Tam Tạng thường xuyên bị lũ yêu quái bắt để ăn thịt vì thịt Tam Tạng rất quí, chỉ ăn một miếng thôi cũng đủ sống ngàn năm!!!

\

Quí Cao hữu!

Thịt Tam Tạng quí ở chỗ nào? Tại sao lũ yêu quái không bao giờ ăn thịt được Tam Tạng? Nếu thịt Tam Tạng quí thật thì khi bắt được Tam Tạng thì chúng nó "quàm" sống ngay đi chớ chờ nấu nướng làm chi cho bị mất "con mồi"!!! Quí Cao hữu có thích "ăn thịt" Tam Tạng không?

* Tam Tạng: Là tượng trưng cho 3 tạng kinh thượng thừa của Phật, trong đó có chứa rất nhiều bí kíp tu thành Phật, sống bằng Trời Đất!!!

* Ăn thịt: Nội dung ý nghĩa các bí kíp trong Tam Tạng được gọi là thịt của Tam Tạng (Kinh). Ai đọc hiểu và thực hành được cái bí kíp đó thì thoát. Nói theo cách khác là sống được ngàn năm!!!

* Tại sao yêu quái không ăn được thịt Tam Tạng: Lũ yêu quái ám chỉ một hạng người có bản chất hóa nhân, trình độ quá thấp thỏi, lúc nào cũng tham sân si và chứa đầy dục vọng thấp hèn nặng trược, thì làm sao có đủ sáng suốt trí huệ để đọc Tam Tạng Kinh thượng thừa chớ!!! Đọc còn chưa được thì nói gì đến hiểu và thực hành!!! Không đọc được Tam Tạng gọi là không "ăn thịt" được Tam Tạng

Lũ yêu quái nghe nói Tam Tạng Kinh của Phật rất quí, nếu tu luyện theo sẽ thành Phật và sống thọ ngàn năm trở lên, cho nên lũ chúng nó tìm đủ cách kể cả cướp giựt, thỉnh cho được Tam Tạng Kinh đem về nhà... rồi để "làm cảnh" mà thôi, chớ làm sao đọc được (ăn thịt) Tam Tạng Kinh!!! Đọc đến đây, khi hiểu được thịt Tam Tạng rồi thì chắc chắn Quí Cao hữu rất thích ăn thịt Tam Tạng, có phải không? Chúng tôi sẽ chỉ chỗ có thịt Tam Tạng để Quí bạn dùng thoải mái!!! Đó là cuốn kinh Cúng Tứ Thời, các Thánh Ngôn, Thánh Giáo của Đạo Cao Đài!!! Trong Đạo Cao Đài có đầy đủ các món ăn tinh thần, không thiếu một món nào hết vì là Tam giáo qui nguyên ngũ chi phục nhứt mà!!! Chỉ khi nào thấy cần thiết, Quí Cao hữu có thể đọc tham khảo các kinh sách khác của Tam Giáo.

Hiện thời, các Cao Đạo hữu còn hiểu "ăn thịt Tam Tạng" theo một nghĩa mới nữa: "ăn thịt Tam Tạng" có nghĩa là "ăn đậu hũ" hoặc có nghĩa rộng hơn là "ăn chay".

Xin hỏi thật nhỏ, Quí Cao Đạo hữu đang "ăn thịt Tam Tạng" mười ngày trong tháng hay là ăn trường luôn!!!

NHẬP TRONG BÁT QUÁI

Kinh Cầu Siêu:

"Ba mươi sáu cõi Thiên Tào!

Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc-Hư!

Quê xưa trở, Cõi đọa từ!

Đoạt cơ thoát tục bấy chừ tuyệt luân!!!"

\

Trong bài "Quán đàn", Đức Hộ Pháp có dạy: "Ai có đi Quán đàn thì trực tiếp được vào Ngọc Hư Cung mà khỏi cần nhập trong Bát Quái". Còn ở đây, Kinh Cầu Siêu lại nói phải nhập trong Bát Quái rồi mới vào Ngọc Hư Cung!!! Như vậy, có sự mâu thuẫn nhau không? Chúng ta phải hiểu như thế nào?

Trước hết chúng ta định nghĩa một vài ngôn từ.

* Ba mươi sáu cõi Thiên tào: Trong Giáo lý của Phật có dạy: Trong thể xác của chúng ta có 36 khối bất tịnh!!! Như vậy thì 36 cõi thiên tào chính là 36 khối bất tịnh, hay nói rõ hơn, 36 cõi Thiên tào chính là cái thể xác của chúng ta.

* Nhập trong Bát Quái: Là nhập vào trong cuộc sống!!! Đạo Cao Đài chủ trương nhập thế rồi mới xuất thế!!! Nhập thế có nghĩa là nhập vào cuộc sống, là nhập trong Bát Quái!!! Xuất thế có nghĩa là từ bỏ cõi đọa, là vào Ngọc Hư Cung!!!

* Bát Quái là cuộc sống: Quí bạn, nhìn Chợ Long Hoa thì biết. Chợ là nơi sinh hoạt của cuộc sống. Chợ Long Hoa có 8 cửa, đó chính là Bát Quái đồ trận!!! Vào chợ Long Hoa có nghĩa là nhập trong Bát Quái đồ trận, coi chừng bị kẹt luôn trong đó!!! Vì trong đó, có đủ thứ ma lực thu hút dụ dỗ chúng ta!!!

Quí Cao hữu!

Tại sao chúng ta phải nhập vào cuộc sống rồi mới được vào Ngọc Hư Cung? Chúng ta nhập vào cuộc sống là để học hỏi tường tận cái cuộc sống này. Thánh Ngôn có dạy: "... có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy rõ cuộc nhục vinh buồn vui không mấy chốc!!! Chẳng qua là vay trả, trả vay cho đặng đồng cân!!! Chung cuộc lại thì mới thấy trò đời chẳng qua chỉ là một giấc huỳnh lương mộng!!!

Quí Cao hữu thấy chưa? Có nhập vào cuộc sống mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy rõ cuộc sống này chính là cõi đọa đày!!! Do đó, chúng ta mới có quyết tâm từ bỏ cõi đọa này mà lo việc trở về quê xưa!!! Quê xưa của chúng ta chính là Ngọc Hư Cung!!! Tuy nhiên, muốn trở về được Ngọc Hư Cung vĩnh viễn thi chúng ta chí công tu hành làm sao đạt cho được cơ thoát tục thì mới mong dứt tuyệt nẻo luân hồi!!! (Tuyệt luân = Chấm dứt luân hồi!).

KIM GIÁC ĐẠI VƯƠNG

Tây Du Ký:

Bốn Thầy trò Tam Tạng đi Tây phương thỉnh kinh đến một ngọn núi nọ bị hai tướng cướp núi có đầy đủ thần thông phép tắc đánh mấy trận tơi bời. Tôn Hành Giả đánh không lại, phải đi cầu cứu Đức Phật Bà Quan Âm mới qua được khỏi núi. Hai tướng cướp núi đó xưng danh là Kim Giác Đại Vương và Ngân Giác Đại Vương!!!

\

Quí Cao hữu!

Tất cả chúng ta khi được sanh ra là đã bắt đầu nhập vào cuộc sống, là đã bắt đầu nhập vào Bát Quái đồ trận.

Bắt đầu nhập vào cuộc sống là bắt đầu đấu tranh sinh tồn để lo giải quyết cái Nạn áo cơm!!! Muốn giải quyết nạn áo cơm thì chúng ta phải đánh nhau với Kim Giác Đại Vương và Ngân Giác Đại Vương!!! Tại sao chúng ta lại phải đánh nhau với hai tướng cướp này?

Quí Cao hữu ghép lại với nhau hai chữ đầu của hai danh xưng: Kim + Ngân = Kim Ngân!!! Kim ngân chính là tiền bạc!!! (Đa kim ngân sẽ phá luật lệ mà!!!). Trong cuộc sống, tranh đấu để kiếm tiền là KIM NGÂN!!! Nói theo nghĩa rộng là tranh đấu, là đánh nhau với Kim Giác Đại Vương và Ngân Giác Đại Vương!!! Tất cả chúng ta, ai ai cũng phải đánh nhau với hai tên này: Nếu thắng thì chúng ta được giàu sang, sung sướng!!! Còn nếu thua thì chúng ta phải bị nghèo khổ, đọa đày!!!

Hai tên Đại Vương này "quậy" chúng ta, "quầng" chúng ta một cách dữ dằn, thường làm cho chúng ta bị tơi bời hoa lá cành!!! Do đó, chúng ta cần phải luôn luôn cảnh giác đối với hai tên này, tức là luôn luôn quan tâm đến tiền bạc, luôn luôn quan tâm đến ngân sách của gia đình, bằng cách cần mẫn làm việc để kiếm ra tiền đồng thời phải biết tiết kiệm số tiền đã kiếm được!!!

* Cầu cứu Quan Âm: Quan tâm đến vấn đề tiền bạc, tức là quan tâm đến vấn đề vật chất, âm chất!!! Lúc nào chúng ta cũng cảnh giác và quan tâm đến vấn đề âm chất (tiền bạc, vật chất) gọi tắt là Quan Âm!! (Hai chữ quan và âm được gạch đít).

Nếu lúc nào chúng ta cũng quan âm tức là lúc nào chúng ta cũng quan tâm đến vấn đề âm chất tiền bạc thì chắc chắn hai tên Kim Giác Đại Vương và Ngân Giác Đại Vương không thể nào quậy phá chúng ta được nữa đâu!!! Vấn đề này được gọi theo nghĩa bóng là: Cầu cứu Đức Phật Bà Quan Âm!!! Cầu cứu Quan Âm đồng nghĩa với siêng năng làm việc kiếm tiền và biết tiết kiệm!!!

 

TRUYỆN VỀ MA VƯƠNG

* Ma Vương có 3 người con gái. Người con gái đầu lòng rất đẹp, đẹp hơn cả Đắc Kỷ của Trụ Vương nữa!!! Bất cứ ai thấy nàng cũng đều muốn giao hoan với nàng nên đều trở thành Phò Mã, tức là làm Rễ của Ma Vương!!!

Nàng có cái tên là ÁI DỤC!!! Hầu hết chúng ta đều bị ma lực của nàng mà trở thành quyến thuộc của Ma Vương!!! Chúng ta hãy tự xét xem có phải như vậy không? Hỏi tức là trả lời rồi!!!

* Còn người con gái thứ hai của Ma Vương cũng sắc đẹp nghiêng thành đổ nước, đẹp hơn cả sắc đẹp Tây Thi của Vua Ngô Phù Sai nữa!!! Cũng vậy, bất cứ ai thấy nàng cũng đều muốn giao hoan với nàng ngay lập tức, cho nên tất cả đều trở thành Rễ của Ma Vương!!!

Nàng có cái tên là MONG CẦU!!! Hầu hết chúng ta đều bị ma lực của nàng mà trở thành quyến thuộc của Ma Vương!!!

* Trái ngược với 2 người chị, người con gái út của Ma Vương rất là xấu, xấu hơn cả Chung Vô Diệm nữa!!! Tánh tình nàng lại ác độc, cộc cằn, lúc nào cũng nhăn nhó bực bội!!! Thế mà, hầu hết chúng ta cũng lại bị ma lực của nàng mà trở thành quyến thuộc trong gia đình của Ma Vương hết ráo!!! Nàng có cái tên là BẤT MÃN!!!

* Tóm lại, Ma Vương có 3 người con gái tên là Ái Dục, Mong Cầu và Bất Mãn!!! Chính 3 người con gái này đã làm cho chúng ta đời đời kiếp kiếp phải bị trầm luân đau khổ!!! Vậy, chúng ta hãy mau mau tỉnh giấc để tìm cách (pháp tu giải thoát) ly dị cả 3 nàng!!! Nếu chưa ly dị được thì ít ra cũng phải ly thân!!! Trân trọng!!!

Tâm kệ:

Một kiếp phù sinh qua rất mau!!!

Chỉ toàn nghiệp chướng với thương đau!!!

Sao chưa tỉnh thức lo tu sửa?

Mà cứ trầm luân mãi biển sâu!!!

Tâm kệ:

Đời chỉ là giấc mộng!

Rốt cuộc cũng hoàn không!!!

Mau mau từ bỏ hết!!!

Mới nhẹ nhàng khi chết!!!

 

CẦU SIÊU

Kinh Phụ Tế:

Cửa Cực Lạc đón đường thẳng tới!

Tầm không môn đặng đợi Như Lai!

Hào quang chiếu diệu Cao Đài!

May duyên nay đã gặp ngày SIÊU SANH!!!

\

*SIÊU SANH là:

Cầu siêu lúc sanh tiền!

Đừng đợi chết rồi khiêng!

Lúc đó siêu sao kịp!

Vẫn phải xuống Cửu Tuyền!!!

\

Quí Cao hữu!

Phần đông các Cao Đạo hữu ai cũng nghĩ rằng một cuộc tế lễ cầu siêu tại đám tang chỉ có một mục đích duy nhất là để CẦU cho người chết được SIÊU thoát luân hồi!!!

Có thật được siêu thoát không? Nếu không thì tổ chức lễ cầu siêu để làm gì? Tại sao ngày trước, Đức Hộ Pháp khuyên chúng ta nên đi cầu siêu cho thật đông, càng đông càng tốt!!! Đức Hộ Pháp khuyên như vậy có ý nghĩa gì?

Quí Cao hữu!

Giả sử, lúc còn sanh tiền, người chết không lo tu hành gì cả mà chỉ tạo bể dâu nghiệp chướng tày trời thì chúng ta cầu cho người đó siêu thoát được không? Chắc chắn là không!!! Như vậy thì đi cầu siêu cho thật đông để làm gì? Chúng ta đi thật đông để cầu xin các Đấng thiêng liêng giảm bớt tội tình cho người chết, cầu xin càng đông thì kết quả càng nhiều. Trong bài kinh cầu siêu có mấy câu sau đây để chứng minh điều đó.

Chốn Dạ đài Thập Điện Từ Vương,

Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết.

Giảm hình phạt bớt đường ly tiết!!!

Ngoài ý nghĩa cầu xin giảm hình phạt cho người chết, một cuộc tế lễ cầu siêu còn có ý nghĩa thật quan trọng và căn bản: Đó là cầu siêu cho những người còn sống!!! Cầu siêu cho chính chúng ta, tức là cầu siêu cho những người đang có mặt tham dự buổi lễ cầu siêu!!! Vì lý do đó mà ngày xưa Đức Hộ Pháp khuyên chúng ta đi cầu siêu càng đông càng tốt!!! Lý do nào dám nói cầu siêu cho những người còn sống? Quí Cao hữu, tất cả các bài tế lễ cầu siêu đều có nội dung dạy Đạo, nếu chúng ta hiểu được các nội dung đó để tu hành ngay lúc còn sống thì chúng ta sẽ được siêu thoát đang lúc còn sanh tiền!!! Gọi tắt là Siêu Sanh!!!

Quí Cao hữu!

Có cái thể xác chúng ta mới tu được. Lúc còn sanh tiền, tại sao chúng ta không lo cầu siêu đi, đợi đến lúc chết rồi thì làm sao tu kịp!!!

Cầu siêu lúc sanh tiền!

Đừng đợi chết rồi khiêng!

Lúc đó siêu sao kịp!

Vẫn phải xuống Cửu Tuyền!!!

(Thì đã gặp Diêm Vương!!!)

 

Dễ gì lộn kiếp đặng làm người!!!

May đặng làm người chớ dễ duôi!!!

(Giới Tâm Kinh)

 

 

Quí Cao hữu!

Chính bản thân chúng tôi nhờ có đi cầu siêu nhiều lần nên nghe kinh, thuộc được kinh và nhất là nhờ các Đấng thiêng liêng khải ngộ cho thấu hiểu được nội dung các bài kinh, rồi từ đó mà lo tiếp tục tu hành...

Tóm lại, một cuộc tế lễ cầu siêu trong đám tang của Đạo Cao Đài có mấy ý nghĩa chánh sau đây:

+ Cầu xin giảm tội cho người chết.

+ Cầu siêu cho những người còn sống.

* Đi dự lễ cầu siêu cho thật đông, càng đông càng tốt. Trước hết là để cầu nguyện cho người chết, sau nữa chung đậu tiền phúng điếu giúp đỡ tang gia lo đám tang. Đây là "Điểm son" của Đạo Cao Đài!!!

 

LỤC ĐỘ

 Thánh Ngôn:

Tu thân còn chưa xong thì thế nào mới mong mỏi thành Tiên Phật đặng!!!

Thánh Ngôn:

Thầy chẳng vì ghét mà không để lời khuyến dụ!!! Cũng không vì thương mà không sai quỉ dỗ dành!!! Thấy nói trước cho các con biết mà giữ mình: Chung quanh các con, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con, Thầy lại hằng xúi chúng nó cứ thừa dịp mà cắn xé các con!!! Song, trước đó Thầy đã cho các con mặc một bộ đồ thiết giáp mà chúng nó chẳng hề thấy đặng!!! Đó là Đạo đức của các con!!! Ấy vậy, ráng gìn giữ bộ thiết giáp ấy hoài cho tới ngày các con hội hiệp cùng Thầy!!!

\

Quí Cao hữu!

Tu thân còn chưa xong thì thế nào mong mỏi thành Tiên Phật đặng!!! Vậy muốn tu thành Tiên Phật thì trước hết chúng ta phải tu thân!!! Chúng ta nên bắt chước cách tu thân của các vị Phật và các vị Bồ Tát trước kia đã thực hành. Đó là 6 đức tánh mà một vị Bồ Tát cần phải có và thực hành liên tục. Sáu đức tánh này bên Đạo Phật gọi là Lục Độ!! (Sáu pháp độ chúng ta giải thoát).

Đạo Cao Đài chính là Phật giáo chấn hưng. Cho nên lục độ Phật  Giáo cũng được biến thành lục độ mới của Đạo Cao Đài!!! Lục độ là sáu đức tánh, là sáu pháp tu giúp chúng ta được giải thoát!!!

Chúng ta hãy tuần tự tìm hiểu từng pháp một.

1- Hỉ xã (bên Đạo Phật là Bố Thí):

Hỉ là vui vẻ, là lạc quan trong mọi hoàn cảnh, nói khác hơn là sống lạc quan, sống tích cực, sống yêu đời!!!

Xã là buông bỏ, là tha thứ, là bao dung, là quảng đại, là không cố chấp!!!

Sống bằng đức tánh hỉ xã như đã nói ở trên thì chúng ta được an lạc, nhẹ nhàng, thoải mái. Hỉ xã là một "độ" trong "lục độ", bao trùm luôn độ "Bố Thí" của Phật Giáo nữa!!!

2- Vô sanh (bên Đạo Phật gọi là Trì Giới):

(Xem bài Vô Sanh Pháp).

Vô Sanh là không sanh sự nữa, là không tạo ra nghiệp chướng, là không tạo ra bể dâu, là không tạo điều ác trược... Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy: Ai biết thực hành Vô Sanh thì Tây Phương Cực Lạc ở ngay trước mắt!!! Đã Vô Sanh thì còn cần gì phải trì giới nữa, cho nên đức tánh "Vô Sanh" bao trùm cả "Trì Giới" là độ thứ nhì bên đạo Phật Giáo!!!

3- Chấp nhận (bên Đạo Phật là Nhẫn Nhục)

Đã chấp nhận thương đau thì đừng hỏi tại sao! Một tín đồ Thiên Chúa Giáo nói: "Lạy Chúa, con đã quá đau khổ rồi!!! Xin Chúa ban thêm cho con sự đau khổ nhiều hơn nữa!!!".

Một tín đồ Cao Đài cũng có nói:

"Cái khổ của Đời mình ước vọng!!!

Cái chê của chúng lại nài cầu!!!

Ở đời chẳng có chi sầu!!!

Luyện Tâm khổ hạnh qua cầu sông Ngân!!!"

Trong bài Kinh Tắm Thánh cũng có câu:

"Trăm năm thọ khảo vĩnh trường!!!

Thuận căn, thuận mạng đôi đường cao thăng!!!"

(Thuận căn, thuận mạng = Chấp nhận vui vẻ và hỉ xã).

Quí Cao hữu!

Chúng ta chấp nhận cái khổ một cách vui vẻ thì cái khổ hóa thành bạn thân của chúng ta rồi, cái khổ không còn là đối tượng để chúng ta phải đối đầu, phải tư duy phiền não nữa!!! Điều đó, vô hình trung, chúng ta đã hóa giải được cái khổ!!! Hóa giải được cái khổ cũng có nghĩa là chúng ta đã được giải thoát vậy!!!

Cái đức tánh "Chấp Nhận" này bao trùm luôn cả cái độ "Nhẫn Nhục" bên Phật Giáo!!!

4- Thành tín (bên Đạo Phật là Tinh Tấn)

Xin xem bài Tịch Đạo Đạo Tâm.

Thành là lòng nhiệt thành, là hạ quyết tâm tu hành. Tín là tin tưởng đạt được sự thành công. Thành và tín là hai điều kiện căn bản quan trọng trong đời tu cũng như trong đời thường!!! Có thành tín mới có thành công!!!

Cái đức tính "Thành tín" này cũng bao trùm cả cái độ "Tinh Tấn" bên Đạo Phật!!! Tịnh Tấn là tiến bộ nhưng không nhanh bằng Thành tín!!!

5- Thiền định (bên Đạo Phật cũng là Thiền Định)

Các vị Phật, các vị Bồ Tát, các vị cổ đức thiền sư đều nhờ thiền định mà Thành Đạo!!! Pháp tu thiền định có hai phần: Thiền QUÁN và Thiền CHỈ.

* QUÁN: Là quán tưởng, là tư duy, là cách vật trí tri, là phân biệt suy xét để hoát ngộ Chơn lý.

* CHỈ: Là tỉnh chỉ, là vô niệm, là không phân biệt, là buông xã, là giải thoát!!!

Tu Quán và Tu Chỉ cần phải thay đổi nhau luôn. Quán đến lúc mệt rồi thì sang qua Chỉ, Chỉ đến lúc tỉnh thì sang qua Quán.

Nếu Quán thái quá thì sẽ bị điên loạn!!!

Nếu Chỉ thái quá thì sẽ bị hôn trần!!!

Quán sẽ đạt được trí huệ! Chỉ sẽ đạt được thanh tịnh!

Tu tập Quán Chỉ, Chỉ Quán thì sẽ đạt được thanh tịnh trí huệ, tức là đạt đến Phật Quả giải thoát rồi vậy!!!

6- An lạc (bên Đạo Phật là Trí Huệ)

Trong Kinh Di Lặc ở đoạn cuối có câu: Độ tận chúng sanh qui ư Cực Lạc tất đắc giải thoát!

Trong Kinh đưa Linh Cửu có câu:

"Từ từ Cực Lạc an vui!!!

Lánh xa trược khí hưởng mùi siêu thăng!!!"

Tóm lại, chỉ có Cực Lạc (An Lạc) mới có giải thoát!!! Cực Lạc là trạng thái của Tâm được hoàn toàn tỉnh chỉ, hoàn toàn vô niệm, hoàn toàn không một chút phiền não, hoàn toàn bình an, không gợn một chút dục vọng nào!!! Cực Lạc chính là trạng thái của Niết Bàn vậy!!!

Muốn đạt được Cực Lạc thì chúng ta phải biết cách luyện Tâm, cách luyện Tâm chính là biết tự kỷ ám thị kèm theo một đức tin tuyệt đối!!! Tự kỷ ám thị và đức tin đó là Thiền pháp, là Tâm pháp tức là Phương pháp tu Tâm, là phương pháp của đạo Thiền!

Tới đây, chúng ta nên mở một dấu ngoặc để nói rõ về tự kỷ ám thị.

Tự kỷ ám thị: Là tự mình ám thị mình, là tự mình dạy Tâm mình một cái tánh tốt nào đó, chẳng hạn muốn dạy Tâm mình cái tánh bao dung thì chúng ta tự mình ám thị như sau:

"Ta là một vị Bồ Tát luôn luôn thương yêu hết thảy chúng sanh, ta luôn luôn quảng đại bao dung hết thảy chúng sanh!!!" (Xem bài Định Vị Pháp).

* Pháp là gì? Ngày xưa Đức Thích Ca đi tìm Chơn Lý, Ngài thiền định suy gẫm, sau cùng Ngài mới nhận thấy rằng: cả thế giới và vũ trụ này được điều hành bởi một năng lực huyền bí và vô đối!!! Năng lực đó làm cho hoa nở, làm cho động vật sanh sản, làm cho có hương thơm, làm ra mưa gió, làm ra ngày đêm, bốn mùa... Đức Thích Ca mới tạm gọi cái năng lực vô đối ấy là PHÁP!!! Vạn vật đều do PHÁP sanh ra, gọi tắt lại là Vạn Pháp cho nên chữ PHÁP được dùng rộng nghĩa thêm, thí dụ như cái bàn, cái ly... cũng gọi là Pháp!!! Pháp bao trùm vạn vật, vạn vật đều do Pháp sanh ra!!! Một lời nói, một cách tu hành cũng gọi là Pháp. Một ý nghĩ, một tư tưởng cũng được gọi là Pháp. Ngoài ý nghĩa nguyên thủy, pháp là một năng lực vô đối của Vũ trụ, của Thiên nhiên (mà ngày nay ta gọi là Năng lực vô đối của Đức Thượng Đế, của Đấng Tạo Hóa) chữ Pháp còn được dùng rất rộng nghĩa!!!

* Đạo là gì? Sau thời Đức Thích Ca, có Đức Lão Tử cũng suy gẫm và cũng thấy rằng (y như Đức Thích Ca đã thấy): Cả thế giới và vũ trụ này được điều hành bởi một năng lực huyền bí và vô đối!!! Đức Lão Tử mới gọi Năng lực này là ĐẠO (viết bằng chữ hoa). Vạn vật đều do ĐẠO sanh ra!!! Dĩ nhiên, trong cái ĐẠO vô đối đó có nhiều cái đạo nhỏ (viết bằng chữ thường) chẳng hạn đạo làm người, trà đạo, đạo phu thê, đạo phụ tử, đạo quân thần...

Đức Thích Ca gọi cái Năng lực vô đối của Đấng Hóa Công, của Đức Thượng Đế là PHÁP, còn Đức Lão Tử thì gọi là ĐẠO!!! Như vậy PHÁP cũng chính là ĐẠO!!! ĐẠO cũng chính là PHÁP!!! Cho nên người ta thường gọi chung lại là ĐẠO PHÁP!!! Cái năng lực của ĐẠO, của PHÁP thật là vô biên, là bất khả tư nghi, đầu óc hạn hẹp của con người không thể nào suy lường được, cho nên mới có câu ĐẠO PHÁP VÔ BIÊN!!!

* Đắc Đạo: Như ở trên đã nói không có người tu nào đắc PHÁP (chữ hoa) được cả. Thì ở đây chúng ta cũng có thể nói không có người tu nào đắc ĐẠO (chữ hoa) được cả!!! Có đắc chăng là đắc đạo nhỏ!!! (chữ thường). Thí dụ, làm tròn đạo vợ chồng thì gọi là đắc đạo phu thê!!! Chẳng hạn, có thể nói đắc được Trà đạo, đắc được Võ đạo...

* ĐẮC ĐẠO LỚN: Tuy nhiên chúng ta cũng có thể được đắc ĐẠO LỚN nhưng với cái nghĩa sau đây: Chúng ta có thể hiệp nhứt được với cái Năng lực vô đối đó, hay nói khác hơn là hiệp nhứt với Đức Thượng Đế (hội hiệp cùng Thầy), là hòa nhập vào Đạo, là nhập lưu, là trường lưu... Tất cả các điều đó có nghĩa là chúng ta chỉ là một phần tử, một đơn vị nhỏ trong cái năng lực tổng thể vô đối đó mà thôi!!! Chúng ta muốn đắc được cái ĐẠO LỚN này thì chúng ta phải có đủ 2 điều kiện: Một cái Tâm thánh thiện (Công phu) và một cái Sự nghiệp đã tạo thành cho sanh chúng (Công quả), xin xem bài Công Quả và Công Phu.

* Tu ở đâu mới được đắc ĐẠO: Thánh Ngôn có dạy: "Thầy nói cho các con nghe: Nếu chẳng đi đến Trường Thầy lập (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ) mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc ĐẠO bao giờ!!!" Trong Kinh Phụ Tế cũng có câu:

Trường sinh mầu nhiệm nơi lò HÓA CÔNG!!! Chúng ta muốn đạt được trường sanh mầu nhiệm tức là muốn được về hội hiệp cùng Thầy, muốn được đắc ĐẠO, đắc PHÁP, muốn được thoát khỏi luân hồi, thì chỉ do nơi LÒ HÓA CÔNG mà thôi!!!

Nói cách khác chỉ có Đức Thượng Đế (Đấng Hóa Công) mới có quyền định đoạt điểm ĐẠO cho chúng ta mà thôi!!!

* Chừng nào Đạo thành: Thánh Ngôn dạy: Ngày nào các con còn trông thấy một điều bất bình ở đời này thì Đạo chưa thành vậy.

Ở đời này làm gì có được hết sự bất bình, mạnh hiếp yếu, lớn hiếp nhỏ, tranh danh đoạt lợi, lúc nào cũng có tạo ra sự bất bình!!! Như vậy thì chúng ta còn trông mong gì cái ngày Đạo thành!!!

Quí Cao hữu đừng vội bi quan!!! Câu Thánh ngôn nói trên dạy cho chúng ta "Bí kiếp Thiền Lâm" đó!!! Đại Từ Phụ dạy chúng ta rằng: Dù trên đời này có xảy ra đầy rẫy sự bất bình đi nữa mà trong Tâm của chúng ta vẫn bình thản, vẫn an lạc không có sự phiền não (bất bình, bực bội) thì đó gọi là Đạo thành, mà thành Đạo ở trong Tâm của chúng ta, chớ không phải ở bên ngoài!!! Tu là tu ở bên trong (tu Tâm) mà thành thì cũng thành ở bên trong (Tâm)!!! Tu ở bên ngoài là tu thể pháp, tu Nhơn đạo, tu Phước. Tu ở bên trong là tu bí pháp, tu Thiên đạo, là tu Tâm!!!

Tóm lại, chúng ta phải song tu: Tu Nhơn Đạo là tu Phước để giải trừ nghiệp chướng. Và Tu Thiên Đạo là tu Huệ, là tu Tâm để giải trừ thất tình (bất bình).

THIÊN THAI

Thánh Ngôn:

Thiên Thai chẳng có ở trần này!

Chẳng phải trên trời, chẳng phải mây!

Đưa phép sanh tồn khuyên trẻ ngó!

Theo chơn giỏi bước, níu sau Thầy!!!

Kinh Cầu Siêu:

Ba mươi sáu cõi Thiên Tào

Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc Hư!

Quê xưa trở! cõi đọa từ!!!

Đoạt cơ thoát tục bấy chừ tuyệt luân!!!"

\

Quí Cao hữu!

Người tu nào cũng muốn về cõi An Lạc, về cõi Niết Bàn, về thiên đàng, về Ngọc Hư Cung, về Cực Lạc quốc, về Thiên Thai động...!!! Tóm lại, cả người tu lẫn người Đời, ai ai cũng muốn được hưởng hạnh phúc!!! Ý muốn này cũng hợp với Đạo lý!!!

Quí Cao hữu!

Ở trên đời, bất cứ ai cũng đi tìm hạnh phúc và muốn có được hạnh phúc!!! Đạo Trời được mở ra, Đức Đại Từ Phụ cũng muốn đem hạnh phúc đến cho cả loài người!!! Tuy nhiên, hạnh phúc mà Đạo Trời ban cho chúng ta và hạnh phúc mà con người đang tìm kiếm có giống nhau không?

* Hạnh phúc mà loài người đang tìm kiếm:

Quí Cao hữu!

"Nhân sinh quý thích chí!!!" Là quan niệm của thi sĩ Nguyễn Công Trứ mà cũng là quan niệm về hạnh phúc của con người!!!

Cứ sống thỏa mãn cái chí của mình là xong!!! Tuy nhiên trong cuộc sống đâu phải lúc nào cái chí (ý muốn) của ta cũng đều được thỏa mãn!!!

Cái gì mong muốn mà đạt được là hạnh phúc, còn ngược lại là đau khổ!!! Dục vọng của con người thì vô cùng, bao la như biển cả vậy, cho nên mới có câu kinh: "Biển trần khổ vơi vơi trời nước!!!" Vì càng nhiều dục vọng thì càng nhiều đau khổ, bởi không phải dục vọng nào cũng đều được thỏa mãn!!! Thỏa mãn được dục vọng thì thích chí là hạnh phúc! Không thỏa mãn được thì thất chí rồi đau khổ!!! Người nào có quá nhiều dục vọng thì đau khổ nhiều hơn là hạnh phúc!! Do đó, ai hạn chế được dục vọng thì giảm bớt được sự đau khổ, càng ít dục vọng thì càng ít đau khổ!!!

Hạnh phúc mà con người phải dày công tìm kiếm lại là một thứ hạnh phúc không bền vững, không chơn thật!!! Chẳng hạn bạn muốn có một cây đàn Guitare, thì bạn phải lao động cực nhọc nhiều ngày mới có đủ tiền để mua nó. Mua được cây đàn rồi thì đúng là quá thích chí, quá sung sướng, quá hạnh phúc!!! Tuy nhiên, chỉ vào ngày sau, nếu cây đàn bị mất cắp hoặc bị rớt hư đi, thì hỡi ơi, cái hạnh phúc chưa hưởng được bao nhiêu lại biến mất một cách mau lẹ!!! Hơn thế nữa, cái gọi là hạnh phúc này lại biến thành một sự đau khổ đầy tuyệt vọng!!! Quí bạn thấy chưa, hạnh phúc đó rồi lại biến thành đau khổ liền đó. Cho nên mới có nói hạnh phúc mà người đời đang tìm kiếm chỉ là một thứ hạnh phúc mỏng manh, không bền vững và cũng không chơn thật!!! Vậy thì chúng ta nên tìm kiếm hạnh phúc chơn thật ở đâu?

* Hạnh phúc chơn thật:

Trong khi chưa tìm ra được hạnh phúc chơn thật thì chúng ta có thể tạm mượn những thứ hạnh phúc mong manh nói trên để mà gọi là "Vui sống cho hết cuộc đời của mình!!!". Nếu không có những thứ hạnh phúc mong manh giả tạm này thì con người buồn chán quá đi mất!!! Tuy nhiên, chúng ta chỉ tạm mượn chúng nó để mà vui sống trong khi chúng ta đi tìm kiếm hạnh phúc chơn thật mà thôi!!!

Nhưng hạnh phúc chơn thật là gì và ở đâu có??? Chúng ta hãy phân tích tìm hiểu bài thi Thánh Ngôn đã dẫn ở đầu bài viết này thì sẽ rõ!!!

* Thiên Thai chẳng có ở trần này:

Chúng ta có thể nói Thiên Thai chính là một thứ hạnh phúc chơn thật!!! Người ta nào cũng muốn về được cõi Thiên Thai để được hưởng hạnh phúc chơn thật!!! Tuy nhiên, Đại Từ Phụ dạy: Thiên Thai chẳng có ở trên trần này!!! Ở cõi trần này, cũng còn gọi là Hạ giới, không có Thiên Thai!!! Điều này làm cho chúng ta nhận thấy không có hạnh phúc chơn thật ở cõi Hạ giới này, chúng ta cảm thấy hơi thất vọng!!! Tuy nhiên, chúng ta đừng vội bi quan, mà hãy tìm hiểu các câu thơ tiếp theo, xem ra sao?

* Chẳng phải trên trời, chẳng phải mây:

Ở trên Trời tức là ở cõi thượng giới, Đức Đại Từ Phụ cũng cho biết: Thiên Thai cũng chẳng ở trên thượng giới nữa!!! (chẳng phải trên Trời. Hơn thế nữa, ở lưng chừng mây tức là ở cõi Trung giới, cũng không có Thiên Thai luôn!!! (Chẳng phải mây). Ở cõi Hạ giới không có Thiên Thai, lên Trung giới cũng không có, lên cả Thượng giới cũng không có luôn! Như vậy cõi Thiên Thai có hay không? Nói khác hơn là hạnh phúc chơn thật có hay không? Nếu Thiên Thai Niết Bàn không có thì hạnh phúc chơn thật là một ảo vọng, chúng ta tu hành làm chi cho mệt xác!!! Quí bạn đừng vội nản, hãy đọc tiếp.

* Đưa phép sanh tồn khuyên trẻ ngó:

Đức Thượng Đế khai mở Đạo Trời để đưa Bí Pháp để chúng ta tu hành mà trở về cõi thiêng liêng Hằng Sống (Đưa Pháp sanh tồn). Cõi thiêng liêng Hằng Sống đó chính là cõi Thiên Thai, chính là hạnh phúc chơn thật!!! Ngài để phép sanh tồn (Bí pháp hằng sống) trước mắt chúng ta và khuyên chúng ta ngó theo đó mà lo tu hành!! Tuy nhiên chúng ta có ai chịu ngó đâu!!! Chúng ta cứ mãi chạy theo con đường danh lợi!!!

Thiên cơ đã lộ lúc khai Trời!!!

Kêu khách phân trần đã hụt hơi!!!

Cứ mãi vinh hoa cùng lợi lộc!!!

Chẳng lo cái chết đến gần nơi!!!

Tuy nhiên, cũng có rất đông Cao Đạo hữu muốn ngó phép sanh tồn (Bí pháp hằng sống) đó lắm!!! Nhưng họ không biết "Phép sanh tồn" để ở chỗ nào thì làm sao ngó???

* Phép sanh tồn (Bí pháp hằng sống):

Đức Thượng Đế dạy: Bây giờ Bí pháp phải được bày ra cho mọi người đều thấy, không được quyền cất giấu nữa!!! Chỗ này, Quí bạn cần lưu ý là: Bí pháp chỉ được bày ra chớ không có giải mã!!! (Không có giảng giải). Cho nên ở đây chúng tôi có thể chỉ "Phép sanh tồn" cho Quí bạn thấy mà không dám giải mã, hơn nữa cũng không có đủ khả năng giải mã.

Quí Cao hữu!

Phép sanh tồn mà Đức Thượng Đế khuyên chúng ta ngó, gồm có hai phần: Kinh hữu tự và Kinh vô tự!!!

* Kinh hữu tự: Kinh hữu tự thì Quí bạn đã biết rồi. Đó là cuốn Kinh Cúng Tứ Thời và Thánh Ngôn, Thánh Giáo, Pháp Chánh Truyền... Chúng ta mỗi người tự xét mình xem, coi chừng chúng ta có NGÓ Kinh hữu tự không, hay là chúng ta chỉ ngó sơ qua rồi thôi, hay là chúng ta vẫn luôn luôn ngó (đi cúng hoài) mà không chú Tâm tìm hiểu Kinh!!! Không chú tâm tìm hiểu Kinh thì làm sao thấy được phép sanh tồn chớ!!!

Nhập Thánh Thể dò đường Cựu vị,

Noi Chơn Truyền khử Quỉ trừ Ma!!!"

(Nhập Thánh Thể = Vào trong Tòa Thánh cúng,

Đường Cựu vị = Phép sanh tồn = Bí pháp chơn truyền).

* Kinh vô tự: Kinh hữu tự mà chúng ta còn chưa chịu ngó thì nói gì đến Kinh vô tự là một thứ Kinh không có chữ!!! Hơn nữa, hầu hết chúng ta cũng chưa thấy quyển Kinh vô tự để ở đâu thì làm sao ngó??? Nếu có người chỉ cho chúng ta thấy quyển Kinh vô tự thì chúng ta lại cũng không chịu tin!!! Thật là hết cách!!!

Quí Cao hữu!

Tòa Thánh Tây Ninh chính là quyển Kinh Vô Tự! Đức Hộ Pháp có dạy: Tòa Thánh và Bạch Ngọc Kinh đặt tại thế!!!

Bạch Ngọc Kinh = Là Kinh vô tự, là phép sanh tồn (xin xem bài Bạch Ngọc Kinh)

Đạt tại thế = Bày ra cho chúng ta thấy, không cất giấu nữa!!!

Quí Cao hữu!

Chúng ta đã thấy Kinh hữu tự và Kinh vô tự tức là thấy được (mà chưa hiểu) Bí pháp hằng sống, thấy được Phép sanh tồn rồi đó!!! Chúng ta hãy ráng ngó, ngó cho thật kỹ!!! (chí công tìm hiểu).

* Theo chơn giỏi bước, níu sau Thầy:

Theo chơn giỏi bước: là siêng năng tu tập, là chí công tu hành, là luôn luôn theo Thầy như Đức Xa Nặc chạy theo bén gót Đức Thích Ca vậy, lúc nào cũng: "Cứ noi bóng Chí Linh soi bước! Gội mê đồ tắm nước Ma Ha!!!". Chạy như vậy, theo chơn như vậy giỏi bước như vậy thì chúng ta mới có hy vọng níu được Thầy!! Níu được Thầy, dù chỉ níu được một chéo áo cua Thầy mà thôi, thì chúng ta cũng đã đạt được Thiên Thai rồi vậy!!! Còn nếu chúng ta ôm trọn được Thầy vào lòng thì chúng ta đạt được Đại Thiên Thai, đạt được Niết Bàn vậy!!!

Tuy nhiên, Thầy là ai? Và Thầy ở đâu?

Quí bạn, Thầy chính là Đạo, là Pháp, là Chơn lý, là Năng lực vô đối, là Phật Tánh, là Bổn Lai Diện Mục, là Tịnh Thất (Xem bài Kho tàng bí tạng Như Lai), là Niết Bàn, là Thiên Đàng, là Thiên Thai, là Hạnh Phúc Chơn Thật!!!

Níu được Thầy là thành Đạo, là đắc Pháp, là Kiến Tánh, là Cực Lạc thái bình, là được về Quê xưa cũ, là qui hồi Cựu vị, là giải thoát luân hồi!!!

Hiện giờ Thầy đang ở đâu?

Thầy là các con, các con là Thầy!!! Tâm ấy Tòa Sen của Lão ngồi!!! Hai câu đó cho chúng ta thấy Thầy mới đạt được Thiên Thai!!! Đã níu được Thầy rồi thì bất cứ chỗ nào cũng là Thiên Thai. Ở Hạ giới cũng có Thiên Thai, ngồi tại nhà cũng có Thiên Thai, ngồi trên xe đò cũng có Thiên Thai!!! Thiên Thai ở ngay trong Tâm của mình (Chơn Tâm, Phật Tánh...), ngoài Tâm không có Thiên Thai!!! Cho nên, vấn đề tu Tâm, tu Trí Huệ tức là tu Thiên Đạo là một vấn đề chánh nhứt mà người tu nào cũng cần phải đặc biệt quan tâm đến!!!

Bây giờ, để chấm dứt bài này chúng ta hãy đọc kỹ bài Thánh Ngôn sau đây:

ĐẠO (Thầy) cao thâm! ĐẠO cao thâm!

Cao bất cao! Thâm bất thâm!

Cao khả xạ! Hề thâm khả điếu!

Cao thâm vạn sự tại NHƠN TÂM!!!

TRỞ VỀ QUÊ XƯA

Kinh Cầu Hồn:

Rắp nhập cảnh thiêng liêng hằng sống!

Chốn quê xưa giải mộng trần gian!!!

Dìu đường thoát tục nắm phan,

Trông Kinh Bạch Ngọc định thần giải oan!!!

Kinh Cầu Siêu:

Quê xưa trở, cõi đọa từ!!!

Đoạt cơ thoát tục bấy chừ tuyệt luân!!!"

\

Quí Cao hữu!

Cõi Đọa thì Quí bạn biết rồi. Khi biết rồi thì có thể từ bỏ nó. Còn quê xưa của Quí bạn ở đâu, bạn cũng phải biết để lo trở về chớ!!!

Quê xưa trở, cõi đọa từ mà!!!

Nếu quê xưa bạn ở Long Xuyên hay ở Cà Mau thì chỉ cần tốn vài chục ngàn đồng là trở về được dễ dàng thôi!!! Như vậy quê xưa ở trong Kinh nói thì chắc chắn không phải là nơi sanh quán của Quí bạn đâu!!! Quê xưa phải có một ý nghĩa khác!!!

* Quê xưa ở đâu:

Thánh Ngôn có dạy: Khí hư vô sanh ra có một mình Thầy là Ngôi Thái Cực. Thầy (Thái Cực) mới phân Lưỡng Nghi, Tứ Tượng mà sanh vạn vật, Càn khôn Thế giới, trong đó có con người chúng ta!!!

Như vậy thì Quí Cao hữu đã thấy rõ "Sanh quán"của chúng ta là Ngôi Thái Cực (chính là Thầy) và "Nguyên quán" của chúng ta là Hư Vô Chí Khí!!!

Do đó, trở về quê xưa là trở về hội hiệp cùng Thầy hoặc là trở về với Hư Vô Chí Khí. Nói một cách tổng quát hơn, Quê xưa của chúng ta chính là Cõi thiêng liêng hằng sống, chính là cõi Niết Bàn, chính là Ngọc Hư Cung, là Cực Lạc Quốc, là Cõi Thiên Thai, là Thái Bình Cực Lạc!!!

Kinh Xuất Hội:

Đạo hư vô!!! Sư hư vô!!!

Reo chuông thoát tục! Phất cờ tuyệt sinh!

Trở về quê xưa là nhập lưu vào Đạo, là hiệp nhứt cùng Thầy, là trở về cõi hư vô, cõi vô cùng!!! Tất cả các chỗ gọi là Quê xưa đã nói ở trên, đều có ở trong Tâm của chúng ta hết!!! Cho nên, dứt khoát là chúng ta cần phải tu Tâm, tu Trí huệ, tức là tu Thiên Đạo thì mới có thể trở về Quê xưa, Cảnh cũ mà thôi!!! Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta cố chấp chỉ lo tu Trí huệ không thôi, mà chúng ta cần phải PHƯỚC HUỆ Song tu thì mới có đủ điều kiện hội hiệp cùng Thầy!!! (Trở về Quê xưa).

* Chỗ đến cuối cùng của Tín đồ Đạo Cao Đài:

Mục tiêu cuối cùng của Tín đồ Cao Đài là phải đạt cho được Thái bình Cực Lạc!!! Phải đạt cho được cái Tâm: Không còn bất bình trước những điều trái tai gai mắt nữa!!! (Thánh Ngôn: Ngày nào các con còn trông thấy một điều bất bình ở đời này thì Đạo chưa thành vậy!).

Về mặt thể pháp thì đến lúc Lâm chung, một Tín đồ Cao Đài sẽ được đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng là Nghĩa Địa Thái Bình Cực Lạc!!! Nói khác đi, Nghĩa Địa Thái Bình Cực Lạc là chỗ đến cuối cùng, là Cực Lạc Quốc, là An Lạc Cung, là Quê xưa của mình!!!

Con người ta sống để rồi cuối cùng ai cũng về Nghĩa Địa Thái Bình Cực Lạc!!! Tuy nhiên chúng ta phải đạt được Thái Bình Cực Lạc ngay lúc còn sanh tiền, phải trở về quê xưa ngay lúc còn sống, chớ đừng đợi chết rồi người ta khiêng xác của mình đến Thái Bình Cực Lạc, lúc đó thì mình về quê xưa (chỗ Thái Bình Cực Lạc) không được đâu!!!

Tóm lại, con người ta sống không phải để chờ chết mà là để sửa soạn (lo tu hành) chết!!! Chúng ta trở về quê xưa là cái Tâm đạt đến chỗ Thái Bình Cực Lạc, chớ không phải cái xác được đưa đến Nghĩa Địa Thái Bình Cực Lạc đâu!!! Nghĩa địa là thể pháp! Thái Bình Cực Lạc là bí pháp!

Để chấm dứt bài này, chúng tôi mượn đoạn Kinh cuối cùng của Di Lặc Chơn Kinh:

"Năng trừ ma chướng, quỉ tai, Năng cứu khổ ách nghiệt chướng, Năng độ chúng sanh qui ư Cực Lạc (Thái Bình Cực Lạc), tất đắc giải thoát!!!

CẢNH VÀ TÂM

Phật Ngôn:

* Tâm không, Cảnh tự không!

* Vạn pháp do Tâm tạo!

* Tâm sanh, chủng chủng Ma sanh!

Tâm diệt, chủng chủng Ma diệt!

\

Thí dụ:

Trong một đám tang, những người trong tang gia người thì gương mặt buồn thiu, kẻ thì gào khóc lóc thảm thiết, còn mấy đứa nhỏ thì cười giỡn với nhau dù trên đầu chúng nó đang bịt khăn tang! Thậm chí, thấy nhiều người đông vui quá, chúng nó hỏi người lớn: Chừng nào mới có được như vầy nữa!!! Những khách bàng quan đi ngang qua đám tang họ lại bình tỉnh thản nhiên mà đi không lộ vẻ gì dính dáng đến đám tang cả!!!

Cũng chỉ một cái quan tài này mà thôi (Cảnh) tại sao lại sanh ra nhiều tâm trạng: kẻ buồn, người vui, kẻ khóc lóc, người thản nhiên...? Có phải cái xác chết trong quan tài làm cho người ta buồn khóc không? Chắc là không phải là vì: Sao mấy đứa nhỏ lại vui cười mà lại còn mong có thêm cái cảnh như vậy nữa? Sao mấy khách đi đường lại thản nhiên?... Như vậy thì chắc chắn không phải cái xác chết (tức là cái Cảnh) làm cho người ta khổ!!! Người ta khổ là do chính cái Tâm của họ mà thôi!!! Đối với Cảnh (hoàn cảnh chung quanh), tùy theo tư duy, tùy theo sự suy nghĩ của Tâm mà chúng ta bị khổ hay không khổ!!! Nếu chúng ta không tu Tâm, không làm chủ được cái Tâm thì chúng ta bị thất tình lục dục lôi kéo làm cho chúng ta khổ đối với hoàn cảnh chung quanh!!!

Vạn pháp do Tâm tạo!!! Các sự việc buồn vui sướng khổ cũng chỉ một cái Tâm này mà thôi!!! Tâm tức Phật! Tiên tức Thiên Thai! Mà Tâm cũng tức Ma! Tâm cũng tức KHỔ nữa!!! Ma hay Phật, sướng hay khổ cũng đều do Tâm!!! Do đó, tu Tâm, dạy Tâm tức là tu trí huệ, tu Thiên Đạo là một vấn đề  cần thiết đối với người Đạo, cũng như đối với người Đời!!! Tâm rất khó dạy, rất khó trị, cho nên chúng ta cần phải thường xuyên dạy dỗ nhắc nhở nó!!! Đêm đêm tự tỉnh tu hành ăn năn!!! Giờ giờ cần phủi sạch, chớ để vướng trần ai!!!

Tóm lại, chúng ta KHỔ là do Tâm, chớ không phải do Cảnh!!! Cho nên chúng ta phải dạy Tâm, tức là tu Tâm, tu trí huệ, hay nói cách khác là tu Thiên Đạo thì mới mong hóa giải được khổ nạn.

GIÁC NGỘ

Thánh Ngôn:

Thầy ban một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại: Nếu biết ngộ kiếp một đời tu thì cũng đủ trở về cùng Thầy đặng!!!

Đạo Ngôn:

Phải có Giác Ngộ thì việc tu hành mới chân chính và nhiệt thành!!!

\

Thông thường, con người có chán đời mới đi tu. Tuy nhiên, tu hoài sao không thấy gì hết lại sanh chán Đạo!!! Lúc đó mới bị "Thiên Cung lỡ lối" mà lại "Chơi vơi cõi trần"!!! Bây giờ thật là nguy hiểm vì họ sẽ "Chơi xã láng, sáng về sớm"!!! Họ trở thành một mối nguy cho xã hội!!!

Cho nên, muốn cho việc tu hành được chơn chánh, nhiệt thành, không chán Đạo thì người tu phải có sự Giác ngộ!!! Giác Ngộ điều gì? Như thế nào mới được gọi là thật sự Giác Ngộ?

Sau đây là mấy điều Giác Ngộ mà cộng chung lại thì mới được gọi là Giác Ngộ hoàn toàn.

1- Giác ngộ lẽ vô thường, huyễn hóa:

Điều Giác Ngộ thứ nhứt này là cốt tủy của Kinh Kim Cang, trong đó Đức Phật dạy rằng: Tất cả vạn vật hữu hình tướng là phải hữu hoại, là huyễn hóa, là không thường còn, là không thật có!!! Nói cách khác, vạn vật là không thể ôm giữ mãi, là bất khả đắc!!! Trong Kinh Kim Cang có bài kệ nói rõ lẽ vô thường:

Nhất thiết hữu vi Pháp,

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điển,

Ưng tác như thị quan!!!

Tạm dịch:

Tất cả pháp hữu hình tướng!!!

Đều như trong mộng, đều là huyền hóa,

Đều dễ tan như bọt nước, đều như cái bóng!!!

Đều như sương mù dễ tan, đều qua nhanh như điện chớp!!!

Chúng ta nên dạy Tâm mãi mãi như thế!!!

Quí Cao hữu!

Nếu chúng ta luôn dạy Tâm, luôn đọc tụng bài kệ này thì nhứt định chúng ta sẽ giác ngộ được lẽ vô thường huyễn hóa!!! Khi giác ngộ lẽ vô thường rồi thì chúng ta sẽ được bình tĩnh an lạc (không còn chán đời nữa) đối với các sự vô thường xảy đến trong cuộc đời của ta!!!

Chúng ta nên đọc tụng mãi bài kệ trên để dạy Tâm, thì sẽ tránh được cảnh:

Không chừng lát nữa chết!

Sẽ phải từ bỏ hết!!!

Mới thấy được vô thường!

Thì đã gặp Diêm Vương!!!

Tới đây, chúng ta nên mở một dấu ngoặc nói thêm về một nghĩa mới nữa: hai từ vô thường.

Vô thường: Thoạt có, thoạt không!!! Bản chất của vạn vật là thoạt có, thoạt không!!! Đó là định luật vì vạn hữu tướng đều phải vô thường!!! Cho nên, có một điều thoạt đến với chúng ta thì chúng ta nên bình tĩnh, đừng vội vui mừng khi đó là điều may, cũng đừng vội khổ đau khi đó là điều rủi!!! May hay rủi cũng chỉ là thoạt có thoạt không (vô thường) mà thôi!!! Đối với vạn vật, vạn pháp chúng ta nhìn chúng với nhãn quan thoạt có, thoạt không, y như mộng huyễn thì Tâm của chúng ta sẽ được an lạc thanh tịnh!!!

Tóm lại, để dạy tâm (tu Tâm) chúng ta nên thọ trì đọc tụng mãi hai bài kệ sau đây:

Tâm kệ:

Thân này chẳng phải Ta!!!

Vạn pháp cõi ta bà!

Đều vô thường huyễn hóa!!!

Ta xem thường tất cả!!!

Tâm kệ:

Thấy CÓ thì bị ràng buộc!!!

Thấy KHÔNG liền được giải thoát!!!

2- Giác Ngộ nguyên nhân của sự khổ:

Đọc bài "Cảnh và Tâm" thì chúng ta sẽ thấy được nguyên nhân của sự khổ chính là Tâm!!! Vì vạn pháp đều do Tâm tạo mà!!! Tâm chính là thất tình, lục dục của chúng ta!!! Do đó, thất tình lục dục (đọc bài Thập Tam Ma) là nguyên nhân chánh của sự đau khổ!!! Dục vọng càng nhiều thì Biển trần khổ càng vơi vơi Trời nước!!! Dẹp bớt dục vọng là một cách giải khổ!!! Mà muốn dẹp bớt dục vọng thì chúng ta cần phải tu Tâm, cần phải dạy Tâm luôn luôn mà thôi!!!

Dẹp bớt dục vọng không có nghĩa là tiêu diệt cả thất tình, vì như vậy chúng ta sẽ biến thành gỗ đá rồi!!! Trong Đạo Cao Đài, Đức Hộ Pháp có dạy: Thất Sơn dấy động thì Tứ Sơn dời!!! (Thất tình đè nặng chúng ta như là 7 ngọn núi vậy, cho nên thất tình được gọi là Thất Sơn). Thất Sơn dấy động có nghĩa là thất tình quậy phá chúng ta nhưng Đức Ngài dạy chúng ta đừng có tiêu diệt chúng mà chỉ cần "Tứ Sơn" dời mà thôi!!! Điều đó có nghĩa là chúng ta chế ngự 4 tình (Tứ Sơn dời) và cho thăng hoa 3 tình!!! Quí Cao Đạo hữu vào trong Tòa Thánh Tây Ninh nhìn ngay chỗ con rắn 7 đầu thì sẽ rõ câu: "Thất Sơn dấy động, Tứ Sơn dời!!!"

Thất Sơn: Thông thường, nghe nói tới Thất Sơn là chúng ta nghĩ tới 7 ngọn núi ở tỉnh Châu Đốc! Và cũng dựa theo Kinh Sách mà chúng ta tin tưởng sau này (không biết cho tới lúc nào!!!) ở Thất Sơn Châu Đốc có nổi lên Đền Vàng, Điện Ngọc, có Tiên Phật xuống rất nhiều, thường nghe có tiếng đàn văng vẳng trên mây!!! Mới nghe qua thì thật là hấp dẫn!!! Nhưng, cho đến lúc nào mới có sự việc đó!!! Đã gần tới năm 2000 rồi!!!

Quí Cao hữu!

Đúng ra, Thất Sơn không phải ở Châu Đốc mà ở ngay tại tỉnh Tây Ninh này, mà lại ở ngay trong Tòa Thánh Tây Ninh nữa!!! Theo Hán tự thì chữ Sơn được viết như sau: .

Ba vạch đứng của chữ Sơn, đó là 3 Đức Ngài: Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm và Đức Thượng Sanh, còn vạch ngang nối liền 3 vạch đứng để tạo thành chữ Sơn, đó là con rắn 7 đầu!!! Con rắn 7 đầu tượng trưng thất tình nặng như núi, cho nên chỗ đó gọi là Thất Sơn!!!

Chỉ chỗ Thất Sơn này mới có Đền Vàng Điện Ngọc, đó là Tòa Thánh!!! Cũng chỉ có chỗ Thất Sơn này mới có đầy đủ Thần Thánh Tiên Phật giáng trần!!! (Vì là nơi Tam giáo qui nguyên, ngũ chi phục nhứt mà!!!). Cũng chỉ có chỗ Thất Sơn này mới nghe được tiếng đàn văng vẳng trên mây!!! (Quí Cao Đạo hữu nào có đi Cúng Đại Đàn thời Tý thì mới biết được điều này). Sở dĩ, chúng tôi mở dấu ngoặc để nói hơi kỹ về Thất Sơn, là để chúng ta có được một đức tin tuyệt đối vào Đạo Trời!!! Đức tin và sự sáng suốt là kho Chí Bửu vô giá ở trên cõi đời này!!!

3- Giác Ngộ được Phật Tánh của chính mình:

Cái điều Giác Ngộ thứ ba này là cốt tủy của Kinh Pháp Hoa!!! Trong đó, Đức Phật dạy rằng mỗi con người đều có Phật Tánh của chính mình. Phật Tánh của mỗi người đồng đẳng nhau, của Phật cũng như của chúng sanh!!!

Phật Tánh chính là Bổn Lai Diện Mục của mình, là cội nguồn thanh tịnh an lạc của mình, thấy được Phật Tánh để trở về với Phật Tánh, trở về nơi quê xưa cảnh cũ là một nơi an lạc thanh tịnh, là Niết Bàn, là Thiên Đàng!!! Thấy được Phật Tánh là một điều giác ngộ quan trọng hơn hết!!! Cho nên mới có câu: Kiến Tánh thành Phật!

Trong Kinh Phụ Tế có câu:

Trụ nguyên Tánh (Phật Tánh) hồn linh nhàn lạc!!!

Cõi Đào Nguyên cỡi Hạc, thừa Long!

Lánh xa trược chất bụi hồng!

Cung Tiên sớm tối vui vòng thong dong!!!

Tổng tóm lại, muốn cho việc tu hành của chúng ta được bền vững và chí thành thì chúng ta phải có sự Giác Ngộ thật sự!!! Giác Ngộ thật sự phải gồm đủ 3 điều Giác Ngộ sau đây:

+ Giác Ngộ được lẽ vô thường huyễn hóa của vạn pháp!

+ Giác Ngộ được dục vọng của chúng ta chính là nguyên nhân làm cho chúng ta đau khổ và luân hồi!

+ Giác ngộ được quê xưa của mình (Phật Tánh...) là một nơi thanh tịnh, an lạc và thái bình!!! Chúng ta hãy trở về chỗ này (Trụ Nguyên Tánh và giã từ dứt khoát cõi đọa!! (lánh xa trược chất bụi hồng).

TÔN NGỘ KHÔNG

Kinh Sám Hối:

Người sang cả là vì duyên trước!

Kẻ không phần luống ước cầu may!

Sang giàu chẳng khác như mây!

Khi tan khi hiệp đổi xây không chừng!

........................................................

Lo danh vọng hao mòn thân thể,

Ham làm giàu của để bằng non!

Một mai nhắm mắt đâu còn!!!

Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng?

........................................................

Còn hoi hóp tranh đua bay nhảy!

Nhắm mắt rồi phủi thảy lợi danh!!!

\

Quí Cao hữu!

Trong bài "Giác Ngộ" có viết: Giác Ngộ là "Ngộ được KHÔNG" và "Thấy được Bổn Tánh".

* Ngộ được Không: Trong bài viết trước có nói đến điều Giác Ngộ thứ nhứt là Ngộ được lẽ vô thường huyễn hóa của vạn hữu, tức là thấy được vạn pháp cuối cùng cũng hoàn về KHÔNG!!! Thấy được điều đó gọi là NGỘ KHÔNG!!! Ngộ Không là một điều Giác Ngộ đầu tiên và cần thiết trước hết đối với một người tu, cho nên gọi là TÔN NGỘ KHÔNG!!! (Tôn là cao quí, là trên hết).

Trong truyện Tây Du Ký có Tề Thiên đi tìm Thầy học Đạo gặp được Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma, được truyền dạy 72 phép biến hóa và phép Cân Đẩu Vân. Tổ Sư cũng dạy Đạo Lý cho Tề Thiên giác ngộ được "Sắc tức thị Không". Tề Thiên ngộ được vạn hữu tướng đều hoàn về KHÔNG, cho nên Tề Thiên được Tổ Sư đặt cho một pháp danh là TÔN NGỘ KHÔNG!!!

Chúng ta cũng nên tự đặt cho mình (định vị) cái pháp danh Tôn ngộ Không, để cái pháp danh này luôn luôn nhắc nhở chúng ta thấy được cái lẽ vô thường huyễn hóa của vạn pháp!!! Thấy được vạn pháp đều không thì chúng ta không còn mong cầu hay là cố chấp nữa!!! Vạn pháp đều phi thực và bất khả đắc mà ta lại mong nó tồn tại và cố nắm giữ nó thì thật là vô lý!!! Do đó, chúng ta nên luôn nhớ 2 câu kệ sau đây:

Thấy CÓ thì bị ràng buộc!!!

Thấy KHÔNG liền được giải thoát!!!

Quí Cao hữu!

"Ngộ được Không" cũng như "Thấy KHÔNG liền được giải thoát" là nói trên phương diện lý thuyết, trên phương diện ngôn từ!!! Còn trên phương diện thực tế của cuộc sống khi gặp những điều trái tai, gai mắt hoặc khi gặp nghịch cảnh nặng nề, thì chúng ta có giữ được "Ngộ được Không" hay chăng??? Hay là lúc đó, chúng ta lại nổi trận lôi đình tạo ra trùng trùng sự cố!!! Cho nên, khi chúng ta đã định vị pháp danh TÔN NGỘ KHÔNG rồi thì chúng ta cần phải thực hành cái pháp danh đó trong cuộc sống. Do vậy mà chúng ta cần phải có thêm một pháp danh nữa là TÔN HÀNH GIẢ!!! Tề Thiên phải Tôn Hành Giả 14 năm mới đạt được Tôn Ngộ Không!!! Còn chúng ta thì phải hành giả bao lâu mới đạt được Ngộ Không?!!

* Thấy được Tánh: Tánh là Bổn Tánh. Bổn Tánh của vạn pháp là phi thực và bất khả đắc!!! Hay nói rõ hơn Bổn Tánh của vạn pháp vốn là KHÔNG, tức là không thực có!!! (Sắc tức thị không). Do đó, thấy được Tánh của vạn pháp cũng đồng nghĩa với Ngộ được Không!!! Nếu chúng ta nhìn SẮC mà thấy TƯỚNG của sắc thì bị ràng buộc!!! Nếu nhìn thấy SẮC mà thấy được TÁNH của sắc thì liền được giải thoát!!! Vì Tướng của Sắc vốn và Tánh của Sắc vốn KHÔNG!!!

Tóm lại, khi chúng ta "Ngộ được Không" và "Thấy được Tánh" thì đó mới chỉ là bước đầu của một cuộc hành trình dài đi đến cõi Tây Phương Cực Lạc mà thôi!!! Do đó, chúng ta cần phải cố gắng và kiên nhẫn để tập làm Tôn Hành Giả mới được!!!

PHÁ CỐ CHẤP

Thánh Ngôn:

Thầy nói trước cho các con biết mà giữ mình: Chung quanh các con, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con, Thầy lại hằng xúi chúng nó cứ thừa dịp mà cắn xé các con!!! Song, trước đó Thầy đã cho các con mặc một Bộ Thiết Giáp mà chúng nó chẳng hề thấy đặng, đó là Đạo đức của các con!!!

Ấy vậy, ráng gìn giữ Bộ Thiết Giáp ấy hoài hoài cho tới ngày các con hội hiệp cùng Thầy!!!

\

Quí Cao hữu!

Quí vị Hòa Thượng thường mặc cái áo cà sa có rất nhiều mảnh vải nối lại với nhau. Không phải thiếu tiền mà may ráp nối như vậy!!! Tại sao thế???

Cái áo cà sa dạy cho chúng ta biết rằng: Đời sống quá phức tạp đa dạng nên chúng ta phải biết chấp, phải biết mượn phương tiện để tu hành nói riêng và để sống nói chung!!! Chấp để tu, chấp để sống!!! Tức là mượn phương tiện để sống!!! Có ai dám tự hào là mình không cần phương tiện (chấp) mà sống được bao giờ!!! Nếu có ai đó nói họ đã phá chấp là họ tự nói dối lòng của mình!!!

* Chấp: Là mượn phương tiện để sống (tu hành) cho đến hết cuộc đời của mình!!! Tuy nhiên, phương tiện đó phải phù hợp với luân lý, nhân nghĩa và công bình!!!

* Phá Chấp: Là phá bỏ phương tiện để sống. Người tu lại hô hào phá chấp là không đúng với thực tế!!! Phật Pháp không lìa thế gian Pháp!!! Phá bỏ phương tiện thì lấy cái gì để tu, để sống cho hết kiếp đây!!!

* Cố Chấp: Phương tiện cần để sống, cần để tu thì nhất định chúng ta có quyền mượn phương tiện đó, hay nói khác hơn là chúng ta có quyền chấp!!! (Phương tiện).

Tuy nhiên, cho đến một lúc nào đó mà phương tiện đó không còn cần thiết nữa thì chúng ta nên rời bỏ nó! Điều đó không có nghĩa là chúng ta hủy hoại nó!!! Thí dụ, khi qua sông chúng ta phải nhờ tới con đò.

Nhưng khi đến bờ sông rồi thì chúng ta phải rời bỏ con đò để lên bờ mà tiếp tục cuộc hành trình!!! Tiếc rẻ con đò tốt đẹp quá mà không chịu lên bờ, đó là hành động cố chấp!!! Con người cố chấp thì không tiến hóa mà còn cản trở sự tiến hóa của người khác nữa!!! Như vậy thì hành động cố chấp cần phải bị phá bỏ!!!

Tóm lại, hô hào mọi người phá chấp là sai!!! Mà nên hô hào mọi người phá cố chấp mới đúng!!!

Một phương tiện còn ích lợi và còn cần thiết thì chúng ta cứ chấp mãi mãi, cũng rất tốt thôi. Chẳng hạn, Thánh Ngôn dạy: "Ráng gìn giữ Bộ Thiết Giáp ấy hoài hoài" thì đó đâu phải là một sự cố chấp!!

TU PHẢI ĐẠT ĐƯỢC THẦN THÔNG

Kinh Bát Cửu:

Cung Tận thức, thần thông biến hóa,

Phổ Đà Sơn giải quả Từ Hàng.

Cỡi Kim Hẩu đến Tịch San,

Đẩu vân nương phép Niết Bàn đến xem!!!

Thánh Ngôn:

Những sự phàm tục đều là mưu kế của "Tà Mị yêu quái" cốt để ngăn trở bước đường Thánh Đạo của các con!!! Những mưu quỉ quyệt ấy đều lo Lịnh Thầy dùng để thử các con!!!

\

Quí Cao hữu!

Mỗi con người đều có 3 thể. Hai thể trước mắt có thể thấy được là thể xác và chơn thần. (Bộ não = Tâm). Còn thể thứ ba là Chơn Linh tức là Điểm Lương Tâm do khối Đại Linh Quang chiết xuống cho mỗi người chúng ta!!!

Chơn Linh này (Lương Tâm) có nhiệm vụ theo dõi, giữ gìn hai thể kia và nhất là lo dạy dỗ Chơn Thần (Tâm, Bộ Não)!!! Chơn Linh hoàn toàn chịu trách nhiệm trước mặt Đức Thượng Đế về nhiệm vụ nói trên.

Chơn Linh phải dạy dỗ Chơn Thần sao cho trở thành sáng suốt, trí huệ ví như là một Tòa Sen quí báu mà Chơn Linh an ngự trên đó rồi cùng về trình diện Đức Thượng Đế!!!

Tòa Sen báu vật xin đưa!

Chơn Linh an ngự cho vừa quả duyên!!!

(Kinh Đưa Linh Cửu)

Quí Cao hữu!

Nói thì nghe rất dễ nhưng nhiệm vụ dạy dỗ Chơn Thần là một việc thật quá khó khăn, không phải đơn giản!!! Tại vì Chơn Thần (Tâm) là một tên ngu si mê muội, tham sân si, lục dục thất tình đủ thứ!!! Chơn Thần đã thâm nhiễm đủ thứ ô trược, đủ thứ bợn trần qua nhiều kiếp!!!

Bây giờ làm cho Chơn Thần được trong sạch, được nhẹ nhàng thì đúng là một nhiệm vụ quá khó khăn vậy!!! Tên Chơn Thần này đã quá ngu si mê muội mà lại có quá nhiều dục vọng nên cứ mãi đầu kiếp luân hồi, sanh sanh tử tử mãi mãi!!! Hơn nữa, Chơn Thần lại còn công cao tự mãn nữa, cho nên Chơn Thần rất là cứng đầu không chịu nghe lời dạy dỗ của bất cứ ai, kể cả lời dạy của Chơn Linh nữa!!! Do đó, biến Chơn Thần (Tâm) trở thành "Tòa Sen báu vật" là một nhiệm vụ rất nặng nề đối với Chơn Linh vậy!!!

Mỗi lần đầu kiếp ví như được lên một lớp học, Chơn Thần được học hỏi thêm nhiều điều sáng suốt!!! Chơn Thần phải đầu kiếp nhiều lần, phải học nhiều lớp (theo sự hướng dẫn của Chơn Linh) mới đạt được sáng suốt tròn đầy viên mãn tức là đạt được trí huệ Bát Nhã thì Chơn Thần đã trở thành TÒA SEN BÁU VẬT rồi vậy!!! Lúc này, Chơn Linh mới dám hãnh diện là mình đã hoàn thành nhiệm vụ!!!

Quí Cao hữu!

Dứt khoát là Chơn Thần phải luôn luôn học hỏi mới được tiến hóa trên con đường giải thoát mà thôi!!!Còn một số Cao Đạo hữu hiểu lầm 2 chữ Tâm Không, họ cho rằng Tâm Không là cái Chơn Thần trống rỗng không có gì hết!!! (Như cái thùng thiếc vậy!!!). Cho nên họ cố chấp không cho cái gì nhập vào Tâm cả, Kinh cũng không thèm học, Kệ không thèm hỏi, lời vàng không thèm nghe, tiếng ngọc không thèm chú ý!!! Họ để cho Chơn Thần của họ được thoải mái, tự do bỏ lớp bỏ trường (trốn học!!!) không cần phải học hỏi gì hết chi cho cực, cho mệt!!! Mà thật vậy, trốn học đi chơi thì sướng thiệt!!! Đi chơi mãi thì Chơn Thần càng ngày càng u mê tăm tối.

Do đó Chơn Thần càng trầm luân đọa lạc!!! Cái tâm trống rỗng mà u mê như trên gọi là cái Tâm hư không!!! Cái tâm trống rỗng mà có trí huệ sáng suốt đầy đủ thì được gọi là cái Tâm Chơn Không!!! Cái Tâm hư không cần phải triệt bỏ!!!

Sau đây là hai câu kệ Đánh trống để chứng minh những điều nói trên.

Lôi Âm Thánh Cổ triệt hư không!!!

Truyền tấu càn khôn thế giới THÔNG!!!

Lược giải: Cái Tâm của chúng ta đang mơ màng (hư không) thì bỗng nghe tiếng trống lớn vang lên, làm cho chúng ta giựt mình tỉnh giấc, và cái Tâm mơ màng lúc nãy bị biến mất (bị triệt tiêu)!!!  Tiếng trống làm triệt tiêu cái Tâm hư không, giúp cho cái Tâm của chúng ta trở về với thực tại, không còn lừ đừ mơ màng nữa! Hai chữ Càn Khôn ở đây là ám chỉ cái thể xác của chúng ta, mà cái thể xác của chúng ta cũng chính là một thế giới riêng của chúng ta nữa!!! Tiếng trống vang lên đến cái Càn Khôn (cái Thế Giới) của chúng ta làm cho cái Thế Giới này (cái Càn Khôn, cái thể xác) được thông suốt!!!

* THẦN THÔNG:

Khi nghe nói tới 2 chữ Thần Thông thì chúng ta thường nghĩ đến "hô phong, hoán vũ" hoặc nghĩ đến các khả năng siêu việt như của các vị phù thủy đầy phép tắc Thần Thông!!! Tuy nhiên ở đây, trong Đạo Cao Đài, hiểu hai chữ Thần Thông theo một nghĩa khác:

Thần: Là Chơn Thần, là cái Tâm.

Thông: Là thông suốt, là không còn vướng bận, là không còn ràng buộc, là không còn cố chấp...

Như vậy, Thần Thông có nghĩa là cái Tâm của chúng ta được thông suốt, không còn vướng mắc bởi ngoại cảnh, không còn bị ràng buộc bởi lục dục thất tình nữa!!! Cái Tâm của chúng ta đạt được Thần Thông như vậy thì mới được giải thoát!!! Mà muốn đạt được Thần Thông như vậy thì không phải là một việc dễ dàng!!! Cho nên, ở đầu của bài viết này, chúng tôi hơi dài dòng để nói thật kỹ về việc Chơn Linh dạy dỗ Chơn Thần!!!

Sau đây là một vài thí dụ về Thần Thông:

1- Khi đi ngang qua một đám đánh bài, chúng ta không nổi lên lòng tham nên bỏ đi luôn không ghé vào chơi bài. Đó gọi là Thần Thông!!!

2- Khi đi ngang qua một tiệc rượu của một nhóm bạn thân mà chúng ta cũng không ghé vào, thì gọi đó là Thần Thông!!!

3- Khi có một người đẹp như Tây Thi mời chúng ta đi xem hát. Chúng ta không bị sắc đẹp lôi cuốn, chúng ta từ chối!!! Đó gọi là Thần Thông!!!

Tóm lại, cái Tâm của chúng ta không bị ngoại cảnh chi phố, không bị thất tình lục dục ràng buộc thì chúng ta đã đạt được Thần Thông rồi vậy!!! Điều đó cũng có nghĩa là đạt được giải thoát!!!

Quí Cao hữu!

Thần Thông có nghĩa là Tâm thông!!! Bạn hãy đọc kỹ: Tâm thông chớ không phải Tâm không!!! Tâm thông mới được giải thoát. Còn Tâm không thì chẳng được giải thoát!!! Tâm không tức là Vô Niệm!!! Mục đích của Tâm không là tạo ra khoảng thời gian nghỉ xã hơi cho Chơn Thần (Tâm, Trí Não)!!! Nghỉ xã hơi xong thì Chơn Thần phải tiếp tục vào lớp học hỏi tiếp để đường tiến hóa trên con đường Trí huệ Giải thoát!!! Tâm Không là giờ ra chơi của học sinh (Chơn Thần), mà giờ ra chơi thì sướng thiệt, thoải mái tự do, không có gì ràng buộc!!! Nhưng mà chơi hoài hay sao!!! Phải vào lớp chớ!!! Đây là điều bắt buộc cũng là một điều đương nhiên  trên con đường tu tập trí huệ!!! (Tu Tâm, tu chơn Thần).

Tâm Không chỉ là phương tiện giúp cho Chơn Thần đạt đến trí huệ Giải thoát chớ Tâm Không chẳng phải là Giải thoát!!! Đừng ra chơi hoài mà quên vào lớp!!!

Tóm lại, Tâm THÔNG, chớ không phải là Tâm Không, mới đưa chúng ta đến nơi giải thoát!!! Hay nói cách khác hơn, tu mà đạt được Thần THÔNG (Tâm thông) thì tất đắc giải thoát vậy!!!

Tâm kệ:

Đời chỉ là giấc mộng!

Rốt cuộc cũng hoàn không!!!

Mau mau từ bỏ hết!!! (Tâm thông)

Mới nhẹ nhàng khi chết!!! (Giải thoát)

 

VỌNG VÀ CHƠN

Thánh Ngôn:

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ Tà!

Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra!

Sao ra Tiên Phật, người trần tục!

Trần tục muốn thành, phải đến TA!!!

Thánh Ngôn:

Ngày nay, Đạo đã khai tức là Tà khởi!!! Vậy thì các con phải hết lòng, hết sức mà tự gìn giữ lấy mình! Chẳng những tự gìn giữ lấy mình mà cò phải gìn giữ cả chư môn đệ của Thầy nữa!!!

\

Chúng ta hãy định nghĩa một vài danh từ:

VỌNG: Là Tà, là ích kỷ hại nhân!!!

CHƠN: Là Chánh, là vị tha giúp đời!!!

Cầu vọng: Là mong cầu một điều ích kỷ tà vọng!!! Thí dụ mong trúng số đề để có tiền uống rượu, chơi bời thỏa thích, đó là cầu vọng, có tính cách ích kỷ!!!

Cầu Chơn: Là cầu mong một điều có ích cho sự tiến hóa cho mình cũng như cho nhiều người.

Dục: Là mong muốn, là ý chí. Nhờ có dục mới có sự tiến hóa. Vũ trụ không có dục thì sẽ tan rã!

Dục vọng: Là mong muốn điều tà vạy!!!

Dục chơn: Là mong muôn điều chơn chánh!!!

Quí Cao hữu!

Chúng ta thường nghe nói người tu hành cần phải dẹp bỏ dục vọng!!! Điều đó rất đúng: Những mong cầu tà vạy ích kỷ thì nên dẹp bỏ. Điều đó không có nghĩa là dẹp bỏ luôn dục chơn!!! Chỗ này có rất nhiều người vướng mắc, họ bác bỏ luôn cả dục chơn!!! Họ đánh giá phê bình khi có người tu nào đó nói: "Tôi thường đi cúng để mong được thanh tịnh, mong có được sự bình tĩnh, sáng suốt". Họ cho rằng người đó còn dục vọng, tu mà mong cầu!!! Họ đâu có biết đó là dục chơn, là mong cầu chơn chánh!

Chính Đức Thượng Đế mở Đạo kỳ ba này cũng có ý mong cầu là cứu vớt chúng sanh ra khỏi vòng khổ hải!!! Chúng ta có dám phê bình đánh giá đó là dục vọng chăng!!!

Tóm lại, khi chúng ta còn sống là chúng ta phải còn ở trong vòng nhị nguyên đối đãi, ngoại trừ những người đắc Đạo hoặc nhập lưu Niết Bàn!!! Trong nhị nguyên đối đãi, người tu hành cần phải chọn một!!!

"Theo Thiện, bỏ Ác!

"Theo Chơn, bỏ Vọng!

"Theo Chánh, bỏ Tà!

"Theo Thanh, bỏ Trược!

Chừng nào Quí Cao hữu được nhập lưu Niết Bàn thì mới có quyền nói: "Dẹp bỏ luôn cả nhị nguyên, Thiện ác"!!!

ÔNG THIỆN VÀ ÔNG ÁC

Thánh Ngôn:

Vào vòng huynh đệ, khá thương nhau,

Một ĐỨC trổi hơn một PHẨM cao!

Quyết chí Thiên đường men bước tới!

Phải nhiều máu thịt, mới đồng bào!!!

Thánh Ngôn:

Đạo cốt dành cho kẻ hữu duyên!!! Những kẻ nào đã làm môn đệ của "Tà Thần Tinh Quái" thì không thế gì làm môn đệ Thầy đặng!!!

\

Ở mặt tiền Tòa Thánh Tây Ninh có 2 pho tượng: ông Thiện đứng trên Tòa Sen và ông Ác đứng trên Tòa Lửa (xem bài Tâm nào Tòa nấy). Đối với hai Pho Tượng này, có nhiều vấn đề được đặt ra: Tại sao ông Ác được để đứng phía bên Nữ Giới? Như vậy, có phải Nữ Giới ác hơn Nam giới không? Ông Ác cầm cây đao quá lớn thì hữu lý, còn ông Thiện sao cũng cầm cây đao quá lớn vậy?

Bây giờ, chúng ta hãy thảo luận từ điểm một:

1- Tại sao ông Ác lại được đứng trước Tòa Thánh:

Cả 2 ông: Thiện và Ác đều được đứng trước cửa Tòa Thánh chứng minh một điều: Thiện tu đắc Đạo,mà Ác tu cũng đắc Đạo nếu biết cải tà qui chánh, nếu biết bỏ Ác về Thiện, nếu biết sám hối ăn năn!!!

"Ăn năn sám hối tội tình!

Xét câu minh thệ, gởi mình cõi thăng!!!" (Kinh Cầu Hồn)

 

Một người suốt đời làm thiện mà giờ chót làm việc ác thì cũng bị đọa đày!!! Một người làm ác mà giờ chót được tỉnh ngộ, ăn năn sám hối thì cũng được gởi mình lên cõi thăng!!! Tuy nhiên, nói trên lý thuyết thì dễ, còn trên thực tế thì người suốt đời làm việc ác thì đầu óc tâm địa lúc nào cũng ác trược vô minh thì làm sao giờ chót mà tỉnh ngộ cho được!!! Cho nên, ngay giờ phút này, chúng ta nên làm việc thiện, nên lo tu hành, chớ đừng chờ giờ chót ăn năn sám hối thì đã muộn!!! (Biết có được tỉnh ngộ để sám hối chăng?).

"Đường tu nối bước cho quen!

Xa trần tăm tối, cận đèn thiêng liêng!!! (Kinh thức dậy)

 

Cảnh thăng trỗi gót cho mau!

Xa vòng tục tụy đặng chầu chí linh!!!  (Kinh độ hồn)

 

Quí Cao hữu!

Sở dĩ ông Ác được đứng trước Tòa Thánh là vì ông đã biết tỉnh ngộ, ăn năn sám hối và đã tu đắc Đạo!!!

2- Ông Ác đã làm gì mà phải bị đứng trên Tòa Lửa:

Muốn biết lý do ông Ác phải đứng trên Tòa Lửa, thì chúng ta phải đến trước mặt Ông để nghe Ông tâm sự: "Nầy các chúng sanh, sở dĩ ta phải đứng trên Tòa Lửa (thay vì Tòa Sen vì ta đã đắc Đạo) là để cho chúng sanh thấy rõ luật Nhân Quả, hễ là Ác thì bị đọa, để cho chúng sanh thấy rõ Lưới Trời lồng lộng mà một mảy lông cũng khó lọt!!! Ta phải đứng mãi trên Tòa Lửa này để nêu gương cho chúng sanh thấy ớn sợ Lưới Trời mà lo làm việc Thiện, mà lo tu hành cho mau thành Chánh Quả!!! Ta sẽ kể cho chúng sanh nghe lý do nào thúc đẩy ta làm điều ác trược:

Đó là Viên Ngọc to lớn mà ta đang cầm trong tay đây!!! Cũng tại Viên Ngọc to lớn này mà ta đã làm điều ác trược và đã bị đọa như thế này!!! Viên Ngọc này, nói rộng ra, nó chính là vật chất, là tiền tài, là sắc tài tửu khí, là âm chất, là sắc tướng,...!!! Ta không kềm chế nổi dục vọng, cho nên ta đã bị phạm tội!!! Bây giờ ta đã có kinh nghiệm nên nói lại cho chúng sanh biết: Muốn kềm chế, giải tỏa được dục vọng thì chỉ có cách là dạy Tâm, tức là tu Tâm, tu trí huệ, tu Thiên Đạo thì mới có hy vọng được đứng trên Tòa Sen như ông Thiện ở bên kia vậy!!!

3- Tại sao ông Ác đứng bên phía Nữ Giới:

Điều này đã làm cho Nữ Giới có nhiều người thắc mắc hoặc bị mặc cảm!!! Bộ Nữ Giới làm tội ác nhiều hơn Nam Giới sao, mà ông Ác lại đứng bên này!!! Nữ Giới cảm thấy có mặc cảm do tội lỗi nhiều hơn nam Giới!!!

Mặc cảm này hoàn toàn không đúng!!! Thiện Ác do Tâm, chớ đâu do Nam hay Nữ!!! Cũng như Lương Tâm Phật Tánh cũng không có phân biệt Nữ Nam!!!

Tuy nhiên, nếu Nữ Giới có mặc cảm tội lỗi nhiều hơn Nam Giới thì cũng tốt thôi!!! Tại sao? Tại vì, khi mình thấy có tội lỗi nhiều thì mình phải ráng tu hành nhiều hơn nữa, phải ráng công phu công quả nhiều hơn nữa!!! Lúc đó lại được ngồi Tòa Sen trước Nam Giới không chừng!!!

Bây giờ để giải quyết vấn đề tại sao ông Ác đứng ở bên Nữ Giới, thì chúng ta phải hiểu như thế này:

Bây giờ chúng ta không nói đến Nữ Giới, Nam Giới nữa, mà chỉ nói tới Âm và Dương. Nữ Giới tượng trưng cho Âm. Nam Giới tượng trưng cho Dương. Ông Ác đứng bên phía Âm, chớ không phải đứng bên Nữ Giới. Tại sao ông Ác đứng bên Âm mà không đứng bên Dương?

Quí Cao hữu!

Sở dĩ con người làm ác là vì ham muốn Âm Chất, ham muôn vật chất tiền tài, ham muôn của cải vàng ngọc... Tất cả những thứ đó gọi chung lại là Âm Chất!!! Cũng vì Âm Chất này mà chúng ta bị khổ sở, bị đọa đày, bị phạm tội ác!!! Do đó, ông Ác đứng bên phía Âm để chỉ dạy cho chúng ta thấy rằng: Vì Âm Chất mà chúng ta làm ác, vì Âm Chất mà chúng ta bị đọa đày!!! Cho nên chúng ta cần cảnh giác cái Tâm của chúng ta (dạy Tâm) đừng quá ham muốn Âm Chất (của cải vật chất) mà phải bị đọa!!!

4- Tại sao ông Thiện lại cầm cây đao quá lớn:

Ông Ác cầm cây đao (búa?) quá lớn thì hợp lý. Còn ông Thiện mà cũng cầm cây đao quá lớn!!! Tại sao vậy? Cây đao tượng trưng cho cái gì?

Quí Cao hữu!

Cây đao lớn tượng trưng cho sức khoẻ đầy đủ, tượng trưng cho sức mạnh của chúng ta. Hay nói cách khác hơn, cây đao tượng trưng cho "Tam Bửu, Ngũ Hành", tượng trưng cho "Ngũ khí triều nguyên".

Tam hoa tụ Đảnh, Thiện Ác gì tu cũng đắc cả miễn có điều kiện: Tam Bửu và Ngũ Hành!!! (Tức là sức khoẻ đầy đủ, tức cây đao phải to lớn).

Ông Thiện mà thiếu cây đao (Bát Bửu nang) thì tu cũng không thành đâu!!! Ông Ác mà có cây đao (có đủ tinh khí thần) thì tu cũng thành đạt được nếu biết ăn năn sám hối!!!

Tóm lại, thành Đạo là do TÂM và do có đầy đủ Tam Bửu: Tinh Khí Thần!!!

NHÂN NGHĨA

Thánh Ngôn:

Hễ thương Thầy thì phải thương hết tất cả chúng sanh!!!

Thánh Ngôn:

Được Bậc Chí Tôn cầm quyền Thế giới dìu dắt rửa lỗi mà chẳng lo bươn chải cho kịp thời, lại đua nhau mà nghĩ tính về miếng đỉnh chung!!! Nếu Thầy chẳng đại từ, đại bi thì công quả đã chảy theo giòng nước!!!

\

Quí Cao hữu!

Thật là xưa như trái đất khi nói đến 2 chữ Nhân nghĩa!!! Những không sao, bình cũ nhưng rượu mới mà các bạn!!! Tuy nhiên, trước khi nói đến 2 chữ Nhân Nghĩa, chúng tôi cũng xin nói đến "Tứ Vô Lượng Tâm", đó là Tâm từ bi Hỉ Xã!!! Lại cũng xưa như trái đất!!! Tuy nhiên, Bình cũ nhưng Rượu mới, uống vẫn ngon như thường!!!

* Từ: Là lòng thương yêu, có tính cách tiêu cực, nghĩa là chỉ mới có Tâm thương yêu mà chưa thể hiện bằng hành động cụ thể!!!

* Bi: Là thương yêu có tính cách tích cực bằng cách hiến thân và phụng sự vạn loại có hành động cụ thể rõ ràng!!! Thí dụ: Tôi rất thương những người nghèo khổ. Đây mới chỉ là lòng Từ. Chính bản thân tôi đem gạo đến cứu đói họ, đem thuốc đến cứu bịnh họ... Thì lòng Từ nói trên mới biến thành Tâm Bi vậy!!!

* Hỉ: Là chấp nhận ngoại cảnh một cách vui vẻ dù đó là thuận cảnh hay nghịch cảnh!!! Đạt được Tâm Hỉ là đạt được Tâm Như Lai rồi vậy!!!

Như là đi!!! Lai là đến!!! Tâm Như Lai là Tâm bình tĩnh, tự nhiên và chấp nhận vui vẻ tất cả, dù có cái gì bỏ ta rời khỏi ta (Như) hoặc dù có cái gì xảy đến cho ta (Lai)!!! Như mặc Như!!! Lai mặc Lai!!! Tâm ta luôn giữ được sự bình thường là luôn luôn được an lạc!!! (Hỉ!!!)

* : Là buông bỏ tất cả!!! Không còn vướng bất cứ cái gì trong Tâm của Ta cả!!! Buông bỏ về mặt Tâm lý, chớ không phải cố chấp buông bỏ về mặt Vật lý!!!

* NHÂN: Là lòng Nhân, là lòng Từ, là lòng thương yêu, chỉ có ở trong Tâm mà chưa có hành động tích cực!

* NGHĨA: Là hành động thực hiện cụ thể lòng Nhân nói trên. Nhân là Từ, còn Nghĩa là Bi vậy!

Chỉ có lòng NHÂN không thì chưa đủ, cần phải có hành động cụ thể để thực hiện lòng Nhân đó. Hành động này chính là NGHĨA vậy!!! Hai chữ Nhân nghĩa phải đi đôi với nhau cũng như hai chữ Từ Bi vậy!!! Đạo Cao Đài chủ trương Nhân Nghĩa chính là thực hiện hai chừ Từ Bi vậy!!!

ĐỨC DI LẶC

Kinh Dâng Hoa:

Từ Bi giá ngự rạng môn thiền!

Đệ tử mừng nay hữu huệ duyên!

Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ,

Cúi mong Thượng Đế rưới Ân Thiên!!!

Phật Truyện:

Khi Đức Phật Thích Ca sắp nhập Niết Bàn, A Nan lo xa mới hỏi Phật: "Sau khi Phật Niết bàn thì ai sẽ làm Đạo Sư để dạy dỗ chúng con?". Phật đáp: Giáo Pháp và Giới Luật do Ta truyền lại sẽ là Đạo Sư của các con. Tuy nhiên, Ta không phải là vị Phật đầu tiên cũng không phải là vị Phật cuối cùng!!! Sau này sẽ có một vị Phật lớn hơn Ta gấp bội, có vô số tín đồ cũng nhiều hơn số đệ tử của ta gấp bội!!!". A Nan hỏi tiếp: Làm sao nhận diện được vị Phật đó? Phật đáp: Vị Phật đó có tên là DI LẶC.

\

Quí Cao hữu!

Do lời tiên tri của Đức Phật Thích Ca mà phần đông Phật tử đều mong cầu Đức Phật Di Lặc giáng sinh để cứu khổ cứu nạn chúng sanh trong thời hạ ngươn mạt pháp này. Ngoài Phật tử ra, các tín đồ của các tôn giáo khác, đặc biệt là các tín đồ Cao Đài cũng mong Đức Phật Di Lặc ra đời để cứu giúp cả nhân loại ra khỏi vòng khổ hải!!!

Quí Cao hữu!

Bây giờ đã gần đến năm 2000 rồi, Đức Phật Di Lặc đã ra đời chưa? Nếu có rồi thì Đức Phật Di Lặc là người nước nào, hình dáng ra sao? Giáng thế tại đâu? Ngài cứu giúp nhơn loại bằng cách nào và dạy dỗ chúng sanh ra sao?...

* Định nghĩa 2 chữ Di Lặc:

Quí Cao hữu hãy đọc kỹ: Di Lặc chớ không phải Di Lạc!!! Sau này nhiều người đọc trại thành Di Lạc, chớ thật ra không có Di Lạc mà chỉ có Phật Di Lặc mà thôi!!! Di Lặc theo nghĩa tiếng Phạn được dịch ra là Từ Bi. Như vậy Đức Phật Di Lặc là Đức Phật Đại Từ Bi!!! Đức Phật Đại Từ Bi đó chính là Đức Đại Từ Phụ, tức là Đức Chí Tôn, Đức Thượng Đế vì thương yêu cả nhân loại mà khai mở Đạo Trời (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, gọi tắt là Đạo Cao Đài) để cứu vớt tất cả chúng sanh vào năm Bính Dần 1926. Điều đó chứng tỏ Đức Phật Di Lặc đã giáng trần vào năm 1926 tại Thánh Địa Tây Ninh của Nước Việt Nam!!! Đức Phật Di Lặc đã xuất hiện rồi, chúng ta đừng có chờ đợi hay mong cầu một Đức Di Lặc nào khác nữa!!! Không chịu lo tu hành theo lời dạy của Đức Chí Tôn (Đức Di Lặc) mà cứ ngồi đó cầu mong mãi một Ông Di Lặc trẻ tuổi đẹp trai nào đó xuất hiện để cứu rỗi mình thì đó là điều mê tín!!! Dù cho một người xuất hiện tự xưng là Phật Di Lặc thì ông ta cũng không thể bồng chúng ta để lên Tòa Sen được trong khi chính chúng ta không chịu lo tu đức sửa mình!!!

Quí Cao hữu!

May mắn thay, Đức Di Lặc đã giáng trần tại Thánh Địa Tây Ninh!!! Ngài đã thương tặng chúng ta một bộ "DI LẶC CHƠN KINH" trong đó có đầy đủ các pháp tu Giải Thoát!!! Ngoài ra, Ngài còn cho Thánh Ngôn, Pháp Chánh Truyền, Kinh Tứ Thời Thiên Đạo và Thế Đạo... đủ thứ hết, không thiếu món nào!

Chúng ta:

Cứ noi bóng Chí Linh soi bước!

Gội mê đồ tắm nước Ma Ha!

Liên Đài may nở thêm hoa!

Lão Đam cũng biết, Thích Già cũng quen!!! (Kinh Giải Oan)

 

Quí Cao hữu!

Đức Di Lặc xuống trần không mượn xác trần của con người, cho nên Đức Di Lặc không có một quốc tịch nào hết!!! Ngài xuống bằng huyền diệu cơ bút!!! Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy được hình ảnh tượng trưng của Ngài. Đó là Tòa Thánh Tây Ninh!!! Tòa Thánh tương trưng hình ảnh của Đức Chí Tôn, tức là hình ảnh của Đức Di Lặc!!! Hình ảnh của Đức Di Lặc đẹp lắm, chiếu hào quang sáng ngời, điều này sẽ được nhận ra khi nào Quí Cao Đạo hữu có đi cúng thời Tý nửa đêm!!! Có 2 điều chứng minh Tòa Thánh là hình ảnh tượng trưng của Đức Di Lặc:

1. Trên nóc Hiệp Thiên Đài có một bức tượng Phật Di Lặc đang ngồi Tòa Sen trên lưng con cọp Vàng!!! (Kim Mao Hổ).

2. Trong cuốn: Giải thích Tòa Thánh có bài thơ diễn tả hình ảnh Đức Di Lặc (Đại Từ Phụ) như sau:

"Bát Quái Đài là hồn tinh khiết,

Hiệp Thiên Đài vốn thiệt chơn thần.

Cửu Trùng (Đài) tức thị xác thân,

Thể hình TỪ PHỤ giáng trần kỳ ba!!!

Tóm lại, Đức Thượng Đế tức Đức Phật Di Lặc đã giáng trần khai mở Đạo Trời từ lâu rồi (năm 1926). Chúng ta cứ y theo đó mà tu hành thì sẽ thành Chánh Quả. Hiệp nhập Cao Đài bá tánh thập phương qui Chánh Quả!!! (Câu liễn ở Hiệp Thiên Đài) chỉ cần duy nhất một ông Phật Di Lặc này cũng đủ đắc Đạo! Chúng ta đừng tìm kiếm một ông Phật Di Lặc nào khác nữa, chỉ uổng công mà thôi!!!

Quí Cao hữu!

Trong "Di Lặc Chơn Kinh" có nói tới Di Lặc Vương Phật và Di Lặc Vương Bồ Tát. Chúng ta hãy tìm hiểu 2 danh từ này xem sao?

* Di Lặc Vương Phật: Di Lặc có nghĩa là từ bi, Vương có nghĩa là vua, là Chánh nhứt, là trên hết. Di Lặc Vương Phật là một vị Phật lấy đức từ bi làm ưu tiên đầu tiên, đối với Phật thì từ bi là chánh nhứt, là trên hết!!! Chữ Vương ở đây không có nghĩa là Vua đâu!

* Di Lặc Vương Bồ Tát: Cũng như Phật, một vị Bồ Tát cũng lấy đức từ bi làm đầu. Đối với một vị Bồ Tát thì đức từ bi cũng chính là Chánh nhứt, là trên hết!!!

* Tiểu Di Lặc: Bất cứ một ai trong chúng ta cũng có lòng từ bi cứu giúp mọi người thì người đó cũng được gọi là Di Lặc!!! Nhưng lòng từ bi của chúng ta còn nhỏ hẹp, không được rộng lớn như của Bồ Tát và Phật, cho nên chúng ta tạm gọi là "Tiểu Di Lặc" vậy!!!

Tóm lại, Phật Di Lặc thì chỉ có một. Đó chính là Đức Thượng Đế, là Đức Đại Từ Bi!!! Còn Bồ Tát Di Lặc thì có nhiều và ở rãi rác khắp địa cầu. Các vị Bồ Tát Di Lặc chính là các đệ tử cán bộ của Phật Di Lặc!!! Còn các Tiểu Di Lặc thì có rất nhiều, trong số bạn hữu của chúng ta cũng có nhiều Tiểu Di Lặc!!! Các Tiểu Di Lặc nếu chí thành cố gắng công phu, công quả thêm nữa thì cũng sẽ thành Bồ Tát Di Lặc. Rồi từ địa vị Bồ Tát Di Lặc, nếu chúng ta chí công tu hành thêm nữa thì sẽ có lúc hiệp nhứt được với Đức Phật Di Lặc!!!

* Buổi Đại tiệc thịnh soạn đãi khách quý:

Có người kể rằng: Ngày trước khi Đức Hộ Pháp có ra lịnh sửa soạn một bữa đại tiệc để tiếp đãi khách quý. Một người không dám hỏi khách quý là ai nhưng cũng vâng lịnh Ngài sửa soạn một bữa tiệc thịnh soạn. Tiệc đã dọn xong và mọi người đang chờ đợi xem coi khách quý là ai? Chờ mãi mà chẳng thấy có một vị khách lạ nào hết!!! Họ chỉ thấy các "Chiến sĩ áo đen" là các anh đẩy thuyền Bát Nhã và các anh thuộc ban tẩn liệm mà thôi!!!

Khi mọi người đã nhập tiệc thì họ mới dám hỏi Đức Hộ Pháp: Sao không thấy một vị khách quý nào hết, thì Đức Ngài mới dạy: "Những vị khách quý đó chính là những anh em thuộc ban tẩn liệm và Nhà Thuyền này đây!!! Tại sao quý? Tại vì họ chính là đệ tử ruột của Phật Di Lặc đó!!!".

Quí Cao hữu!

Các anh em thuộc ban tẩn liệm nhà thuyền đúng là những vị khách quý. Họ rất xứng đáng là đệ tử ruột của Phật Di Lặc!!! Tại sao? Tại vì họ dám làm một công việc mà mọi người không dám làm!!! Đó là việc tẩn liệm một xác chết!!! Xác chết thì đủ loại nào là bịnh lao, nào là bịnh ung thư, nào là sình thúi... Thế thì tại sao họ dám làm việc đó mà không sợ truyền nhiễm, lây lan gì hết!!! Tại vì, họ noi theo gương của Phật Di Lặc là lấy đức từ bi làm đầu!!! Họ vì lòng từ bi mà không sợ lây lan truyền nhiễm gì hết!!! Họ làm theo lời dạy của Phật Di Lặc là lúc nào cũng nên lấy lòng từ bi làm đầu, cho nên họ rất xứng đáng là đệ tử (học trò làm theo lời Thầy dạy) ruột của Phật Di Lặc, chớ còn sao nữa!!!

Quí Cao hữu!

Đức Hộ Pháp nói vậy là để khuyến khích công quả của anh em nhà thuyền tẩn liệm, chớ không phải để khích động cái Tâm cao ngạo, ngã mạn và tự mãn của các anh em đâu nhé!!! Các anh em nên cảnh giác và luôn luôn khiêm nhường trong công quả của mình thì mới thật sự xứng đáng là đệ tử ruột của Phật Di Lặc theo lời dạy của Đức Hộ Pháp!!! Tại sao? Tại vì: "Hạnh từ bi và hạnh khiêm nhường là bản chất vốn có của Đại Từ Phụ, tức là của Phật Di Lặc vậy!".

* Phật Di Lặc cứu giúp nhân loại bằng cách nào:

Đức Thượng Đế khai mở Đạo Trời (Đạo Cao Đài) để cứu giúp nhân loại bằng 2 cách: Tế độ và Phổ độ (Xem bài Phổ độ và Tế độ).

* Tế độ: Lo phần thể xác của chúng sanh là cứu đói, cứu bịnh, cứu nạn... Phần hành này do cơ quan Phước Thiện của Đạo Cao Đài đảm nhận!

* Phổ độ: Lo phần tinh thần, trí não của chúng sanh là lập ngôn thuyết pháp. Phần hành này do cơ quan Cửu Trùng Đài đảm nhận, dựa theo Thánh Ngôn, Pháp Chánh Truyền, Kinh Thiên Thế Đạo...

Tóm lại, dù lo việc Tế độ hay Phổ độ, người hành đạo sự cũng phải lấy đức Từ Bi, Nhân Nghĩa làm đầu!!!

* Phật Di Lặc dạy dỗ chúng sanh như thế nào?

Đức Thượng Đế dạy chúng sanh hãy thực hiện sự thương yêu và sự công bằng trên thế gian này. Vì chỉ có sự thương yêu và sự công bằng mới đem lại một nền hòa bình thật sự cho nhân loại mà thôi!!! (Xem bài Tôn Chỉ Đạo Cao Đài).

Ngoài ra, Đức Thượng Đế (Phật Di Lặc) còn dạy mỗi cá nhân các phương pháp tu tập để giáo dục cái Tâm động loạn của chính mình cho trở thành cái Tâm an lạc thái bình!!! Mỗi cá nhân được an lạc thái bình thì nhân loại (gồm nhiều cá nhân trong đó) cũng sẽ được an lạc thái bình mà thôi!!!

Tổng tóm lại, Đức Phật Di Lặc chính là Đức Chúa Trời, là Đức Thượng Đế, là Đức Chí Tôn, là Đại Từ Phụ... đã giáng xuống trần rồi vào năm Bính Dần 1926 tại Thánh Địa Tây Ninh!!!

Tiếp theo >

Top of Page

       HOME