
|
TÒA THÁNH TÂY NINH
BÀI THUYẾT ĐẠO, DIỄN VĂN & THI VĂN |

1- Diễn Văn Nhân Dịp Lễ Tấn Phong Tân Luật-Sự ( 23 - 12 - 1964 )
2 - Bài Thuyết Đạo Nhân dịp Lễ Khánh Thành Quả Càn Khôn mới và Lễ an vị pho tượng của Đức Hộ-Pháp trên Thất Đầu Xà ( 29 - 1 - 1964)
3 - Bài Thuyết Đạo Nhân dịp lễ Vía Ngài Khai Pháp Chơn Quân Trần Duy Nghĩa ( Ngày 22 tháng Giêng)
4 - Bài Thuyết Đạo Nhân ngày vía Đức Hộ-Pháp Mồng mười tháng tư năm Ất Tỵ (1965)
5 - Bài Thuyết Đạo Nhân Rằm Tháng Giêng ( Thượng-Ngươn) Năm Bính Ngọ (1966)
6- Huấn Từ Nhân Dịp Lễ An Vị Đức Phật Mẫu Nơi điện thờ Tân Châu ngày 25 tháng 3 nhuần Bính Ngọ ( 15/5/1966)
7 - Bài Thuyết Đạo Nhân ngày vía Đức Phất Thích Ca mồng 8 tháng tư năm Bính Ngọ (dl : 27/5/66)
8 - Huấn Từ Của Hội Thánh nhân dịp lễ Phát Thưởng của trường Lê Văn Trung ngày 8/5/66
9 - Bài Thuyết Đạo Của Ngài HIẾN PHÁP Hiệp Thiên Đài - Nhân ngày rằm tháng 7 năm Bính Ngọ (dl , 1966)
10 - Bài Thuyết Đạo Nhân dịp lễ Thượng Nguơn rằm tháng Giêng Đinh Mùi
Nhân dịp mấy em Tân Luật Sự được tấn phong, bần tăng xin tỏ lời chúc mừng mấy em và nhắc lại vai tuồng của Bộ Pháp Chánh cho mấy em rõ thêm để làm tròn nhiệm vụ.
Pháp Chánh là khuôn vàng thước ngọc của ĐỨC CHÍ TÔN tự ban cho chúng ta để do theo đó mà hành đạo cho khỏi lầm đường, lạc lối. Nếu không có Pháp Chánh kềm chế thì mạnh ai nấy tự động theo ý riêng mình, như chúng ta thường mục kích từ thử trong cửa Đạo làm cho loạn Chơn Truyền, rồi Chánh Giáo có thể qui Phàm mà chớ.
Vì cớ mà ĐỨC CHÍ TÔN mới thành lập cơ quan Pháp Chánh để bảo thủ Chơn Truyền bằng cách trông nom giữ gìn toàn Đạo tránh khỏi phạm Thiên Điều.
ĐỨC CHÍ TÔN lại giao cho Chức Sắc Hiệp Thiên Đài nắm giữ luật pháp ấy cho công bình, nghiêm chánh vì Chức Sắc Hiệp Thiên Đài đã lập thệ trước mặt Ngài cùng chư Thần, Thánh, Tiên Phật lấy dạ vô tư mà hành đạo, không tư vị cũng không hà hiếp. Có vậy chủ quyền của Đạo mới bảo tồn được lâu dài vì nó tượng trưng sự công bình bác ái làm thoả mãn nguyện vọng của toàn Đạo. Chủ quyền của Đạo còn thì Đạo còn, hễ chủ quyền của Đạo mất thì Đạo cũng mất. Thử hỏi Đạo mất thì anh em trong Đạo còn được hay không ?
Chúng ta phải nhận rõ đó là đặc ân vô đối mà ĐỨC CHÍ TÔN ban tứ cho Hiệp Thiên Đài.
Nhưng cũng phải hiểu thêm rằng : hễ lãnh trọng trách ắt có trọng hình, nếu chúng ta phạm pháp thì phải bị hình phạt gấp đôi.
Nay mấy em Tân Luật Sự đã được tấn phong và sẽ lãnh trọng trách trong đại gia đình Hiệp Thiên, các em nên hết lòng thận trọng, đề cao nhiệm vụ của mình cho xứng phận, phải lo bảo tồn nghiệp Đạo bằng các xây dựng và làm cho Đạo ngày càng chói rạng khắp cả Năm Châu Bốn biển để khỏi hổ mặt với Đời, cùng Đạo. Vì tên tuổi của chúng ta đã ghi chép rõ ràng trong cửa Đạo, hễ Đạo nên thì chúng ta nên, Đạo hư thì chúng ta cũng hư luôn.
Nói đến đây bần tăng cảm nghĩ và tin tưởng rằng các em có đủ tinh thần phục vụ và khả năng xây dựng. Các em sẽ làm nên cho Đạo.
Trước khi dứt lời , và trước khi chia tay cùng các em, sau bữa tiệc thân mật này, bần tăng xin thành tâm cầu nguyện ĐỨC CHÍ TÔN, ĐỨC PHẬT MẪU và các Đấng Thiêng Liêng ban hồng ân cho các em làm tròn nhiệm vụ.

1- Diễn Văn Nhân Dịp Lễ Tấn Phong Tân Luật-Sự ( 23 - 12 - 1964 ) DIỄN VĂN
NHÂN DỊP LỄ TẤN PHONG TÂN LUẬT SỰ
Ngày 24 tháng 12 Nam 1964
Chư Hiền-Đệ Chức Sắc Hiệp Thiên Đài
Các em Tân Luật Sự,
VAI TUỒNG CỦA BỘ PHÁP CHÁNH
( 23 - 12 - 1964 )
HIẾN PHÁP
Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh
TRƯƠNG HỮU ĐỨC
* Thật vậy, trong bài thuyết đạo ngày 18 tháng 2 Kỷ Sửu (1949) Đức Hộ Pháp nói : Đức Quan Âm Bồ Tát là pháp thân của Từ Hàng” 
Nhân dịp lễ Khánh Thành Quả Càn Khôn mới và Lễ an vị pho tượng của ĐỨC HỘ PHÁP trên Thất Đầu Xà , tôi xin được giải sau đây sự tích Quả Càn Khôn và ý nghĩa lễ an vị pho tượng của ĐỨC HỘ PHÁP .
I. SỰ TÍCH QUẢ CÀN KHÔN
Sau khi mở Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vào năm Bính Dần (1.1926) ngày 17 tháng 9 năm 1926, ĐỨC CHÍ TÔN giáng cơ dạy chư Chức Sắc cao cấp phải làm một trái Càn Khôn tròn quay như Trái Đất, màu xanh da trời, trên có vẽ cung Bắc Đẩu và Tinh Tú. Thầy kể Tam Thập Lục Thiên, Tứ Đại Bộ Châu ở trên không khí, tức không phải Tinh Tú, còn lại Thất Thập Nhị Địa và Tam Thiên Thế Giới thì đều là Tinh Tú. Tính lại ba ngàn bảy mươi hai ngôi sao phải vẽ lên Quả Càn Khôn. Tại ngôi Bắc Đẩu phải vẽ hai cái bánh lái cho đủ. Trên sao Bắc Đẩu vẽ con mắt Thầy, vì là cơ mầu nhiệm tạo hoá trong ấy. Đáng lẽ trái đất ấy phải bằng chai đúc trong một ngọn đèn cho nó thường sáng, ấy là lời cầu nguyện rất quí báu cho cả nhơn loại Càn Khôn Thế Giới đó. Nhưng làm chưa kịp thì phải tùy tiện làm thế nào cho kịp kỳ Đại Hội.
Thể theo Thánh ý của ĐỨC CHÍ TÔN, chư Chức Sắc hiệp sức nhau kiến tạo quả Càn Khôn đầu tiên đặt lên trên một trụ cốt nơi Bát Quái Đài để cho toàn Đạo sùng bái và chiêm ngưỡng.
Sau lại vì sự rủi ro, quả Càn Khôn ấy phát hoả, cháy tiêu hết, duy có Thiên Nhãn thì còn lại y nguyên.
Vì sự linh thiêng ấy mà toàn Đạo càng thêm tin tưởng và đến khi tu tạo lại quả Càn Khôn khác, tất cả đều quyết định đặt Thiên Nhãn cũ ấy lên quả Càn Khôn mới.
Đến nay quả Càn Khôn sau cũng vì thời gian mà hư hại. Hội Thánh quyết định kiến tạo quả Càn Khôn khác thay thế vào. Hội Thánh cũng đồng tình biểu quyết dành lại Thiên Nhãn cũ để đặt lên quả Càn Khôn mới ngày nay. Đó là do lòng tín ngưỡng cao cả của toàn Đạo không ai có quyền phủ nhận.
Một sự linh thiêng ngoài tưởng tượng của mọi người. Sau khi hạ quả Càn Khôn cũ, cả thế giới và trong Đạo đều chấn động. Trong Đạo thì xảy ra nhiều điều rối rắm gây sự bất hoà giữa người Đạo làm cho mất sự êm ấm điều hoà, đến nỗi ĐỨC LÝ NHỨT-TRẤN OAI NGHIÊM giáng cơ quở trách và ngưng công việc cầu phong, cầu thăng. Ngoài đời thì có nhiều thay đổi, chẳng hạn như cuộc cách mạng của Hội Đồng Tướng Lãnh, vụ mưu sát Tổng Thống Mỹ, Nhà vua Thái Lan và nhiều cuộc biến chuyển khác trên toàn thế giới.
Cuộc biến chuyển này, ĐỨC HỘ PHÁP cũng đã tiên tri trong bài Thi sau đây :
II. Ý NGHĨA LỄ AN VỊ ĐỨC HỘ PHÁP TRÊN THẤT ĐẦU XÀ
Về công nghiệp của ĐỨC NGÀI, thì toàn Đạo ai ai cũng đều hiểu biết, tôi xin kể ra đây cũng thừa.
Tôi chỉ xin trích lục dưới đây lời Thuyết minh của ĐỨC NGÀI nhân lễ Trấn Thần ĐỀN THÁNH, ngày 6 tháng Giêng năm Đinh Hợi ( 1.1947)
Khi trấn thần Ngai HỘ PHÁP ngự, Ngài trấn chữ KHÍ, có một con rắn bảy đầu quấn vào dưới ngai Ngài, ngóc lên sau lưng , bốn đầu gục xuống ba đầu ngóc lên, cái mình quấn Ngôi Thượng Phẩm, cái đuôi quấn Ngôi Thượng Sanh.
Rắn Thần bảy đầu tượng trưng cho người có thất tình : Aùi, Ố, Dục, Hỉ, Lạc, Nộ, Ai
Ba đầu rắn ngó lên sau lưng Hộ Pháp là : Hỉ, Lạc, Aùi. Người tu nên luyện tập bâng đỡ ba tình : Vui, Mừng, Thương ấy. Còn bốn tình kia : Ai, Nộ, Ố, Dục thì đè xuống đừng cho ngóc đầu lên .
Khi ĐỨC HỘ PHÁP trấn Pháp hành bí Pháp cùng thể pháp các Đàn, Vía, Sóc, Vọng, khi ngài đứng là chuyển Pháp, Ngài ngồi là trụ Pháp, nên khi Ngài ngồi hai chân đạp hai đầu Ai bên tả, Nộ bên hữu , hai tay đè Ố bên Hữu, Dục bên tả.
ĐỨC NGÀI nói : khi HỘ PHÁP trấn trên Thất Đầu Xà là để nén các vật dục ở thế này gom lại khỏi cấu xé nhau, để MỪNG, VUI , THƯƠNG cho mọi người chung hưởng Thái Bình để gìn giữ đạo đức tu hành dễ dàng, nước nhà thanh trị, e sau này HỘ PHÁP xuất ngoại Thượng Sanh về ngự nơi đuôi thì tự do , thất tình lôi cuốn cấu xé lẫn nhau, không phương kềm chế, ấy là cơ thử thách nội và ngoại.
Ngày nào HỘ PHÁP trấn lại trên Ngai thì mới có thể dễ dàng mọi việc Đời Đạo . Quyền Thiêng Liêng phải vậy đặng vay trả cho sạch oan khiên, mới đem thuần phong mỹ tục vãn hồi hoà bình, trật tự, tháng Thuấn, ngày Nghiêu, trở nên Thượng Cổ. Vì lời tiên tri trên của ĐỨC HỘ PHÁP mà HỘI THÁNH rất lo ngại nên quyết định đúc tượng của ĐỨC NGÀI gấp rút để trấn an trên Thất Đầu Xà nghĩa là trấn áp phần nào Thất Tình của con người, đặng tránh bớt biến cố trong Đạo, vì lời tiên tri ấy đã thực hiện rõ rệt từ ngày Thượng Sanh về cầm quyền tối cao trong Đạo. Có nhiều hiện tượng cho thấy thất tình đã dậy, gây sự bất hòa giữa người Đạo với người Đạo.
Tuy nhiên, nếu chúng ta biết thận trọng trong các hành vi và trụ vững tinh thần đừng để thất tình lôi cuốn thì dầu không trấn an cũng có thể tránh được sự bất hoà , vì tôn chỉ của Đạo chủ trương hòa ái, nếu đi ngoài chủ trương ấy là lạc Đạo vậy.
Anh chị em chúng ta có bổn phận phải thành tâm cầu nguyên Ơn Trên ban phước lành cho toàn Đạo và toàn chúng sanh để tránh những điều chẳng may và khẩn cầu riêng ĐỨC HỘ PHÁP ban ân điển vào Thánh tượng của Ngài để chế ngự Thất Đầu Xà tức là Thất Tình, làm sao cho Đạo được êm ấm , điều hoà mới mong ĐỨC LÝ NHỨT-TRẤN OAI NGHIÊM ân xá cho tất cả, rồi mới mong đến việc cầu phong cầu thăng cho những Chức Sắc đầy đủ công nghiệp .
Chúng ta cũng phải cầu nguyện cùng ĐỨC CHÍ TÔN và ĐỨC PHẬT MẪU ban ơn Lành cho nước nhà mau bình yên thạnh trị, đặng rước Liên-Đài của ĐỨC NGÀI về TOÀ THÁNH để trấn an vĩnh viễn nơi NGÔI ĐỨC NGÀI ngư.ï

3 - Bài Thuyết Đạo Nhân dịp lễ Vía Ngài Khai Pháp Chơn Quân Trần Duy Nghĩa
( Ngày 22 tháng Giêng )
Nhân dịp ngày vía Ngài Khai Pháp Chơn Quân, tôi xin sơ lược giải Tiểu sử của Ngài dưới đây :
Công-nghiệp vĩ đại và phi thường của Ngài Khai Pháp Chơn Quân chẳng còn không ai biết và cũng không bút mực nào tả hết đặng. Thật là một vị Thiên Can của ĐỨC CHÍ TÔN giáng thế Khai Nguơn cứu Đời qua bể khổ.
Toàn Đạo đều nhìn nhận đó là bậc xã thân cứu thế mới làm đặng được như vậy mà thôi.
GIAI ĐOAÏN THỨ NHỨT : Năm 1934 nền Đạo chinh nghiêng một mặt quyền Đời áp chế, một mặt các Chức Sắc lớn của Trùng Đài buổi ấy chia rẽ con cái ĐỨC CHÍ TÔN phá rối Chơn Truyền. Ngài vâng lệnh ĐỨC HỘ PHÁP qua nắm quyền Ngọc Chánh Phối Sư giữa lúc tinh thần Thiên Phong lay chuyển, đem hết trí lực trung thành cùng Hội Thánh đặt lại được một nền triết lý chánh trị vững chắc, cả Chức Sắc Thiên Phong đầy đủ chí hy sinh, phế Đời hành Đạo, tuân y Đạo Nghị Định thứ năm của ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG.
Nói rõ ra, thì nền móng Chánh trị Đạo được xây dựng đầu tiên là nhờ bàn tay của Ngài vậy.
GIAI ĐOAÏN THỨ NHÌ : Năm 1937, nước nhà lâm vào nạn kinh tế khủng hoảng. Đạo phải chịu ảnh hưởng chung, kẻ đói có cơm , rách có áo, đau có thuốc, chết có hòm, làm cho toàn Đạo và Hội Thánh đều được hãnh diện nhìn thấy ngọn cờ cứu khổ của Đạo Cao Đài trùm che toàn cả chư Thiện Nam Tín Nữ từ ấy.
GIAI ĐOAÏN THỨ BA : Năm 1941, đao binh sôi nổi Hoàn Cầu nước Việt Nam lại bị nạn dân ách nước. Những bậc mến thương nòi giống, muốn trụ vững Quốc Hồn, nương theo tinh thần Đạo Đức, quyết đem thân làm mảnh áo tơi để đỡ nắng cho Đời, lại bị coi như kẻ có tội, rồi vì đó mà Ngài với ĐỨC HỘ PHÁP và ba vị Chức Sắc nữa phải chịu đồ lưu nơi hải ngoại.
Buổi cơ Đời đảo lộn, kẻ vị ngã thì được hưởng lương bổng lộc tước quyền, còn bậc hiền lương đạo đức lại bị giam hãm vào tù lao ngục thất .
Thảm thay ! Hạng tù đày vô định nơi phương trời xa cách tưởng đành cam gởi nắm xương tàn nơi đất khách quê người , cách biệt nước nhà và bổn đạo thì còn mong gì trở lại cố hương ? Những con chim bạt gió tạm nghỉ cánh nơi phương trời xa thẳm mà còn mong có ngày bay về tổ cũ, chớ kẻ bị đày với thời gian vô định thì mỗi ngày tù là thiên thu tại ngoại. Thân tuy đau khổ quê người mà hồn vẫn mơ màng đất Tổ. Cái sầu thành khổ hãi ấy chỉ có người đồng cảnh huống mới hiểu thấu mà thôi.
May thay ! Đấng Tạo Hoá Chí Linh, Quyền Thiêng Liêng mầu nhiệm nên 5 năm khổ nạn của các Ngài lại biến thành những thành tích vinh quang để nâng cao tinh thần đạo đức khiến cho kẻ tù được về nước, toàn Đạo mới được hưởng hồng ân như ngày hôm nay. Chẳng khác nào cây thập tự của Dân Israel dùng giết ĐỨC CHÚA JÉSUS khi xưa trải qua gần hai ngàn năm mà ngày nay Thiên hạ vẫn phụng thờ tôn kính.
GIAI ĐOAÏN THỨ TƯ : Năm 1946 khi Ngài trở về Cố Quốc nhận thấy sanh linh đồ thán, kẻ khá giả thì áo cánh quần đùi, người nghèo hèn thì mảnh bố che thân, mà có khi rách trước rách sau. Thuyền Đạo lại cần có kẻ hay chèo. Buổi ấy có nhiều bạn khuyên Ngài tuổi già sức yếu nên tịnh dưỡng, an nhàn thì Ngài lại quả quyết rằng : Nước nhà đương cơn biến đổi, dân chúng đang lúc lầm than ta đã xem tận mắt, nếu chối từ phận sự là kẻ có tội với giang san.
Ngài chỉ xin phép ba ngày về thăm viếng gia đình .(ba ngày nghỉ sau khi nạn đồ lưu mà cũng xin phép) rồi về ngay Toà Thánh nắm quyền Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh cho đến khi cỗi xác phàm trần.
Ôn lại những sự nghiệp xây dựng rất cao qúi về dĩ vãng hiểu rõ vai tuồng tối trọng của Chơn Quân Khai Pháp trong nhiệm vụ hành chánh, Phước Thiện và Pháp Chánh thì chúng ta đều nhận thấy đó là vai tuồng đặc biệt ít kẻ dám bì. Bảo thủ luật pháp Chơn Truyền của Đạo, để làm qui cũ chuẩn thẳng trong nhiệm vụ của hình hài Thánh thể, tránh cho Chánh Giáo khỏi qui phàm.
Chúng ta nên mừng cho Ngài Khai Pháp đã làm tròn nhiệm vụ của ĐỨC CHÍ TÔN giao phó, mừng cho Ngài đã sống trở lại vinh hiển nơi cõi Thiêng Liêng hằng sống và mừng cho tên tuổi Ngài nêu trong Đạo sử muôn ngàn năm bất diệt , để lại cho tương lai giống Lạc Hồng và toàn Đạo một sự nghiệp tinh thần vô đối.
Đó là tinh thần cao cả của Đạo Cao Đài về Nho tông chuyển thế và của toàn thể đồng bào lấy đạo đức làm căn bản.
Vậy toàn thể chúng ta nên tưởng niệm ân ĐỨC NGÀI Khai Pháp và cầu nguyện Ngài trợ giúp Thánh Thể về mặt huyền linh đặng chóng đem lại thanh bình hạnh phúc cho non sông nước Việt.
Luôn dịp này tôi xin trích lục dưới đây bài Thánh Giáo ngày mồng ba tháng tư năm Qúi Dậu (1933) của ĐỨC CHƯỞNG ĐẠO NGUYỆT-TÂM dạy về luật pháp của Đạo :
“ Chào chư Đại Thiên Phong, Chư Hiền Hữu, Chư Hiền Muội “
“ Phàm luật pháp lập thành đều tùy sở dụng buộc kẻ chung công hiệp trí tác thành một cơ sở vĩ đại, đông tây tương thân tương ái, bởi cớ mà luật pháp vẫn nhiều mặt đặc biệt cùng nhau, tùy theo phương dụng, chẳng thể dùng một mặt luật pháp nào mà thay vào một cơ sở khác hành vi cho đặng, cần thì mới lập còn vô ích thì bỏ. Vậy các luật pháp của CHÍ TÔN đã đào tạo đều hữu ích cho cơ quan hành động cho Chánh Giáo của Người, một cái dấu bỏ ra cũng chẳng đặng. Hễ tùng thì Đạo thành, còn nghịch thì Đạo diệt. Cả thảy Hội Thánh chưa ai đặng quyền ra khỏi ngoại luật. Chúng ta vâng theo mới đắc thành quyền hành Hội Thánh, thảng có một người nghịch thì làm rối loạn chơn truyền.
Kẻ nghịch cùng thế Đạo, thì tội trục ngoại xã hội hay là diệt tàn cho khỏi lưu hại, còn kẻ nghịch cùng Đạo Pháp thì tội trục ngoại Thánh Thể CHÍ TÔN hay là có ngày quyền Thiêng Liêng tận diệt.
Chúng ta từ đây coi kẻ phạm luật pháp như thù địch của Đạo, dùng phương trừ khử. Bần Đạo đã thọ sắc lịnh Ngọc Hư lo chuyển Pháp thì không phương tha thứ điều phạm bao giờ. Từ đây Hội Thánh Ngoại Giáo giữ nghiêm Pháp Luật.
Bần Đạo xin để lời cầu khẩn cùng GIÁO TÔNG và HỘ PHÁP cũng để lòng lo phương thế trừ hại, đừng vì bác ái từ bi vị nể”.
Trước khi dứt lời, chúng tôi xin thành tâm cầu nguyện Ơn Trên ban phước lành cho toàn Đạo và toàn sanh chúng.

4 - Bài Thuyết Đạo Nhân ngày vía Đức Hộ-Pháp Mồng mười tháng tư năm Ất Tỵ (1965)
Hôm nay là lễ vía ĐỨC HỘ PHÁP, tôi xin nhân dịp lược thuật Tiểu sử và xưng tụng công đức vô biên của ĐỨC NGÀI đối với Đạo.
Nhắc đến ĐỨC HỘPHÁP tức là nhắc đến đấng vĩ nhân của nước Việt Nam, một công thần khai sáng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ , một Giáo Chủ có một không hai của thời đại.
Thật vậy, chẳng những trong Đạo mà luôn cả ngoài Đời, ai ai cũng đều công nhận ĐỨC NGÀI đã sáng lập một sự nghiệp uy nghi và đồ sộ, một công trình kiến thiết phi thường về hai mặt tinh thần lẫn hình thức.
Nếu chẳng phải bàn tay xây dựng khéo léo và nếu chẳng nhờ tinh thần mẫn huệ và kiên quyết của ĐỨC NGÀI thì chưa ắt ngày nay có được một nền Đại Đạo như vậy trong đất nước của chúng ta.
Nói đến Tiểu sử của ĐỨC NGÀI hẳn phần đông trong Đạo đã hiểu rõ vì tiểu sử ấy đã được xuất bản và được nhiều Chức Sắc Đại Thiên Phong thường nhắc nhở đến rồi.
Đây tôi chỉ xin nhắc lại những sở kiến tương đồng và những đặc điểm tương đắc cùng đa số các bạn đồng chí của ĐỨC NGÀI buổi ấy rồi, do đó mới đi lần đến đoạn đầu mở Đạo.
Dưới thời Pháp thuộc, nhiều nhà chí sĩ vì thương dân yêu nước như ĐỨC NGÀI đã có ý định làm cách mạng để giải ách nô lệ cho dân tộc. Mặc dù sở hành có khác nhau đôi chút nhưng kỳ trung cũng đều nhắm vào một mục đích là cứu dân cứu nước.
Nhiều cuộc cách mạng nổi dậy tưng bừng : trước hết là phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Xuất Dương Du Học, chống thuộc địa v.v….
Tuy không được thành công mỹ mãn, nhưng các cuộc cách mạng đã có tiếng dội sâu xa làm phấn khởi lòng dân chẳng ít. Ngoài cuộc cách mạng bằng hình thức lại còn có các cuộc cách mạng tinh thần, chẳng hạn như sách vở, báo chí, Tôn giáo v.v.. Nhờ đó mà đến khi đệ nhị Thế Chiến nổ bùng, nước Việt Nam ta mới thừa cơ đứng lên giành Độc Lập. Tuy chưa được hoàn toàn nhưng cũng hưởng được phần nào quyền tự chủ : được tự do đi lại, tín ngưỡng, tự do hội hiệp, tự do ngôn luận v.v… Tuy nhiên các quyền tự do ấy nếu không có gì làm căn bản để chế ngự thất tình lục dục thì nó cũng có thể mất được vì lòng dục vọng và tánh ích kỷ của con người không thể lường được. Nó hay sanh biến bất thường.
Vậy thì phải lấy gì làm căn bản ?
ĐỨC HỘ PHÁP đã trả lời câu hỏi này bằng cách sáng lập một nền Đạo trong nước với đồng tâm cộng tác của các đồng chí và của toàn thể con cái ĐỨC CHÍ TÔN . Chỉ có Đạo Đức mới làm được căn bản cho tất cả mọi việc mà thôi. Vì vậy, ĐỨC NGÀI và các bạn đồng chí mới hiệp nhau thành nhóm, trước ít sau nhiều và do các cuộc xây bàn lúc đầu rất khó khăn cực nhọc. Nhưng các bạn ấy cũng không nản lòng thối chí, đêm nào cũng chịu khó hiệp nhau thức suốt cầu hỏi các Chơn Linh để hiểu rõ các điều huyền bí. Nhờ xây bàn sau mới biết dùng cơ bút để phổ độ chúng sanh. Sở dĩ tôi phải nhắc lại đoạn này là vì muốn cho ai nấy đều thấy rõ ý chí kiên quyết của ĐỨC NGÀI bắt tay vào việc trước xây bàn sau chấp cơ. Ngài để hết Nghị lực nào đó, dẫu phải kéo dài thời gian đến bao lâu cũng không nệ.
Sau khi ĐỨC NGÀI cùng hai bạn đồng chí là Đức Thượng Phẩm và Đức Thượng Sanh phăng được nguồn gốc mối Đạo, mới tung ra cho toàn thể quốc dân được biết để hưởng ứng mà lập thành Đại Đạo.
Kế đó nhờ cơ Phổ Độ của các đồng chí kể trên và của Thập Nhị Thời Quân mà trong một thời hạn không lâu số Thiện Tín nhập môn cầu đạo có đến hàng triệu.
Vậy là giai đoạn đầu lập Đạo của ĐỨC NGÀI có kết quả.
Tuy nhiên ĐỨC NGÀI cũng chưa lấy đó làm mãn nguyện vì chí cả của Ngài là phải làm thế nào cho toàn sanh chúng được chung hưởng hạnh phúc, chẳng những trong quốc nội mà còn ra quốc ngoại nữa, vì tôn chỉ của Đạo là độ tận chúng sanh không phân biệt màu da sắc tóc. Bởi cớ nên mới chủ trương qui Tam Giáo hiệp Ngũ Chi và sau này sẽ đi đến Đại Đồng Tôn Giáo.
ĐỨC NGÀI lập thành mối Đạo trong thời kỳ Pháp Thuộc không phải là một chuyện dễ. Bởi thế nên ĐỨC NGÀI bị thử thách đủ điều, nếu chẳng phải một Chơn Linh siêu việt thì không thể nào tránh khỏi thất vọng.
Tôi xin nhắc nơi đây mấy lời tặng của Ngài Thượng Sanh :
“ Điêàu chúng ta nên lưu tâm là một bậc Đại Đức đã lấy hết chánh tâm và thành ý trải bao khó nhọc vì chủ nghĩa thương Đời mong thực hành phần nào Thiên ý đặng cho nhơn sanh được nhuần gội ân huệ của Đấng Chí Tôn mà cũng không tránh khỏi tai nạn bất thường, phải trải qua những cuộc thử thách kinh hồn khiến cho ai cũng phải châu mày ứa lệ”
Sự thử thách quá nặng nề, dù cho ai lâm vào tình trạng đen tối như vậy thì tính cương quyết cũng phải tiêu ma chí anh hùng cũng ly tán. Nhưng nhờ nơi ĐỨC NGÀI có thể tiếp xúc với các Đấng thiêng liêng bằng sự chấp bút, nên xác thân dù bị đọa đày đau khổ mà tinh thần vẫn trụ vững, nảo cân vẫn quang minh, yên tâm để hết Đức tin nơi ĐẠI TỪ PHỤ.
Chúng ta rất hãnh diện được một đấng giáo chủ anh minh, một chí sĩ anh hùng đã lập thành mối Đạo, đã kiến tạo một đại nghiệp lưu lại đời đời cho nhơn sanh thừa hưởng.
Mặc dù không phải là một nhà kiến trúc sư, ĐỨC HỘ PHÁP đã chỉ vẽ và điều khiển công thợ xây dựng một Đền Thánh rất tân kỳ vĩ đại, chẳng những làm cho các kiến trúc sư trong nước khen ngợi mà nhiều du khách ngoại quốc cũng trầm trồ khen phục .
Với một công trình kiến tạo lớn lao như thế mà Đức ngài chỉ dùng những Đạo Hữu hiến công và những phương tiện tài chánh rất kém cỏi eo hẹp.
Nền móng Đền Thánh bắt đầu năm 1933 và đến năm 1936 mới khởi công xây cất.
Đến 1941 công cuộc kiến trúc vừa hoàn thành bên ngoài và chưa kịp trang hoàng thì ĐỨC NGÀI bị bắt lưu đày làm các việc đều ngưng trệ.
1/1946 ĐỨC NGÀI về nước, tiếp tục liền công việc kiến tạo Đền Thánh. 1/1947 mở cửa. 1954 mới hoàn tất và Lễ Khánh Thành được cử hành vào tháng Giêng năm Ất Mùi ( 1/1955).
Có người đến xưng tụng công ĐỨC NGÀI thì ĐỨC NGÀI khiêm tốn nói rằng chỉ làm theo lịnh dạy của ĐỨC CHÍ TÔN và ĐỨC LÝ ĐẠI TIÊN chớ chính mình Ngài chẳng có công chi hết.
Ngoài công nghiệp xây cất Đền Thánh cùng các Dinh Thự khác trong Đạo, ĐỨC NGÀI còn khai thác vùng Ngoại Ô Thánh Địa, cắt đất phân lô chia cho Đạo Hữu, mở nhiều đường trong Châu Vi Thánh Địa và kiến tạo Long Hoa Thị, ĐỨC NGÀI nói : “Chợ này sẽ là vú sữa của bổn Đạo “
Ngài lo cho bổn đạo cũng như một ông cha lo cho các con cái. Bởi thế nên trong Đạo không còn một ai là người không tưởng niệm công ơn của ĐỨC NGÀI, vì ĐỨC NGÀI đã nghĩ đến tất cả mọi người từ lớn chí nhỏ.
Khi khai thác vùng đất Cực Lạc, Ngài đã dành một phần để cất Dưỡng Lão Đường, còn một phần nữa tạo thành 6 mẫu chia cho 12 vị Thời Quân Hiệp Thiên Đài mỗi vị lãnh nửa mẫu để có chỗ trú ngụ sau này.
Cái mối lo âu nhiều hơn hết của ĐỨC NGÀI là giềng mối của Đạo. Tuy rằng đã có luật pháp chơn truyền mặc dầu nhưng sự lo ngại vẫn không khỏi ám ảnh vì chính ĐỨC NGÀI cũng phải bị nhiều phen thử thách gắt gao, nếu không phải là . . . (?) . . Đại Bồ Tát ắt cũng thất Đạo mà chớ. Vì nỗi âu lo đó mà ĐỨC NGÀI đã bố trí đủ phương tiện cho Đạo khỏi bị những phần tử bất chánh khuấy rối. ĐỨC NGÀI đã tiên tri rằng sau khi đực ngài xuất ngoại rồi thì thất tình nổi dậy làm cho Đạo phải một phen bối rối. Lời tiên tri ấy quả có ứng nghiêm trong năm vừa qua và vẫn còn có thể ứng nghiệm nữa.
Để trấn tỉnh nhơn tâm ĐỨC NGÀI đã để lời khuyên nhủ toàn Đạo phải lo bảo thủ chơn truyền và giữ gìn chủ quyền của Đạo cho được trường tồn, vì chủ quyền của Đạo còn thì Đạo còn, nếu chủ quyền của Đạo mất thì Đạo cũng mất, mà một khi Đạo mất thì tất cả chúng ta còn được không ? Hẳn là không. Cũng vì lo cho tương lai của nền Đạo nên trong bước lưu vong ĐỨC NGÀI thường nhắc tất cả phải để hết lòng ủng hộ Hội Thánh trong lúc Ngài Thượng Sanh cầm quyền.
Thưa Chư Thánh và Chư Đạo Hữu nam nữ !
Chúng ta đã hội hiệp nhau trong cửa Đạo thành một khối tinh thần càng ngày càng mạnh mẽ dồi dào. Khối tinh thần ấy nếu muốn gìn giữ được lâu dài thì phải nhờ một quyền Thiêng Liêng chi phối và cho một quyền hữu hình điều độ để giữ vẹn lấy nó. Quyền Thiêng Liêng tức là Quyền CHÍ TÔN còn quyền hữu hình là Thánh Thể CHÍ TÔN tại thế tức là Hội Thánh vậy. Hội Thánh có nhiệm vụ bảo thủ luật pháp chơn truyền nghĩa là phải bảo tồn chủ quyền Đạo, vì nếu chủ quyền này còn như tôi vừa nói trên thì Đạo còn, hễ chủ quyền này mất thì Đạo cũng mất.
Aáy vậy, toàn Đạo cần ủng hộ Hội Thánh làm tròn nhiệm vụ tức là giữ vẹn chủ quyền của Đạo vậy.
Tuy nhiên, sự hành quyền của Đạo có khác hơn Đời, là thay vì áp dụng quyền lực để nghiêm trị, Đạo chỉ lấy sự thương yêu và đạo đức làm căn bản, dùng công bình bác ái để thâu phục nhơn tâm, Hội Thánh cầm luật nghiêm minh thì chủ quyền của Đạo tự nhiên được tôn trọng.
Chúng ta đã đi đến giai đoạn bảo tồn những gì của ĐỨC HỘ PHÁP đã tạo lập ra, vì nếu có người tạo ra sự nghiệp thì phải có người bảo thủ lấy nó cho được chu đáo, ấy là chúng ta đền đáp trong muôn một công đức vô biên của ĐỨC NGÀI đối với Đạo.
Tôi xin thành tâm cầu nguyện Ơn Trên ban điển lành cho toàn Đạo và toàn sanh chúng.

5 - Bài Thuyết Đạo Nhân Rằm Tháng Giêng ( Thượng-Ngươn) Năm Bính Ngọ (1966)
Bởi trách vụ nặng nề và quan trọng về bảo thủ luật pháp chơn truyền, nên chúng tôi xin lập lại bài thuyết MINH THỆ mà tôi đã có dịp thuyết trình một lần rồi, tưởng không phải thừa vì nó vẫn hợp thời hợp cảnh.
Xin chư Chức Sắc và Đạo Hữu, Đạo muội thử suy nghiệm lại những câu minh thệ của chúng ta từ khi mới nhập môn cầu Đạo và sau này trong mỗi khi lãnh qua một trọng trách nào khác.
Minh thệ là gì ? và tại sao ĐỨC CHÍ TÔN buộc chúng ta phải minh thệ ? Phải chăng ĐỨC CHÍ TÔN đã biết rằng vì lòng trần tục vì sự mê muội hoặc vì dục vọng khôn lường mà chúng ta khó thắng nổi những sự cám dỗ của tà quyền, nên buộc chúng ta minh thệ để kềm chế lòng mình cho trọn Đạo.
Chư Hiền Huynh, Hiền Tỷ, Hiền Muội còn nhớ chăng lời minh thệ tóm tắt như vầy : Từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, hiệp đồng chư môn đệ giữ gìn luật lệ Cao Đài, như sau có lòng hai thì thiên tru địa lục.
Ôi ! Qúi hoá thay ! mà cũng quan hệ thay ! Thật là một câu minh thệ mà ta đã mạnh dạn thốt qua cửa miệng, do sự phát xuất của lương tri, trước Thiên Bàn có Thần, Thánh, Tiên Phật chứng minh và trước mặt Chư Chức Sắc, cùng nhiều đồng đạo hầu đàn. Câu Minh thê ấy có ảnh hưởng dường bao cho cả một đời người nơi trần tục, nó quan hệ dường bao cho một linh hồn khi lìa khỏi xác.
Mỗi khi đêm khuya thanh vắng, chư Hiền Huynh, Hiền Tỷ và chư Hiền Hữu, Hiền Muội có nhớ lại câu minh thệ nghiêm khắc đó chăng ?
Sau một thời gian học Đạo và hiểu Đạo có đầy đủ công nghiệp chúng ta được đắc phong vào hàng Chức Sắc, mỗi khi có lãnh một trọng trách lớn lao nào, thì nơi trước Bát Quái Đài, trước bàn Hộ Pháp lại một phen minh thệ nữa. Như vậy luật Đạo mới nghiêm minh, trách nhiệm mình mới xứng đáng.
Nhưng hỡi ôi ! ngày nay cũng có chức sắc Thiên Phong thất thệ, thì khi xác phàm này được vùi sâu trong lòng đất mẹ, linh hồn chúng ta biết có được về chầu ĐẠI TỪ PHỤ hay không ? hay đã bị ngủ lôi tru diệt vì thất thệ ?
Kìa xem ngoài vòng thế sự, chánh phủ nào cũng lấy lời minh thệ làm căn bản để trói buộc sự gian dối của lòng người, để kềm chế sự ngoan cố của người đời mà buộc phải nói lên sự thật từ đáy lòng mình. Như chúng ta đã thấy, những vị Quốc Trưởng, Thủ Tướng, Tổng Trưởng, các vị Tướng lãnh mỗi khi đặt mình vào cương vị nào đó cũng còn hô to khẩu hiệu : Tuyên thệ trước quốc dân. Trong mỗi phiên Toà, trước khi đem ra phân xử, Quan Toà buộc phạm nhân hay nhân chứng đưa tay lên làm thề trước đã rồi mới cung khai hoặc trả lời những câu Toà hỏi. Cho đến mấy vị Quan Toà, Trạng sư, Biện Lý, Lục Sự và các vị Thông ngôn hãy còn phải minh thệ thay. Thậm chí như chúng ta thường thấy trong chốn thôn quê hẻo lánh, những người ít học mỗi khi có chuyện xích mích nhau cũng còn đem đến Đình Chùa nào linh thiêng nhất thề trước Thần linh để nói ra sự thật. Người ở đời họ chưa biết chắc trên cõi Thiêng Liêng có Thần Thánh Tiên Phật mà họ còn dám nhờ cậy các Đấng xét soi cho họ, huống chi chúng ta đã biết chắc chắn rằng : Trên cõi hư vô thăm thẳm kia, trên chín tầng mây bạc kia có một đấng Toàn Năng, Toàn tri, có một ông Đại Từ, Đại Bi hằng mong con cái của Người sớm biết Đạo trời mà ăn năn hối lỗi để bồi công chuộc quả mà qui hồi cựu vị, nếu chúng ta chẳng tin thì còn tin ai hơn nữa ? Còn như trong hàng Chức Sắc Thiên Phong, có phận sự dìu dắt con cái của Thầy biết giữ gìn luật đạo, biết học lời Thánh Giáo, lại còn nghe theo tả đạo bàn môn, làm nên tội lỗi tày trời, chư vị ấy chắc đã quên ngọn búa Ngũ Lôi và câu Tận đoạ Tam Đồ bất năng thoát tục mà họ đã thề trước oai linh.
Chư Hiền Huynh, Hiền Tỷ, Hiền Hữu và Hiền Muội có nhớ chăng trong bài Thánh Giáo Thầy đã dạy .“ Thầy cấm các con từ đây chẳng đặng gọi ai bằng Thầy” Nghĩa là Thầy cấm chúng ta không được nhận ai làm một vị Tôn sư của chúng ta cũng như không được nhận một Đạo Giáo nào khác hơn Đạo Thầy cũng trong một bài Thánh Giáo khác Thầy đã dạy “ Vì luật công bình nên Thầy không nỡ cấm không cho Qủi Vương nó cám dỗ các con, nhưng Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp, ấy là Đạo đức của các con. Thầy lại còn thêm rằng “ Qủi Vương nó có quyền giả danh Thần, Thánh, Tiên, Phật, thậm chí đến danh Thầy nó còn dám giả, duy có Ngai Thầy nó không dám ngự mà thôi, ôi thảm ! thảm !
Thưa chư Hiền Huynh, Hiền Tỷ, Hiền Hữu, Hiền Muội.
Bao lời châu ngọc của Thầy và các Đấng Thiêng Liêng trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, bao nhiêu Đạo Pháp nhiệm mầu, trong Tân Luật và Pháp Chánh truyền, bao nhiêu hình luật trong các Đạo Nghị Định của ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG , chúng ta không đủ tin tưởng không đủ học hỏi, không đủ tu luyện hay sao, mà chúng ta còn mong nơi khác. Đứng núi này trông núi nọ.
“Nơi Bạch Ngọc Kinh Thầy hằng mong đợi các con, mà nơi trần thế các con của Thầy bị quỉ ma cám dỗ, Ôi, ngậm ngùi thay !”
Nghĩ đến đó chúng ta mới thấy rằng câu minh thệ kia nó qúi báu là dường nào !
Tôi có bổn phận phải nhắc nhở anh chị em toàn Đạo nên thận trọng mỗi hành vi của mình để tránh thất thệ đối với ĐỨC CHÍ TÔN cùng các Đấng Thiêng Liêng. Tôi cũng xin nhắc lại lời Thánh Giáo của ĐỨC CHÍ TÔN ngày 12 tháng 6 năm Bính Dần ( 1926) có câu : Nếu cả thế gian này biết tu thì thế gian có lẽ cải lý Thiên Đình mà làm cho tiêu tại, tiêu nạn đặng, huống lựa mỗi cá nhân biết tu thì là Thiên Đình cầm bộ Nam Tào cũng chẳng ít chi !
Căn cứ trên Thánh Giáo này, nếu chúng ta biết tu thì chẳng những luật Thiên Đình không động phạm đến ta mà cả luật pháp ở trần thế này cũng không lẽ nói gì ta đặng. Tu là cõi phúc chẳng những riêng cho ta mà cho tất cả nhơn loại tránh được tai hoạ, hoặc giảm khinh bớt Thiên Điều. Những Thiên tai chiến hoạ đã nêu ra bằng lời sấm tiên tri cũng có thể vì sự tu hành của chúng ta mà tiêu tan hoặc giảm bớt phần nào.
Chúng ta cũng nên noi tánh háo sanh của ĐỨC CHÍ TÔN mà cầu khẩn cho nhân loại được an toàn.
Kính chào chư Thánh

Nhân dịp lễ An Vị ĐỨC PHẬT MẪU nơi Đền thờ Tân Châu, nhân danh Hội Thánh tôi xin vắn tắt đôi lời chúc mừng và khen tặng chư vị Khâm Châu, Đầu Tộc Đạo, Phước Thiện, Bàn Trị Sự và chư Đạo Hữu đã hết lòng cố gắng lo xây dựng nền Đạo nơi đây được tiến triển khả quan.
Công cuộc kiến thiết Đền Thờ Phật Mẫu được hoàn thành như vậy là tấm nhiệt thành và đức tin mạnh mẽ của các bạn và cũng nhờ hảo tâm của Thiện Tín cùng Chánh quyền sở tại do Thiếu Tá Tỉnh Trưởng lãnh đạo.
Dưới thế này người đời cũng như trong Đạo chỉ có đức tin mới tạo ra sự nghiệp vĩ đại vì đức tin có sức mạnh dời non lấp biển được, nhứt là trong Đạo đức tin lại càng cần thiết hơn nữa. Cũng nhờ đức tin mà con cái của ĐỨC CHÍ TÔN được hiệp nhau một khối đến ngày nay, ngày càng thêm mạnh mẽ dồi dào thành một khối tinh thần cứng rắn. Khối tinh thần ấy đương nhiên phải do một quyền thiêng liêng chi phối và do một quyền hữu hình điều độ để giữ vẹn lấy nó. Quyền thiêng liêng tức là quyền CHÍ TÔN , còn quyền hữu hình là quyền của Thánh thể CHÍ TÔN tại thế tức là của Hội Thánh vậy, Hội Thánh có nhiệm vụ bảo thủ chơn truyền luật pháp, phải bảo tồn chủ quyền của Đạo vì nếu chủ quyền này còn thì Đạo còn, hễ chủ quyền này mất thì Đạo cũng mất. Aáy vậy cái khối tinh thần của Đạo cần được tổ hiệp thành làm một cho thêm vững vàng mạnh mẽ để giúp cho Hội Thánh làm tròn nhiệm vụ tức là giữ vẹn quyền của Đạo đó vậy.
Nếu chủ quyền này mất thì Đạo cũng mất đi, thử hỏi bổn đạo có thể còn được không ? Hẳn là không.
Nhưng quyền Đạo có khác quyền Đời là thay vì dùng quyền lực để nghiêm trị. Đạo chỉ lấy thương yêu làm căn bản, lấy công bình bác ái để thâu phục nhân tâm. Hễ Hội Thánh cầm luật cho nghiêm minh thì chủ quyền của Đạo tự nhiên được tôn trọng. Quyền Đạo được tôn trọng thì Đạo mới có uy linh để dìu độ chúng sanh.
Tại Tòa Thánh chủ quyền của Đạo do Hội Thánh chấp chưởng cũng như ở địa phương do Khâm Châu, Đầu Tộc Đạo và Ban Trị Sự đảm đương, tức nhiên là thay quyền cho Hội Thánh nơi địa phương vậy.
Các bạn đã tạo nên sự nghiệp Đạo nơi đây thì cũng nhờ lấy nhơn nghĩa thâu phục nhân tâm trước hết, rồi mới tạo thành khối tinh thần càng ngày càng thêm chặc chẽ, các bạn đã lập thành chủ quyền của Đạo. Đạo có đủ tinh thần thì chủ quyền của Đạo mới được tôn trọng và vững bền.
Trong cửa Đạo muốn thực hành nhân nghĩa và tương thân tương ái để giữ vững quyền Đạo thì tức nhiên phải nghĩ đến và phải làm việc từ thiện cho nhơn sanh được nhờ. Vậy nên Đạo mới lập ra cơ quan Phước Thiện để nhờ bàn tay tế độ của các bạn giúp vào cho ra thực tế.
Gương bác ái được nêu cao là do công việc làm của cơ quan Phước Thiện, chứng minh sự thương yêu đối với Đời lẫn Đạo. Nhất là đối với người đồng đạo phải tỏ sự chung tâm hoà ái bằng việc làm thực tế thì người ta mới tin cái thuyết thương yêu của Đạo nêu ra, rồi sự thương yêu đó mới tạo cho Đạo cái chủ quyền trên nền tảng công bình bác ái.
Nếu muốn cho khối tinh thần nói trên kia được trụ vững thì phải cần nhận xét và phân biệt đâu là chánh, đâu là hư thiệt để hướng dẫn bổn đạo cho nhằm đường. Nếu thiếu nhận xét thì có thể vô tình đưa bổn đạo đi lạc hướng thì sự tai hại rất lớn ,vì đương lúc này nhân tâm bất nhứt, người ta có thể bày ra nhiều mưu thần chước quỉ để lôi cuốn bổn đạo vào đường bất chánh.
Chúng ta có bổn phận phải thận trọng giữ gìn cho nhau để khỏi lầm đường lạc lối, nếu chẳng vậy thì cái công tu luyện của chúng ta có nhiều đến đâu đi nữa, cũng chỉ là công dã tràng mà thôi.
Các bạn có công vun bồi nền Đạo thì cũng phải cố gắng bảo tồn Đại Nghiệp Đạo cho đến cùng. Hội Thánh rất hài lòng nhận thấy sự thành công của các bạn.
Trước khi dứt lời, tôi xin thay mặt Hội Thánh thành tâm cầu nguyện ơn trên ban phước lành cho toàn đạo và toàn sanh chúng.
Kính chào quí vị.

7 - Bài Thuyết Đạo Nhân ngày vía Đức Phất Thích Ca mồng 8 tháng tư năm Bính Ngọ (dl : 27/5/66)
Nhân ngày vía ĐỨC PHẬT THÍCH CA, tôi xin lược giải tiểu sử của ĐỨC NGÀI dưới đây :
Đức Phật Thích Ca là một vị Thái tử con vua Tịnh Phạn Vương tên thiệt của Thái tử là Siddarta thành hôn cùng công chúa Yosashara, cả hai sống cuộc đời vương giả, giàu sang tột bực, dưới thế không ai sánh kịp. Nhưng Thái tử không được vui lắm với cuộc đời sung sướng ấy. Hằng ngày Ngài cứ đăm đăm suy nghĩ có lẽ đó là vì linh tánh phi phàm của một đấng Đại Bồ Tát giáng trần có sẳn sứ mạng Thiêng liêng cứu dân, độ thế nó ẩn tàng trong tâm linh, âm thầm thúc dục mà những thú vui phàm trần kia không ám ảnh được lòng Ngài.
Sau khi xuất du ngoài bốn cửa hoàng thành, Ngài chợt thấy những cảnh đau khổ của con người nào là sanh khổ, bịnh khổ, lão khổ, tử khổ, làm cho lòng xuất gia đầu Phật phát khởi từ đó.
Một đêm kia, Ngài cùng một môn hạ trung thành tên là Sa-Nặc vượt khỏi hoàng thành đi tìm chân lý trong chốn thâm sơn cùng cốc không ngoài mục đích cứu nhân độ thế thoát khỏi trầm luân khổ ải. Đó cũng vì lòng vị tha rất cao cả.
Đến một cụm rừng, Ngài giao ngựa và ngọc ngà châu báu của Ngài cho Sa-Nặc đem về trả lại Vua cha. Còn Ngài thì tiếp tục lên đường tầm Đạo. Lúc đó Ngài trở thành một thầy Sa Môn khác xa một vị Thái tử nhà vua .
Trong thời gian xuất gia tầm đạo Ngài đi đây đi đó ta bà thế giới và tìm các nhà tu sĩ trứ danh thời ấy để luận Đạo. Sau đó Ngài nhận thấy Đạo của mấy vị ấy chưa đến cứu cánh giải thoát nên Ngài vào tu nơi rừng khổ hạnh.
Trong sáu năm tu khổ hạnh trong rừng này luôn luôn thi hành pháp môn khổ hạnh, không dám ăn no, đêm không dám ngủ thẳng giấc, lắm lúc đứng một chân ngoài trời nắng, có lúc ngồi kiết già suốt đêm dưới gốc cây cho đến còn da bọc xương, tinh thần suy kém, có lần phải ngất xỉu nhờ có 5 vị đệ tử giải cứu.
Tinh thần quá sút kém, thân thể quá tiều tụy mà chánh đạo cũng chưa tìm được. Nếu người thiếu kiên tâm trì chí thì cũng thất Đạo mà chớ.
Có lẽ Ngài nghĩ rằng : Phép tu khổ khắc này không đem lại kết quả, nên Ngài từ giả khổ hạnh lâm đến bờ sông Ni Liên tắm rữa sạch sẽ. Nghe trong người mát mẽ và cảm thấy khoan khoái rồi có hai nàng con gái chăn trâu đem dâng sữa và mật. Uống rồi thấy sức khoẻ và tinh thần hồi phục và khí sắc tươi tỉnh lại như xưa.
Ngài quyết định từ đây không tu khổ khắc nhục thân như trước nữa, nhưng như thế không có nghĩa là hoàn tục mà là phải giữ mực trung dung, không quá khổ khắc cũng không phóng túng, ấy gọi là trung đạo.
Sau khi tham thiền nhập định dưới cội Bồ Đề Ngài lập nguyện rằng : Ngày nào chưa thành đạo thì chưa rời khỏi nơi này. Lời đại hồng thệ này giúp Ngài đủ nghị lực thắng nổi Ma Vương và ngộ Đạo Chơn Giáo . Do thiền định mà Ngài thông rõ các việc tiền kiếp, trừ khử các ác căn trong lòng, lý hội được thập nhị nhơn duyên là lưới giam hãm chúng sanh trong vòng sanh tử và phát minh tứ diệu đề là bốn phép giải khổ sau này : 1. Khổ đề, 2. Tập đề, 3. Diệt đề, 4. Đạo đề. Trong Đạo đề có phân làm bát chánh đạo dưới đây : 1/ Chánh kiến, 2/ Chánh tư duy, 3/ Chánh ngữ, 4/ Chánh nghiệp, 5/ Chánh mạng, 6/ Chánh tinh tấn, 7/ Chánh niệm, 8/ Chánh định.
Đức Phật Thích Ca là một chơn linh một bậc Đại Bồ Tát nên Ngài ngộ Đạo dễ dàng, nhưng cũng không khỏi nhọc công tầm Đạo buổi đầu, còn như chúng ta đây đã may duyên gặp được Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do ĐỨC CHÍ TÔN thành lập thế này lại còn giảng dạy đủ điều, chúng ta sẳn lòng tìm Đạo thì không còn gặp khó khăn như ĐỨC PHẬT ngày trước nữa. Chúng ta chỉ cần cố gắng lập công bồi đức trong cửa Đạo xây dựng nền Đạo cho ra thiệt tướng cho toàn thể chúng sanh gội nhuần ân huệ thì ĐỨC CHÍ TÔN cùng các Đấng Thiêng Liêng sẽ giúp cho chúng ta đắc đạo cũng như các bậc tiền bối của chúng ta vậy, chẳng hạn như sự đắc Đạo của ĐỨC HỘ PHÁP vị giáo chủ đã hội đủ điều kiện để đạt vị nơi cõi Thiêng Liêng hằng sống.
Chúng ta phải tự nhận rằng : ĐỨC HỘ PHÁP đắc đạo không phải chỉ hưởng riêng một mình đâu, mà ĐỨC NGÀI cũng chia sớt phần nào cho toàn Đạo, vì trong việc phổ độ chúng sanh chúng ta cũng có góp phần vào đó thì chúng ta chỉ cần kiên tâm trì chí chờ ngày điểm đạo thì thế nào cũng có ghi công cho tất cả bổn đạo, trừ ai manh tâm phản đạo thất thệ cùng các Đấng thì sẵn có Thiên Điều định phận, kỳ dư con cái ĐỨC CHÍ TÔN đều có dành phần hạnh phúc Thiêng Liêng. Ai đã giác ngộ chút ít cũng có thể hiểu thấu được điều đó, không nên thắc mắc làm gì cho nhọc trí.
Đường lối đã vạch sẵn, chúng ta chỉ cần đi thẳng một mạch cho đến nơi đến chốn, không nên tìm đâu nữa cho thất công và e cũng có thể đi lạc mà chớ. Nhứt là đừng đứng núi này trông núi nọ, chạy theo mồi danh bã lợi như thói thường tình.
Lúc này là lúc nhơn tâm bất nhứt, người Đạo cần phải thận trọng, nếu thiếu nhận xét, không phân biệt đâu chánh đâu tà, đâu hư, đâu thiệt thì có thể bị lôi cuốn vào đường bất chánh làm cho thất Đạo, dẫu có công tu luyện bao nhiêu cũng chỉ là công dã tràng mà thôi.
Trước khi dứt lời, tôi xin thành tâm cầu nguyện Ơn Trên ban phước lành cho toàn đạo và toàn sanh chúng.

8 - Huấn Từ Của Hội Thánh nhân dịp lễ Phát Thưởng của trường Lê Văn Trung ngày 8/5/66
Nhân cuộc lễ phát thưởng cho học sinh trường trung học Lê Văn Trung, tôi xin nhân danh Hội Thánh vắn tắt lời khen tặng qúi vị Hiệu trưởng, Ban Giám Đốc và Giáo sư đã dày công xây dựng và đào tạo trẻ em học sinh trở thành những phần tử ưu tú cho quốc gia và xã hội sau này. Ngôi trường này trước kia còn là nhà tranh vách đất nay nhờ qúi vị hết lòng góp bồi mới được đồ sộ nguy nga như thế này. Qúi vị lại tận tâm giáo hoá đàn em để rèn đúc nhân tài lỗi lạc. Nhiều nhân vật xuất thân nơi trường Lê Văn Trung này đã làm nên công nghiệp vĩ đại, công ơn ấy tất cả học sinh và phụ huynh của họ đều ghi xương tạc dạ.
Các em học sinh thân mến,
Nay mai đây, các em sẽ rời khỏi mái trường để lại nghỉ hè sau một năm học tập nhọc nhằn, các em lãnh thưởng rồi trở về tổ ấm gia đình chung vui cùng thân nhân, bè bạn. Các em sẽ hồi tưởng lại công ơn giáo hoá của Thầy tức là ông cha thứ hai đã thay thế cha mẹ mình mà dìu dắt dạy dỗ các em cho nên danh phận, theo lễ giáo nước nhà, ông Thầy dạy cũng đứng vào bậc phụ huynh (Tam Phụ) có câu châm ngôn : “Không thầy đố mày làm nên”. Các em học lễ học văn được là nhờ ông thầy mình, vì vậy mà tình Sư-Đệ cũng là một mối tình đậm đà thấm thía. Vậy trước là công sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, sau là công ơn giáo hoá của Thầy các em nên ghi nhớ, phải cố gắng dồi mài cho nên người hữu dụng để đền đáp công ơn cha mẹ và Thầy dạy, và sau nữa là nhờ sự học vấn của mình nó sẽ là căn bản cho sự tiến thân và lập vị.
Những bậc vĩ nhân trong nước mà chúng ta thường ca tụng công đức trước kia cũng là học trò như các em. Sỡ dĩ họ lập được kỳ công hiển hách ấy cũng nhờ sự học vấn làm căn bản, rồi mở rộng thêm kiến-văn mà đạt vị. Phương ngôn có câu “ Có công mài sắt có ngày nên kim”
Vậy nên sự cố gắng và kiên tâm trì chí rất cần cho các em trong nền học vấn.
Hội Thánh rất hài lòng nhận thấy sự học hành của các em được phát triển khả quan, bằng chứng là nhà trường đã dành phần thưởng xứng đáng cho các em nhân buổi lễ này. Qua xin để lời khen tặng và chúc mừng các em.
Thưa qúi vị,
Trước khi dứt lời, tôi xin thành tâm cầu nguyện ơn trên ban phước lành cho toàn thể qúi vị cùng qúi quyến.
Kính chào qúi vị

Kính thưa Hội Thánh Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng, Phước Thiện.
Kính thưa chư Chức Sắc Thiên Phong, chư Chức Việc và Đạo Hữu nam, nữ.
Hôm nay là ngày lễ Trung Ngươn rằm tháng 7 năm Bính Ngọ. Tôi thiết tưởng không có đề tài thuyết pháp nào hơn là : Vấn đề sáng lập nên Tân Giáo Kỳ Ba tức là : Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà chính mình ĐỨC CHÍ TÔN đến xây dựng tại nước Việt Nam này để ban rưới hồng ân cho toàn thế giới nói chung và cho đồng bào Quốc dân Việt Nam nói riêng được gội nhuần.
Năm Aát Sửu (1925) sau một thời gian xây bàn do các vị đầu công khai đạo tổ chức, ĐỨC NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ tá danh CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT giáng cơ lần đầu tiên và xưng chánh danh bằng bài thi tứ tuyệt như vậy :
Nhân dịp ấy ĐỨC CHÍ TÔN bắt đầu dạy Đạo và lấy tên 12 vị môn đồ hiện diện hầu đàn tức là mấy ông : Chiêu, Kỳ, Trung, Hoài, Bản, Sang, Qúi, Giảng, Hậu, Đức, Tắc, Cư để vào một bài thi tứ tuyệt khác.
Đêm mồng ba tháng giêng năm 1926 (dl) ĐỨC CHÍ TÔN dạy về việc thủ cơ chấp bút, dặn phải có một chơn linh tinh tấn mới mầu nhiệm diệu huyền, phải trường trai mới đặng linh hồn tinh tấn, phải tập tành chí Thánh, Tiên, Phật mới phò cơ dạy Đạo cả chúng sanh. Kẻ phò cơ chấp bút cũng như Tướng soái của Thầy để truyền Đạo cho Thiên hạ, các con đừng tưởng việc cơ bút là việc tầm thường.
Đêm 20 tháng 2 năm 1926 (dl) ĐỨC CHÍ TÔN giảng dạy như vầy :
Thầy vui muốn cho các con thuận hoà cùng nhau hoài ấy là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Phải chung lo cho danh Đạo Thầy.
Đạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy, phải làm cho nhau đặng thế lực đừng ganh gổ nghe ! các con giữ phận làm tùy ý Thầy muốn, ngày kia sẽ rõ thấu ý muốn của Thầy.
“Thầy cấm các con không cho dị nghị việc người, nhứt là Đạo hữu của các con thì đừng phạm đến kẻo tội nghiệp, chi chi cũng phải nhớ quyết rằng có Thầy trong đó”
Như Thánh Giáo trên đã dặn : Đừng tưởng việc cơ bút là việc tầm thường .
Việc cơ bút phải có một phần của đồng tử, một phần của Thầy hiệp nhứt mới thấu đáo Càn Khôn, tinh thông vạn vật đặng.
Trong sự hiệp nhứt này có hai phần linh cảm tương đối một phần thiêng liêng và một phần phàm tục. Nếu hai phần linh cảm đó do một sức phi phàm vận chuyển thì mới tránh được sự bất chánh của đồng tử.
Mặc dầu có lời dạy như vậy mà chúng ta thường nghe thấy nơi này cơ bút, đầu kia cũng cơ bút làm cho nhân sanh phải hoang mang không biết đâu thiệt, đâu hư vì có nhiều đàn cơ mâu thuẩn (?), lại có cơ phong Thánh Lập Đạo riêng không còn đếm xỉa gì đến Thánh Thể của Chí Tôn đã giáng lập chánh thức, như thế bảo sao không chia rẽ và loạn pháp được. ĐỨC HỘ PHÁP vì hiểu rõ tâm lý của nhiều nhóm đồng tử nên đã ra Thánh Lịnh số 2L năm Tân Mão (1951) để ngăn ngừa trước mà cũng không tránh khỏi cái hạn lợi dụng cơ bút để gạt gẫm nhơn sanh và lôi cuốn Chức Sắc chẳng phải ít, Thánh Lịnh ấy đã ấn định rõ hình phạt cho những đồng tử vi phạm luật pháp. Tuy nhiên lòng hám vọng của con người khó mà kềm chế được.
Sỡ dĩ tôi phải nhắc lại những điều đau lòng này là vì tôi đang đảm nhiệm trọng trách Bảo Thủ Luật Pháp Chơn Truyền của Đạo nên cần phải nói rõ ra cho Đạo hiểu sự quan hệ của cơ bút, vì nó có đủ năng lực lập Đạo, thì nó cũng có thể phá Đạo đặng vậy. Nói thế để đề cao cảnh giác chớ không phải cấm cơ bút đâu. Vì Thánh Giáo dạy rằng : Ai ai cũng có quyền cầu cơ học hỏi việc Đạo, miễn là đừng vi phạm đến chủ quyền của Đạo thôi. Nhưng làm sao phân biệt được sự chánh tà của cơ bút.
Vừa rồi tại giảng xá ở Gia Định cũng có lập đàn cơ cầu hỏi. Nhân dịp ấy ĐỨC CHÍ TÔN giáng dạy hai vị tu sĩ ông Đạo Dừa và ông Nguyễn Văn Sự phải tuân theo Tân Luật và Pháp Chánh Truyền thì mới đắc Đạo. Cơ bút tuy không phải do đồng tử của Toà Thánh Tây Ninh chấp nhưng lời lẽ dạy Đạo như vậy có ai dám cho là tà?
Đó là nói về cơ bút. Còn trong đoạn sau của Thánh Giáo ĐỨC CHÍ TÔN dạy phải thuận hoà cùng nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Phải chung lo cho danh Đạo Thầy. Phải làm cho nhau đặng thế lực đừng ganh gỗ nhau.
Khi vừa đến ĐỨC CHÍ TÔN đã dạy chữ “HÒA” điều đó tưởng không cần giải, ai ai cũng đều hiểu biết. Nhưng biết để thực hành chớ không phải biết mà để bụng. Hễ muốn Hoà thì tự nhiên phải biết thương yêu nhau như con một nhà, mới chung lo xây dựng cái nhà chung của mình tức là Danh Đạo của Thầy vậy.
Danh Đạo đã ra thiệt tướng tức là chúng ta đã làm cho nhau đặng thế lực, nghĩa là ta phải làm cho Đạo có chủ quyền thì thế lực của ta ở trong chủ quyền đó.
Vậy thì chúng ta cần phải đoàn kết nhau cho chặc chẽ thành một khối tinh thần bất diệt để giữ gìn Đại Nghiệp chung của chúng ta cho được vững bền trường cửu.
Ai là phần tử có tinh thần xây dựng nghiệp Đạo cũng đồng một chí hướng như nhau làm cho Đạo nên thì chúng ta mới nên đặng .
Cây có cội, nước có nguồn, Toà Thánh Tây Ninh là nơi chính mình ĐỨC CHÍ TÔN đã sáng lập trước hết. Aáy là nguồn gốc của nền Đại Đạo. Kẻ nào manh tâm chia rẽ và thiết lập nơi khác tức là phản Đạo, phản ĐỨC CHÍ TÔN vậy.
Đây là lời cảnh cáo tối hậu của kẻ có phận sự cầm luật pháp chơn truyền, vì lòng ưu ái con cái ĐỨC CHÍ TÔN nên xin tha thiết kêu gọi toàn thể tín hữu khá lưu tâm đến Nghiệp Đạo, rán giữ gìn cho toàn vẹn, âu cũng là giữ lời minh thệ của mình khi nhập môn cầu Đạo đó vậy.
Rất mong thay !

10 - Bài Thuyết Đạo Nhân dịp lễ Thượng Nguơn rằm tháng Giêng Đinh Mùi
Cửu Trùng và Phước Thiện.
Kính thưa chư Chức Sắc, Chức Việc, Đạo Hữu lưỡng phái.
Nhân dịp lễ Thượng Nguơn rằm tháng Giêng Đinh Mùi và cũng là ngày vía của Đức Tiếp Pháp Chơn Quân tôi xin tiếp lời ĐỨC HỘ PHÁP để giải nghĩa Hội Thánh là gì ?
Hội Thánh là cả một nhóm lương sanh mà ĐỨC CHÍ TÔN hiệp làm một dùng quyền Thiêng Liêng mà dạy dỗ, ung đúc nơi lòng một khối từ bi cho tâm địa có mảy mún tình ái vật ưu sanh, theo đức háo sanh của Người dùng làm lợi khí phàm tục để rồi người phàm tục (. . . ? )
Nhóm lương sanh ấy phải làm thế nào cho trở thành một xác thân phàm của CHÍ TÔN, thì người mới có hình thể trong lúc Tam Kỳ Phổ Độ này hầu tránh hạ trần như mấy lần trước. Người lại dùng huyền diệu cơ bút dạy dỗ mỗi người để hiểu rằng có sự hiện diện của Người trước mắt và làm cho tất cả đều tin tưởng rằng Người là CHÍ TÔN, chủ Tể Càn Khôn Thế Giới cầm cân công bình thiêng liêng thưởng phạt và có đủ quyền năng bảo vệ con cái của Người. Công thưởng tội trừng, tu thì thành, dữ thì đọa, chỉ rõ đôi đàng Niết Bàn và Địa Ngục đặng dẫn bước cho nhơn sanh khỏi lầm lạc. Mở đường vào Cực Lạc Thế Giới và đóng cửa Phong Đô, độ tận chúng sanh vớt 92 ức nguyên nhân trở về cựu vị .
Nếu không phải CHÍ TÔN thì chưa một vị Phật nào dám đại ngôn như thế.
Chí Tôn đã lựa chọn đám lương sanh có đủ đức tin mà nhìn nhận. Người quả thật là Thầy, nó sẽ tràn lan khắp nhân gian mà gây ra một khối lớn trên mặt địa cầu, sửa đời cái dữ thì phải tu. Vì muốn cho nhơn sanh biết mến yêu mùi Đạo nên ĐỨC CHÍ TÔN mới lập Thánh Thể để xây dựng nền Đạo tại thế cho chúng sanh tin tưởng mà giục lòng tu niệm, đứng đầu cái khối lớn ấy là Hội Thánh.
Đạo là cơ mầu nhiệm phải làm thế nào cho ra hình thể như một con người dẫn người thoát khỏi chốn trầm luân khổ hãi và đạt đến cõi toàn giác , siêu phàm nhập thánh.
Cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh ấy nếu không phải Thầy cho thì chưa ắt xin ai mà đặng.
Thầy đến qui Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi đặng cho chúng ta hiểu cơ mầu nhiệm mà rèn luyện tinh thần và tâm tánh.
Qui Tam Giáo để tuyển lọc những triết lý cao siêu của mỗi Giáo phái ấy làm phương châm hành đạo và cũng là nhắc mục đích thống hiệp các Giáo phái làm một đặng đi đến đại đồng huynh đệ và cũng để tránh sự kỳ thị lẫn nhau vì lý do Tôn giáo.
Sanh làm người ở trần thế ai cũng phải biết qua các Đạo như : Nhơn đạo, Tiên đạo, Phật đạo mới làm đặng hoàn toàn phận sự con người. Vì nhơn đạo dạy ta vẹn giữ Tam Cang Ngũ Thường, Tiên đạo dạy ta phải rèn luyện tinh thần cho trí hoá thông minh. Phật giáo dạy ta giữ dạ từ bi, bác ái mà cứu độ nhơn sanh.
Biết trọng Đạo thì phải trọng mình nghĩa là phải giữ tinh thần cho tinh tấn mới đủ tư cách dạy Đời, vì chư Chức Sắc trong hàng Thánh Thể ĐỨC CHÍ TÔN có trách nhiệm rất quan trọng nên cần nhắc lại lời Thánh Giáo của ĐỨC CHÍ TÔN và HỘ PHÁP đã chỉ dạy.
Trong bài phú Thầy cho bà Cụ di mẫu của Cô Nữ Đầu Sư Hương Thanh có câu : “ Thầy dùng lương sanh mà cứu vớt quần sanh” Bấy nhiêu cũng đủ thấy sứ mạng của Chư Thánh quan trọng là đường nào. Vì Hội Thánh là hình thể của CHÍ TÔN tại thể nên thể Thiên hành hoá cho nên ai là người biết Đạo thì phải biết tôn trọng Hội Thánh, tôn trọng đây không có nghĩa là tôn trọng cá nhân nào mà là tôn trọng toàn thể khối Lương Sanh mà ĐỨC CHÍ TÔN đã tuyển chọn để thay thế Người mà độ rỗi quần sanh.
Tôn trọng Hội Thánh tức là tôn trọng chủ quyền của Đạo, phải bảo vệ chủ quyền ấy được trường tồn mãi mãi.
Kẻ nào thiếu nhận xét, thiếu đức tin và vì một lẽ riêng tư gì khác mà xâm phạm đến chủ quyền ấy tức là chạm đến hình thể ĐỨC CHÍ TÔN, là phản thầy phản Đạo, nên phải khép vào trọng tội, nơi Thiên Điều cũng như nơi luật pháp của Đạo đã ấn định.
Tôi thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần cái chủ quyền ấy cần phải được tôn trọng để xây dựng nền Đạo và bảo tồn nó thì Đạo mới còn, nếu chủ quyền mất thì Đạo cũng mất theo.
Kính thưa Hội Thánh,
Trong mấy ngày Xuân Nhựt, tôi có việc phải đi xa không về kịp để cùng Hội Thánh chúc Xuân, và cũng vì không đủ sức khoẻ nên phải chịu khiếm lễ. Nhưng nay cũng còn trong vòng ảnh hưởng của ngày Xuân, nên tôi trân trọng chúc Hội Thánh cùng toàn Đạo một năm mới đầy vui tươi và hạnh phúc trong Thánh Đức của Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu từ bi ban bố.

