

|
Hồi ký của QUI TÂM |

THAY LỜI TỰA
Cuối Hạ Ngươn, nhơn loại say mê vào
đường vật chất, phế cả giá trị đạo đức tinh thần, mới sanh ra nhiều
tộc ác.
Khi điểm thiên lương của Trời ban cho người đã
mất, con người chỉ biết có quyền lợi làm căn bản cho kiếp sống, lòng tham vọng
gây nên tranh chấp, quyết liệt tàn sát lẫn nhau, mạnh được yếu thua, để rồi đi
đến cơ tự diệt.
Đức Chí Tôn đến khai Đạo cốt yếu đem lời vàng
tiếng ngọc để thức tỉnh chúng sanh và cứu những người biết giác ngộ, biết cải ác
tùng lương lập đời Thượng ngươn Thánh đức.
Vào ngươn Thánh đức nhơn loại trên mặt địa
cầu, không phân biệt màu da sắc tộc, đồng nhìn một Đấng cha chung là Thượng Đế,
biết nhìn nhau là bạn đồng sanh. Con người biết tôn trọng, thương yêu, giúp đỡ
lẫn nhau, không còn hận thù chém giết, chung sống an cư lạc nghiệp trong thế
giới đại đồng hoà bình hạnh phúc.
Vì nhơn loại không thể tạo hoà bình chung
sống, tự do dân chủ cho nhau, nên Đức Chí Tôn đến khai Đạo để tạo hoà bình hạnh
phúc và tự do dân chủ thật sự cho toàn thiên hạ.
Đó là cơ cứu khổ và cứu thế của Đức Chí Tôn.
Buổi ban sơ khai Đạo, Thiên Ý đã để trong hai câu liễn trước Toà Thánh.
CAO THƯỢNG CHÍ TÔN ĐẠI ĐẠO
HOÀ BÌNH DÂN CHỦ MỤC
ĐÀI TIỀN SÙNG BÁI TAM KỲ
CỘNG HƯỞNG TỰ DO QUYỀN
Sự thực hiện được mục đích ấy rất khó khăn và
mắc mỏ, nên phải có đức tin mạnh mẽ đặt trọn vào hai Đấng Phụ Mẫu vạn linh là
Đức Chí Tôn và Phật Mẫu. Phải kiên tâm trì chí, chịu nhẫn nhục với tinh thần hy
sinh phụng sự, cương quyết làm tròn sứ mạng đến thành công.
Các bậc tiền bối có sứ mạng khai sáng mối Đạo
như Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, cùng nhiều
vị khác đã trải qua biết bao nhiêu khổ hạnh, gian lao cho đến ngày qui vị...
***
Năm 1931
THÔNG ĐIỆP
HOÀ BÌNH CỦA
ĐỨC QUYỀN
GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT
Vào năm 1931, Đức Quyền Giáo Tông
Thượng Trung Nhựt nhân danh Giáo Tông Đạo Cao Đài, thay lời Đức Thượng Đế, kêu
gọi Hoà Bình các nước trên mặt địa cầu thông qua Hiệp hội báo chí Thế giới,
nguyên văn như sau :
Tây Ninh, ngày
1-12-1931
Kính gởi Quí vị Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Báo
Chí Thế Giới,
Kính Quí vị Chủ Tịch,
Chúng tôi rất hân hạnh và kính cẩn yêu
cầu quí Ngài khuyến nhủ tất cả các Giám đốc nhựt báo, các tạp chí định kỳ, dành
cho chúng tôi một chỗ để kêu gọi sự thống nhứt đức tin như bản kèm theo đây.
Đó là một đặc ân mà báo chí ban cho toàn
thể nhơn loại. Sở dĩ nếu sự thống nhất đức tin được thực hiện, thì các chủng tộc
sẽ xem nhau như anh em và Hoà Bình thế giới sẽ được giải thoát cơn ác mộng ghê
gớm về một trận thế chiến sắp xảy đến mà sức phá hoại sẽ mười phần dữ dội hơn
trận thế chiến (1914-1918).
Mong Quí vị Chủ Tịch nhận nơi đây
những cảm tình kính mến và biết ơn của chúng tôi.
THƯỢNG TRUNG NHỰT
Toà
Thánh Tây Ninh
Ngày 1-12-1931
THÔNG
ĐIỆP
Kính gởi :
-
Chư Vị Hoàng Đế Quốc Vương
-
Quí Vị Nguyên Thủ Lãnh đạo
các nước
-
Chư Vị Giáo Lãnh các Tôn Giáo
trên thế giới,
Kính thưa Quí Ngài,
Chúng tôi trân trọng và thành kính
thông báo cùng quí Ngài, Đấng Tối Cao tức là Đấng Thượng Đế toàn năng, mà cũng
là Đại Từ Phụ của tất cả nhơn loại, đã giáng lập trên một góc của nước Việt Nam
thuộc tỉnh Tây Ninh một nền Tân Tôn Giáo. Nền Tân Tôn Giáo này có thể canh tân
toàn thể thế giới bằng một lý tưởng cao quí, đó là tình thương vạn vật, rồi đây
bởi sự chuyển xây của Tạo Hoá, các sắc dân sẽ đồng tâm hiệp lực kết tình anh em
với nhau và chừng ấy nền Hoà Bình Thế Giới sẽ phát hiện.
Chiến tranh ! Cuộc chiến tranh tội
lỗi giữa huynh đệ giết nhau một cách ghê tởm của thế kỷ 20 được mệnh danh là
tiến bộ văn minh vẫn có thể tránh được.Sở dĩ chúng tôi nói đến “Tội huynh đệ
giết nhau” là vì dầu cho chủng tộc nào có phân chia nòi giống, nhưng tất cả đang
sống trên quả Địa cầu này đều là con cái cùng tuỳ thuộc dưới quyền năng ngự trị
của Đấng Cha chung là Thượng Đế, hay nói rõ hơn là Đấng Chủ Tể cầm vận mạng của
họ. Một khi các dân tộc gây hấn chiến tranh với nhau, điều đó có khác nào anh em
một cha đã tự giết nhau đó vậy.
Nhận lãnh nơi Thượng Đế bậc Từ Phụ của toàn
nhơn loại, chúng tôi có cái sứ mạng truyền bá nền Chánh giáo của Người đến khắp
hoàn cầu.
Chúng tôi có đủ bằng chứng về sự giáng hạ của
Người trên đất nước này với nhiều phép lạ đã xảy ra giống như thời Chúa Jesus
ngự, đến ban phép lạ xưa kia ở Lourdes
và các nơi khác.
Tin tưởng mãnh liệt vào hiệu năng của nền Tôn
giáo này và hoàn toàn vững tin nơi thiện ý của mình, chúng tôi đã trình bày lên
nhà cầm quyền thuộc địa Pháp một bản Minh Thệ viết tay (kèm theo đây có một bổn)
mà nội dung chúng tôi cam kết với lời hứa chịu tử hình rằng chỉ chăm lo về mặt
Đạo Giáo chớ không mảy may nào làm rối loạn an ninh trật tự.Ngược lại chúng tôi
yêu cầu được sự giúp đỡ và hỗ trợ của nước Pháp để thi hành sứ mạng truyền bá
nền Tôn giáo này khắp hoàn cầu.
Đối với sự kính trọng của chúng tôi, tiếc thay
các vị đại diện của nhà cầm quyền thuộc địa Pháp vẫn không có hảo ý đáp ứng, một
số ít tỏ ra thông cảm khoan dung, một số khác lại áp dụng đủ mọi cách cốt để
ngăn chặn sự truyền bá này.
Đức Thượng Đế đã giáng dạy chúng tôi hoằng hoá
Chánh Đạo của Người đến khắp hoàn cầu, chúng tôi quả quyết không có gì lầm lẫn
trong sứ mạng ấy. Đặt mình vào bổn phận, chúng tôi khẩn thiết yêu cầu quí Ngài
thông truyền cho toàn thể nhơn loại thế giới hiểu biết việc làm của chúng tôi,
để mọi người hiểu rằng : “Giờ Đại Xá Đức Chí Tôn đã điểm “… cả sự thống hiệp của
con cái Đấng Tạo Hoá là để phụng sự cho Hoà Bình hơn là tiếp tục tìm kế hoạch
thống trị thế giới
Muốn được vậy, chỉ cần sao cho tất cả người
đời biết thương yêu đồng chủng và giữ gìn hạnh đức đúng theo đường lối mà Đức
Chí Tôn đã vạch.
Chúng tôi chắc rằng, hơn ai hết quí vị Đế
Vương, Quốc Vương, Quốc Trưởng, Giáo Chủ v.v … đều muốn cho thần dân và thuộc hạ
đang sống dưới quyền uy của quí vị đều được sống mà không bị ám ảnh bởi một sự
sợ hãi triền miên về một trận chiến tranh tương lai, mà các vũ khí tối tân sẽ
gây nên những sự tàn phá và những sự ghê tởm không tả xiết, hơn thế nữa quí Ngài
mong muốn họ sống một đời sống an bình, hạnh phúc và vĩnh viễn thoát khỏi cơn ác
mộng về một trận chiến tranh cận đại”.
Chúng tôi yêu cầu quí Ngài phái sớm một số
người đến với chúng tôi để họ có thể hiểu rõ hơn những gì mà chúng tôi đã gầy
dựng nên. Đức Thượng Đế phán dạy chúng tôi như vầy:
“Các con, mối Đạo của Thầy nếu các con
phát trễ một ngày thì mỗi ngày qua sẽ là dịp để cho hàng trăm ngàn linh hồn đoạ
lạc nơi chốn trầm luân.”
Giờ đây lời kêu gọi đã được truyền ra khắp
chốn, chúng tôi nghĩ rằng : “Mình đã làm tròn bổn phận ”. Tuy nhiên khi nào có
đủ phương tiện chúng tôi sẽ đi khắp hoàn cầu để truyền đến mỗi dân tộc lời Thánh
Giáo mới mẻ này.
Kính mong quí Liệt vị chiếu cố và thể nhận nơi
đây lòng tôn kính sâu xa của chúng tôi.
QUYỀN
GIÁO TÔNG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Thượng Trung Nhựt
***
BỨC THÔNG ĐIỆP CỦA ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG
được sự hưởng ứng của Giáo Hội bên Châu Âu như sau:
EGLISE GNOSTIQUE của Đức Quốc
P. FUTLINGEN,
ngày 13-12-1931
Kính thưa : Đức Ngài cao cả, quyền năng và
thánh thiện,
Thưa Đức Ngài,
Bức Thông điệp của Đức Ngài đã đến
vùng Trung Âu chúng tôi!Tổng Giáo Hội Eglise Gnoslique Đức Quốc, mà chúng tôi là
Trưởng Lão quyết định chuẩn bị liên hợp với Cao Đài Giáo …
Tôi được lãnh nhiệm vụ báo tin cho Đức Ngài
biết sự quyết định này và kính xin Đức Ngài thông truyền cho chúng tôi về Lịch
sử, Hiến chương, Giáo lý và những nghi lễ nền Đại Đạo của Ngài bằng tiếng Pháp,
tiếng Anh, tiếng Hoà Lan; để nhờ đó, chúng tôi tổ chức các Giáo Hội Cao Đài ở
những quốc gia như Đức, Áo, Thụy Sĩ, Hoà Lan, Bỉ, Lithuaniens, Lettens và
Estheniens.
Để vững tin vào sự thật hiện điều
mong ước đó, xin Đức Ngài hãy xem tôi như người thuộc hạ khiêm tốn của Đức Ngài
vậy.
Ký tên H.Godwin
Thánh cha và Trưởng Lão của Giáo hội Eglise
Gnostique Đức Quốc.
Địa chỉ : H. Godwin Stuertuets (GrenzMard).
Đức Quốc (Allemagne).
***
Năm
1933
TOÀN
QUYỀN ĐÔNG PHÁP
P.PASQUIER BỊ CHÁY
MÁY
BAY
Năm 1933, Quan Toàn Quyền Đông Pháp Pierre Pasquier giả tạo một số Thánh Giáo của Đạo tiên tri về thời cuộc đem về trình với Chánh phủ Pháp để diệt Đạo Cao Đài. Máy bay của ông tới Pháp chỉ còn cách Paris 200 cây số thì phát nổ và cháy. Trong lúc bối rối, ông định quăng va li tài liệu của Đạo xuống đất nhưng lại quăng lầm va li quần áo, còn tài liệu của Đạo cùng vợ chồng ông bị cháy rụi trong máy bay.
Chơn linh Ông là một chơn linh Bạch Vân Động nên sau đó có giáng cơ về than với Đức Hộ Pháp vì quan trường làm cho ông mù quáng phá Đạo của Đức Chí Tôn, bị phạm Thiên Điều. Ông có cho một bài thi như dưới đây :
THI
Vương bá bửu ngôi thị ngục hình
Thiên lao như thử tất công khanh
Đồ thân phát phối cầm dân mạng
Y phục cân đai thị tử thành.
Năm 1934
ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG ĐĂNG TIÊN
Năm 1934, Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt đăng tiên.Tang lễ được cử hành long trọng có hàng vạn tín đồ Nam, Nữ về Toà Thánh. Đức Lý Giáo Tông giáng cơ giao quyền Chưởng Quản Cửu Trùng Đài cho Hộ Pháp, bài thi khoán thủ :
HỘ PHÁP CHƯỞNG QUẢN NHỊ HỮU HÌNH ĐÀI.
THI
Hộ giá Chí Tôn trước đến giờ
Pháp luân thường chuyển máy thiên cơ
Chưởng quyền Cực lạc phân ngôi vị
Quản xuất Càn khôn định cõi bờ
Nhị kiếp Tây âu cầm máy tạo
Hữu duyên Đông Á nắm Thiên thơ.
Hình hài Thánh thể chừ nên tướng
Đài trọng hồng ân gắng cậy nhờ.
*
Năm 1935
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở MIỀN RỪNG NÚI LỘC NINH, HỚN QUẢN VỀ TOÀ THÁNH
Năm 1935, ông Lễ Sanh Thượng Út Thanh được Hội Thánh bổ nhiệm đi phổ độ người thiểu số ở vùng rừng núi Lộc Ninh, Hớn Quản.Sau một thời gian chịu khó khăn, ông Út độ được trên hai ngàn (2000) người theo Đạo.
Khi về Toà Thánh ông Út mặc Tiểu phục cỡi ngựa dẫn đầu, phía sau cứ mỗi một hàng ngang là bốn người Nam có Nữ có nối dài cả một cây số, lộ trình từ Suối đá lên Bàu Năng, rồi đến cửa Hoà Viện, đặc biệt là mỗi người mang theo sau lưng một cái gùi và tay cầm cái chà gạc bén nhọn để lên vai, đó là vũ khí bảo vệ của họ.
Bổn Đạo hai bên đường trông thấy rất ngạc nhiên và lạ lùng chưa bao giờ có.Lễ Sanh Út mặc tiểu phục, cỡi ngựa coi oai vệ như Tướng lãnh, phía sau đoàn quân đi ngay hàng thẳng lối, có trật tự, mà toàn là người thiểu số.Thật là phi thường ngoài sức tưởng tượng của mỗi người, vì số người thiểu số này không bao giờ chịu theo người Pháp, mà ông Út dẫn độ họ theo Đạo được là một công nghiệp phi thường hiếm có.
Khi nhà cầm quyền Pháp tỉnh Tây Ninh hay tin thì họ quá lo ngại vì sợ Đạo làm loạn, mặc dầu Hội Thánh có trình bày là số người này hiền từ, họ theo Đạo để tu hành, chớ không làm gì hại đến nhà nước.Hội Thánh lo may sắm Đạo Phục áo dài trắng cho họ và cuối cùng Pháp yêu cầu Hội Thánh cho họ trở về rừng núi của họ, chỉ còn ở lại một số ít thôi.
*
Năm 1936
NHÀ CẦM QUYỀN PHÁP ÁP CHẾ ĐẠO
Năm 1936, Đức Hộ Pháp nhân danh Hội Thánh Đạo Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh gởi đơn xin phép làm Lễ khánh thành Thánh Thất Trảng Bàng với nhà cầm quyền Pháp, đồng thời Hội Thánh mời các quan khách và bổn đạo ở khắp địa phương. Nhưng gần đến ngày hành lễ thì nhà cầm quyền Pháp ra lệnh cấm và cho lính Tây bao vây, canh gác Thánh Thất Trảng Bàng không cho ai đến. Đức Hộ Pháp cho người đến gặp Luật Sư Trịnh Đình Thảo tại Sài Gòn để bày tỏ sự việc rắc rối này. Ông Thảo liền đánh điện qua Pháp cho bạn ông là Georges Mandel, đương kim Tổng Trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp, ông này liền đánh điện qua Hà Nội cho toàn quyền phải để cho Đạo Cao Đài được tự do tín ngưỡng.
Tức thì lính Tây bao vây Thánh Thất Trảng Bàng rút hết và cuộc Lễ khánh thành được cử hành long trọng với đông đủ quan khách và hàng vạn tín đồ các địa phương về tham dự.
Luật sư Trịnh Đình Thảo là cố vấn pháp luật của Đạo Cao Đài. Ông lập được nhiều kỳ công với Đạo.Nhờ đó, Lễ khánh thành Thánh Thất Trảng Bàng được kết quả như ý muốn. Đạo có tiếng vang và Đức tin của tín đồ thêm vững.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy mỗi phen Đạo bị áp bức thì Đạo tiến lên một bực, càng bị nhận chìm càng nổi lên cao, Đức Chí Tôn trui rèn con cái của Ngài cho ra thiệt tướng.
*
Năm 1936
LỄ ĐẠI TƯỜNG ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG
Tháng 10 Bính Tý (1936)
Đức Hộ Pháp giao cho Ngài Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh đứng ra tổ chức cuộc Lễ Đại tường Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt. Cuộc Lễ được toàn thể tín đồ hưởng ứng mạnh mẽ vì ngưỡng mộ công ơn của Đức Quyền Giáo Tông, cũng như ngày đăng tiên toàn thể đều bịt khăn tang.
Hồi đó chung quanh Nội ô Toà Thánh chỉ có bốn hướng Đạo, ngoài ra toàn là rừng, có bè thuỷ lục của các tỉnh miền tây về đậu tại Bến kéo, các tỉnh đều có Cộ, số bổn đạo về dự có trên sáu chục ngàn người (60.000), tối ngủ hai bên rừng thiên nhiên suốt cuộc lễ bảy ngày. Cuộc lễ có nhiều quan khách ngoại quốc và trong nước tham dự.
Sự long trọng của cuộc lễ làm cho tinh thần của toàn Đạo được nâng cao.
*
KHỞI CÔNG TẠO TÁC TOÀ THÁNH
Sau cuộc lễ Đại Tường Đức Quyền Giáo Tông, Đức Hộ Pháp cho khởi công tạo tác Toà Thánh và các dinh thự ngày 1-11-Bính Tý (1936).
***
Năm 1937
TỜ PHÚC SỰ CỦA ĐỨC HỘ PHÁP GỞI CHO PHÁP
Do theo sự điều tra của Ủy ban điều tra các thuộc địa Pháp hạch vấn về Đạo Cao Đài, Đức Hộ Pháp với tư cách Giáo Chủ Đạo Cao Đài có gởi bản phúc sự hồi đáp với đại ý : Chánh sách cai trị của Pháp áp dụng theo cái văn minh Cơ Đốc Giáo của Phương tây, còn tinh thần Dân tộc Việt Nam đã lâu đời thấm nhuần tinh thần Khổng Giáo bên Phương Đông. Đạo Cao Đài dung hoà tư tưởng Đông và Tây, lấy Nho tông chuyển thế trên căn bản tinh thần đạo đức của Tổ phụ lưu truyền là bác ái, công bình, vị tha, ưu nhơn, ái vật …
Chủ nghĩa Đạo Cao Đài phù hợp tinh thần thuần tuý Dân tộc Việt Nam, cho nên Đạo được bành trướng mau lẹ, làm cho người Pháp phải lo lắng. Lại nữa, người Pháp xét thấy Đức Hộ Pháp là nhà cách mạng đạo đức có tinh thần ái quốc, tuy bất bạo động nhưng không hợp tác. Người Pháp xét thấy bất lợi cho chánh sách thuộc địa của Pháp ở Đông dương.
*
Năm 1937
ĐỨC HỘ PHÁP BỊ TRUẤT PHẾ LẦN THỨ NHỨT
Trong lúc Đức Hộ Pháp và toàn Đạo đang nổ lực tạo tác Toà Thánh thì ở Sài Gòn có một phiên họp tại Phú Nhuận do Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang làm chủ toạ, ký tờ thông tri gởi cho toàn Đạo có đông đủ Chư vị Thời Quân Hiệp Thiên Đài.
Có vài vị trong Thập Nhị Bảo Quân ký tên không nhìn nhận chức Hộ Pháp của Ông Phạm Công Tắc. Tờ thông tri này đối với toàn Đạo là vô hiệu lực vì không đúng với chơn truyền Luật pháp của Đạo.
*
Năm 1938
ĐẠI HỘI NHƠN SANH NĂM MẬU DẦN (1938)
Đại hội Nhơn Sanh năm Mậu Dần công nhận quyền thống nhất Chánh trị Đạo của Đức Hộ Pháp cho tới ngày có Đầu sư chánh vị, lập thành Bộ luật Đạo năm Mậu Dần, với bốn cơ quan nền Chánh trị Đạo : Hành Chánh, Phổ Tế, Pháp Chánh và Phước Thiện.
*
Năm 1939
ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG GIÁNG CƠ CHO
ĐỨC HỘ PHÁP MỘT BÀI THI
Đức tin một khối tượng nên hình
Đã hiệp vạn linh với Chí Linh
Nêu phướn từ bi tiêu hoạn lạc
Soi gương bác ái lập Hoà Bình
Chiêu an tả đạo trừ tà khí
Độ tận chúng sanh chiếu cứu tinh
Mở mắt thiên lương dìu chủng tộc
Nghĩa nhân âu đổi lấy nhơn tình
Năm 1941
ĐỨC HỘ PHÁP BỊ BẮT ĐÀY ĐI
MADAGASCAR
Ký giả Nam Đình là một nhà báo chuyên về luật pháp ở Sài Gòn, có bà con kêu Đức Hộ Pháp bằng chú, lên Toà Thánh cho Đức Hộ Pháp hay là Pháp sắp bắt Đức Hộ Pháp. Ông này hứa sẽ đem xe đưa Đức Hộ Pháp qua Xiêm lánh nạn, vì thời đó nhiều nhà cách mạng Việt Nam cũng qua Xiêm lánh nạn. Đức Hộ Pháp trả lời : Đức Chí Tôn giao con cái của Ngài cho ta, ta cứ ở Toà Thánh, tụi nó có muốn bắt thì bắt.
Một tuần lễ sau vào buổi sáng ngày 4-5-1941, Đức Hộ Pháp sửa soạn sẵn, bận áo dài trắng có chiếc nón Đạo, cùng cây gậy với một túi xách quần áo sẵn sàng, chừng một tiếng đồng hồ sau, xe mật thám Catinat của nhà cầm quyền Pháp vào Hộ Pháp Đường đưa giấy mời Đức Hộ Pháp, Đức Hộ Pháp trả lời : “Tôi đã sửa soạn xong” rồi ra đi.
Rồi người Pháp đày Đức Hộ Pháp đi Sơn La, sau lại bắt thêm một số chức sắc. Cùng đày đi Madagascar với Đức Hộ Pháp có năm vị, còn mấy vị khác đày đi Sơn La, Lao Bảo, Bà Rá, Côn Đảo, khám lớn Sài Gòn.
Pháp đóng cửa Toà Thánh và các Thánh Thất địa phương, biến Nội Ô Toà Thánh thành khu quân sự, cấm không cho người Đạo vào.
***
Năm 1945
THANH NIÊN ĐẠO CAO ĐÀI HIỆP TÁC
VỚI NHỰT BỔN ĐẢO CHÁNH PHÁP (1945)
Ngày 9-3-1945, Nội ứng Nghĩa binh Đạo Cao Đài tại hãng tàu Nitinan ở Sài Gòn hiệp tác với Nhựt Bổn đảo chánh thực dân Pháp.
- Tháng 5-1945 hai pháo đài B29 bay ngang qua Toà Thánh định bỏ bom vì đạo Cao Đài hiệp tác với Nhựt Bổn đảo chánh Pháp, nhưng bỏ không trúng Toà Thánh mà mấy chục trái bom rơi xuống Bàu dài cách Toà Thánh trên 10 cây số, gần xóm Phan bây giờ.
- Tháng 8-1945 Nhựt Bổn đầu hàng Đồng minh.
- Tháng 11-1945, người Pháp trở lại Việt Nam lần thứ hai. Sau khi Nhựt Bổn đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, một đội binh Pháp với xe bọc thép từ Sài Gòn lên chiếm tỉnh Tây Ninh trong tay của Việt Minh. Chiếm xong tỉnh Tây Ninh, đoàn xe nhà binh Pháp chiều lại lúc 4 giờ tiến vô Toà Thánh để trả thù vụ đảo chánh. Họ vô tới ngã ba Cơ Thánh vệ gần cửa số 2 Nội ô xả súng bắn dữ dội. Tuy biết trước việc chẳng lành sắp xảy đến, chức sắc và bổn đạo ở trong Nội ô đều núp trốn trước nhưng rồi cũng có một vị Bảo thể bị trúng đạn chết.
- Khi đoàn xe nhà binh Pháp đến cửa Hoà Viện thì thấy treo cờ Tàu “Trung Hoa Dân Quốc ” của Tưởng Giới Thạch thì ngưng bắn liền, vì Trung Hoa Dân Quốc nằm trong Tứ Cường Đồng Minh thắng trận Nga, Tàu, Anh, Mỹ. Khi người Pháp hỏi tại sao treo cờ Tàu thì có ông Giáo Sư Thái Khị Thanh (người Tàu) đứng ra trả lời với người Pháp là Đức Hộ Pháp giao cho ông làm chủ Toà Thánh này.
- Hồi đó ông Sĩ Tải Nguyễn Hượt Hải làm thông ngôn giữa ông Giáo sư Khị và người Pháp. Nhắc lại chuyện cũ, có lần Đức Hộ Pháp gọi ông Giáo Sư Khị vô Hộ Pháp Đường và nói : Hồi trước Anh có giúp cho tôi một lần rồi, bây giờ Anh giúp cho tôi một lần nữa. Đức Hộ Pháp chỉ nói như vậy thôi, chớ không biết giúp về việc gì. Chuyện này chỉ có ông Sĩ Tải Hiển là thơ ký của Đức Hộ Pháp biết được mà thôi.
*
Năm 1946
ĐỨC HỘ PHÁP TỪ MADAGASCAR
TRỞ VỀ VIỆT NAM
Sau 5 năm 2 tháng bị lưu đày, Đức Hộ Pháp trở về nước trong lúc tình hình Việt Nam hỗn loạn, đồng đạo và đồng bào vô tội thiệt hại về sanh mạng lẫn tài sản một cách oan uổng, nên Đức Hộ Pháp buộc lòng phải duy trì Quân Đội Cao Đài làm trái độn giữa Việt Minh và Pháp để gìn giữ an ninh cho đồng đạo và đồng bào.
*
Năm 1947
ĐỨC HỘ PHÁP MỞ KHOA THI LUẬT SỰ
HIỆP THIÊN ĐÀI VỚI NGỤ Ý CHỮ TRUNG
Đề tài như sau
Ông Giáo Sư Quí ở Mỹ Tho có bốn người con, trước khi ông qua đời, ông chia gia tài cho con, cô Hường là con gái út không lập gia đình, đi tu về Toà Thánh làm công quả đắc phong Lễ Sanh. Phần gia tài của cô, cô giao hết cho anh Hà là trưởng nam để lo bảo dưỡng mẹ già. Anh Hà là người con có hiếu với mẹ, làng xóm ai cũng khen, nhưng trong thời gian qua anh bỏ Mẹ một mình. Anh đi đâu mất làng xóm không hay biết. Năm 1945, cô Hường từ Toà Thánh về thăm mẹ mới hay anh Hà không còn phụng dưỡng mẹ già như lời hứa, cô dâng đơn lên Hội Thánh kiện anh Hà về tội bất hiếu. Hội Thánh phái một người xuống điều tra.
Người thi làm tờ phúc sự minh tra dâng về Hội Thánh nói rằng anh Hà xuống hiệp tác hãng tàu NITINAN theo ông Giáo Sư đại biểu Trần Quang Vinh để lo phục quốc. Vì vậy, anh Hà là người trọn trung mà phải mang tiếng thất hiếu với mẹ. Thí sinh nào làm tờ phúc sự minh tra nói như trên đây là trúng tuyển.
Khoa thi này có 70 thí sinh nhưng trúng tuyển Nam, Nữ được 32 vị Luật Sự Hiệp Thiên Đài.
(Đề thi viết trên đây, viết theo đại ý chớ không phải nguyên văn của Đức Hộ Pháp).
*
Năm 1948
ĐỨC HỘ PHÁP ĐỀ XƯỚNG
GIẢI PHÁP BẢO ĐẠI
Trận giặc giữa Việt Minh và Pháp đang đánh nhau, chớ Việt Nam chưa có một Chánh Phủ hợp pháp để thương thuyết với Pháp, Đức Hộ Pháp triệu tập Hội nghị toàn quốc tại Sài Gòn, có đông đủ các nhân sĩ Nam Trung Bắc, các Tôn giáo, đảng phái. Đức Hộ Pháp được đề cử chủ toạ phiên họp.
Đức Hộ Pháp đưa ra giải pháp Bảo Đại, lúc ban đầu mọi người đều tỏ vẻ không tán đồng, xầm xì to nhỏ với nhau. Đức Hộ Pháp giải thích thêm vì sao Ngài đề xướng giải pháp Bảo Đại :
- Nhà Nguyễn đã ký hai Hiệp Ước 1862 và 1864 giao nước Việt Nam cho Pháp bảo hộ, bây giờ Nhà Nguyễn phải lấy lại, rồi giao cho Quốc dân Việt Nam liệu định. Chỉ có cựu Hoàng Bảo Đại mới có đủ tư cách thương thuyết với Pháp.
- Trong phiên họp, ông Nghiêm Xuân Thiện một nhân sĩ miền Bắc đứng lên chấp nhận ý kiến của Đức Hộ Pháp, kế đó là ông Trần Văn Lý một nhân sĩ miền Trung cũng tán thành. Đức Hộ Pháp mới tuyên bố như vậy Nam, Trung, Bắc, đã đồng ý, nhờ toàn hội cho biết ý kiến và toàn hội đồng hoan hỉ giải pháp Bảo Đại của Đức Hộ Pháp.
*
Năm 1949
Năm 1949 Đức Hộ Pháp qua Hồng Kông rước Cựu Hoàng Bảo Đại về nước lập Chính phủ để thương thuyết với Pháp. Đức Hộ Pháp là cố vấn tối cao của Đức Quốc Trưởng Bảo Đại, đồng thời Đức Hộ Pháp giao Quân Đội Cao Đài thành quốc gia hoá dưới quyền sử dụng của Chính Phủ Bảo Đại.
*
Năm 1951
ĐỨC HỘ PHÁP NHẬP TỊNH TRÍ HUỆ CUNG
THỂ PHÁP VÀ BÍ PHÁP CỦA ĐẠO
Đạo có Thể Pháp và Bí Pháp. Đức Hộ Pháp cầm quyền Chí Tôn tại thế tạo trước phần Thể Pháp như tạo tác Toà Thánh cùng các dinh thự Nội Ô, tạo bốn cơ quan nền chánh trị Đạo như Hành Chánh, Phổ tế, Pháp chánh và Phước Thiện, tạo Phạm Môn, Trí Huệ Cung (Thiên Hỉ Động), Trí Giác Cung (Địa Linh Động), Vạn Pháp Cung (Nhơn Hoà Động), tạo Thuyền Bát Nhã, các Sở Công Nghệ, Cô Nhi Viện, Dưỡng Lão Đường, Bệnh Viện, Đạo Đức Học Đường, Ban Thế Đạo …
Năm 1951, vừa tạo xong phần Thể Pháp, Ngài chuyển qua phần Bí Pháp. Ngài nhập tịnh Trí Huệ Cung 3 tháng được tiếp kiến với Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, Đức Lý Giáo Tông và các Đấng Thiêng Liêng để mở cơ cứu khổ và cứu thế vạn linh.
*
Năm 1954
BỨC THƯ KHÔNG NIÊM CỦA ĐỨC HỘ PHÁP GỞI CHO CỤ HỒ CHÍ MINH
Vì biết trước mưu mô của ngoại quốc định chia xẻ nước Việt Nam, nên Đức Hộ Pháp có gởi một bức thư không niêm như sau :
THƯ GỞI CỤ NGUYỄN ÁI QUỐC
Thưa Cụ,
Bần Đạo lấy cử chỉ tự nhiên của mình, chẳng chịu ảnh hưởng một quyền năng, kính gởi bức Tâm Thơ này cho Cụ nhưng cũng vì không biết địa chỉ nơi nào nên phải cậy mặt báo cùng Vô tuyến Truyền thanh đặng đệ đến thấu tai Cụ.
Vì nghĩa đồng tình và đồng chí hướng, và cũng chịu đau khổ cùng giống nòi với Tổ quốc giang san trong 80 năm lệ thuộc, Bần Đạo cũng như Cụ phải chịu gian lao vào tù ra khám, sống chết đã giao định mạng trong tay người.
Giờ phút này, Cụ đã đặng hạnh phúc làm Cách mạng thành công thì Cụ cũng cho Bần Đạo hưởng đặng mảy may hạnh phúc bảo vệ sanh mạng và tài sản của đồng bào tránh cho được nạn tương tàn, tương sát lẫn nhau đặng chút nào hay chút nấy, vì giá trị mua chuộc hoàng đồ Tổ quốc Giang san chúng ta đã trả với một giá rất mắc mỏ là mua chuộc với xương máu của đồng bào. Thật ra Cụ cũng như tôi, mục đích duy nhất của chúng ta là thâu hoạch cho kỳ được độc lập và thống nhất hoàng đồ sau 80 năm bị chia rẽ.
Thưa Cụ, ngày hôm nay chúng ta đã đoạt vọng là, trước mắt Quốc tế làm chứng, nước Pháp đã trả trọn vẹn độc lập cho ta rồi, chỉ còn nạn chia rẽ giống nòi ta đó, chịu ảnh hưởng của hai khối Nga Mỹ mà giúp thêm cho kẻ ngoại nhân toan mưu xẻ hai hoàng đồ của ta đặng cố gây hoạ diệt chủng cũng như nhị Chúa Nguyễn Trịnh buổi nọ.
Khi đồ lưu nơi hải ngoại trở về, Bần Đạo lấy làm cảm kích nếu không nói rằng vui mừng, thấy lập trường tranh đấu của Cụ, cũng như chủ trương thống nhất Hoàng đồ và tranh đấu cho hoàn toàn độc lập. Chẳng lẽ hôm nay đã đoạt đến mục đích, mà Cụ lại để cho kẻ ngoại nhân đồ mưu phá tiêu cả công nghiệp vĩ đại của cuộc tranh đấu toàn quốc và sự hy sinh vô bờ bến của đồng bào.
Cụ tranh đấu, Bần Đạo thương thuyết, hai ngọn cờ giải ách lệ thuộc của giống nòi là Cụ và Đức Quốc Trưởng Bảo Đại, cả hai đã thành công và toàn quốc đồng bào không chối cải ơn nặng của hai người đã giải ách đô hộ cho họ, chỉ còn một nỗi khắt khe lưu lại là tình thế hai đảng Quốc Cộng.
Ước mong Cụ đừng quên ngày hiệp tác ban sơ của Cụ và Đức Quốc Trưởng Bảo Đại mà tái hợp cùng nhau tài hoà tâm đặng định vận mạng tương lai bền vững cho giống nòi và Tổ quốc.
Nếu lời kêu gọi này mà đặng hưởng ứng đôi bên thì rất nên may mắn và hạnh phúc cho dân nước Việt.
Toà Thánh, ngày 29 tháng 3 Giáp Ngọ (1-5-1954)
HỘ PHÁP
***
CUỘC ÂU DU CỦA ĐỨC HỘ PHÁP
Năm 1954, chiến tranh Việt Pháp quyết liệt đến hồi kết thúc, hai bên lâm chiến sắp đem vấn đề ra giải quyết tại bàn Hội nghị Genève. Trước khi đi dự hội, với tư cách quan sát viên, đêm 15-4-Giáp Ngọ (17-5-1954), trong một buổi thuyết Đạo tại Đền Thánh, Đức Hộ Pháp có tuyên bố :
Hôm nay, nhơn dịp Đức Quốc Trưởng Bảo Đại mời và nước Pháp cũng mời, Bần Đạo đến Âu Châu sẽ có nhiều sự trọng yếu để đem ra thi thố, nhứt là ngọn cờ cứu khổ của Đức Chí Tôn đem đến Âu Châu để cho Đức Chí Tôn có đủ năng lực uy quyền cứu vãn tình thế rắc rối loạn ly.
Thật ra, nhơn loại bị một sự khảo đảo nặng nề, bị khủng bố tinh thần vì thời cuộc, ấy là họ đương lo sợ trận giặc Đại chiến thứ ba không thể tránh khỏi, họ tìm phương giải quyết tức nhiên làm thế nào bảo vệ Hoà Bình cho nhơn loại.
Ngài đã bảo cái nền Chơn giáo cốt yếu là một nền Tôn giáo của toàn thể nhơn loại, nhứt là Ngài giao cho chúng ta cái sứ mạng đặc biệt là làm thế nào đặng giải ách lệ thuộc cho nòi giống và bảo thủ Hoàng đồ Tổ phụ của nước Việt Nam. Toàn thể con cái Đức Chí Tôn đã ngó thấy sứ mạng đó rất khó khăn, phải hy sinh thế nào đặng thực hiện nền độc lập thật sự. Cái phận sự thiêng liêng quí trọng ấy Ngài giao cho dân Việt thống nhất Hoàng đồ từ Nam chí Bắc để bảo thủ giang san thống nhất mảy may lại, theo ý tưởng của Bần Đạo như thế.
- Mới đây Bần Đạo có nghe hai Đảng phái Quốc gia và Cộng sản muốn chia Hoàng đồ làm hai, lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới nên Bần Đạo viết một bức thư không niêm gởi cho Nguyễn Ái Quốc, cho biết giống nòi Việt Nam không thể chia đôi và toàn thể Quốc dân không chịu nhị Chúa như Nguyễn Trịnh buổi trước.Từ Hoành sơn trở vô là Chúa Nguyễn, từ Hoành Sơn đổ ra là Chúa Trịnh, hai khối ấy đã làm cho nòi giống phải hy sinh vô cớ.
Chuyến Âu Du của Đức Hộ Pháp khởi hành từ ngày 20-5-1954 đến ngày 20-7-1954 là 2 tháng.
Người Pháp ký trao trả độc lập cho Việt Nam đúng ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch để kỷ niệm ngày sinh nhựt của Đức Hộ Pháp tại Paris.Khi ở Paris Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victo Hugo) có giáng cho một bài thi .
THI
Khởi điểm vinh quang đã vẽ màu,
Giang san nước Việt giá là bao,
Nền nhân Câu Tiển vừa chen bước
Cửa ải Phù Tang đã mở vào
Mong lịch duyệt nay đà lịch duyệt
Muốn thanh cao đã đặng thanh cao
Tiên Rồng đã gặp hồi phong vũ
Thay đổi Càn Khôn thử thế nào.
Đến Genève với tư cách quan sát viên, phái đoàn của Đức Hộ Pháp được ông Phạm Văn Đồng, trưởng Phái đoàn Việt Minh tiếp đón long trọng tại biệt thự riêng. Nơi đây Đức Hộ Pháp nhân danh một người cùng nòi giống cùng một Tổ Quốc Việt Nam, hơn nữa là một người đồng họ Phạm, tha thiết khuyên ông Đồng mấy điểm :
§ Đặt quyền lợi Tổ Quốc trên hết
§ Không chấp nhận sự can thiệp của ngoại bang. Nếu cấm Pháp, Mỹ không xen vào nội bộ Việt Nam thì Trung Cộng và Liên Xô cùng tất cả bất cứ nước ngoại quốc nào cũng không được nhúng tay vào.
§ Hai chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Quốc Gia Việt Nam phải thừa nhận nhau giải quyết vấn đề nội bộ Việt Nam, không để ngoại bang giải quyết.
Có như thế mới đem lại thống nhất và hoà bình được.
Nhưng những lời khuyên nhủ của Đức Hộ Pháp không được hiệu quả, rốt cuộc Việt Nam bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 thành hai miền Nam Bắc do Việt Minh và Pháp ký kết.
- Khi về nước nhà, đêm 1-7- Giáp Ngọ (8-1954) Đức Hộ Pháp tuyên bố tại Đền Thánh : Khi đến Ba Lê, Bần Đạo cùng phái đoàn vào Đền thờ Notre Dame quả quyết cầu nguyện cho Hội nghị Genève thất bại. Vì nếu Hội nghị mà kết liễu sẽ chia đôi đất nước Việt Nam ta, cả thảy chúng tôi hết tâm cầu nguyện mà không hiệu nghiệm là vì tại quả kiếp vẫn vậy, phải trả vay bằng một giá rất đau đớn, khổ não tâm hồn.
- Có Hoà Bình thiệt, mà nước Việt Nam đoạt đặng hoà bình;nhưng than ôi!Quả kiếp của Việt Nam đã dày dặn quá, Bần Đạo cầu xin Đức Chí Tôn hai điều: Xin đặng Hoà Bình nhưng nạn đổ máu của nòi giống không sao tránh khỏi, cái quả kiếp hiển nhiên là chia đôi thiên hạ mà con cái Chí Tôn đã ngó thấy trước mắt, vì cớ vay trả ấy, chúng ta mới có thể tạo dựng nước nhà đặng.
***
- Hiệp định Genève ký kết xong ngày 20-7-1954 nước Việt Nam đương nhiên chia hai miền Nam Bắc, một bên thân Nga, một bên thân Mỹ, tạo thành hai chiến tuyến đối nghịch, gây nên cảnh chiến tranh huynh đệ tương tàn.
*
CUỘC Á DU CỦA ĐỨC HỘ PHÁP
Sau chuyến Âu Du, cũng trong năm Giáp Ngọ (1954), Đức Hộ Pháp khởi hành chuyến Á Du qua Nhựt Bổn rước xác tro Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về nước; trên đường đi, Đức Hộ Pháp có ghé thăm Đài Loan, Đại Hàn. Khi về từ Nhựt Bổn sang Đài Loan được Tổng Thống Tưởng Giới Thạch cấp cho một chiếc máy bay đưa phái đoàn Đức Hộ Pháp về Sài Gòn.
ĐỨC HỘ PHÁP THUYẾT ĐẠO TẠI TOÀ THÁNH
Sau khi nước Việt Nam bị chia đôi, Đức Hộ Pháp có lời tuyên bố như sau :
- Ngày nay Thánh Thể của Đức Chí Tôn không chịu chia đôi như trước nữa, mặc cho ai vì quyền lợi, họ tranh nhau thây kệ họ, dầu cho Quốc gia hay Cộng Sản cũng vậy, “Bần đạo sẽ dìu dẫn cả Thánh Thể Đức Chí Tôn đến địa vị trung lập …”
- Thánh Thể Đức Chí Tôn đến giai đoạn làm một Giáo sư hoà giải đặng đem cái hạnh phúc lại cho nòi giống Việt Nam trước đã rồi đây ta sẽ chịu khó làm khuôn vàng thước ngọc để nơi mặt địa cầu này, đem lại hạnh phúc cho các chủng tộc.
*
Năm 1955
THÔNG ĐIỆP ĐẦU NĂM ẤT MÙI
THÔNG ĐIỆP VÔ TUYẾN TRUYỀN THANH
CỦA ĐỨC HỘ PHÁP
Gần lúc bước sang năm Ất Mùi, nhân danh Đấng Tạo Hoá Cao Đài Bất Diệt, tôi gởi toàn thể nhân loại bức thông điệp này để thiết tha kêu gọi những vị cầm đầu các Chính Phủ lãnh đạo các dân tộc nhận định nhiệm vụ một cách khôn khéo hơn.
- Ở trên thế gian này không có gì là bất di bất dịch cả. Theo luật Trời, mọi vật đều tiến triển. Lẽ dĩ nhiên, xã hội loài người cũng phải theo định luật ấy.
- Bao giờ cũng vậy, nhân loại cố kiếm một con đường để tạo một đời sống trong hoà bình và hạnh phúc mà vẫn không đạt được ý muốn chỉ vì không biết nghe theo mệnh trời. Ngày nay nhân loại đang trải qua một cơn khủng hoảng tinh thần ghê gớm và vẫn còn phải tự hỏi đâu là sinh lộ.
- Hai chủ thuyết hiện đối chọi nhau, một bên mệnh danh là Dân chủ thì tán dương sự Quốc gia tương trợ và tôn trọng giá trị con người cùng bảo tồn cái gì hay và đẹp. Thuyết ấy cao cả biết bao nhưng lại thiếu thành thật mà những điều khoản ghi trong tập Nhân Quyền đã được Liên Hiệp Quốc tán dương gần đây vẫn chưa được thực hiện.
- Thuyết thứ hai mệnh danh là Cộng sản xúi giục giai cấp vô sản chống chọi giai cấp tư bản, chủ trương tiêu huỷ những sự bất công xã hội và hứa hẹn quân phân lại tài sản, nhưng vì có tính cách độc tài và vô thần nên đã trở thành quá khắt khe.
- Nay hai bên đã thực sự tranh chấp và cả hai chủ thuyết đều hứa hẹn tạo nhân loại một đời sống tốt đẹp hơn xưa. Có một điều mà chúng ta có thể nhận xét thật rõ rệt là cả hai đều không đạt tới đích là Hoà Bình và Hạnh Phúc.
- Trái lại, nhân loại vẫn cứ bị qua phân và còn phải đau khổ nhiều vì cuộc xung đột cứ kéo dài không có lối thoát.Chúng ta đều lo lắng tự hỏi rằng thế giới sẽ đi tới đâu nếu không phải là đi đến chỗ diệt vong, vì hai phe cũng đều chuẩn bị những chiến cụ có một sức phá hoại mãnh liệt.
- Sự cộng tồn đã được đem ra thí nghiệm tại đất Trung Hoa, Cao Ly, Việt Nam ở Á Châu và tại nước Đức, các Quốc Gia Ba Nhỉ Căn ở Âu Châu không được như ý muốn và chỉ tạo được một nền hoà bình phù phiếm làm cho tình hình thế giới thêm căng thẳng vì chính các nước kia lại phải chịu đựng gian khổ nhiều nhất.
- Do đó, tất cả trách nhiệm đều trút vào những ông cầm đầu các Chính phủ, lãnh đạo quần chúng, nếu các ông cứ dìu dắt nhân loại đến chỗ diệt vong.
- Vậy thì mỗi người chúng ta nên nghe theo tiếng gọi của Đấng Thiêng Liêng ấp ủ ở bản thân ta và phải nên hiểu rằng chỉ có lòng thương yêu trong bác ái, đoàn kết trong hoà khí và công bằng mới có thể hoà bình và hạnh phúc.
Bây giờ tôi xin ngỏ cùng nhân dân Pháp và đồng bào Việt Nam tôi vốn có những mối quan hệ trực tiếp với nhau.
- Đối với người Pháp, chúng tôi có thể nói và tuyên bố trước thế giới rằng trong tám mươi năm chung sống, hai dân tộc Pháp và Việt Nam đã cùng trải qua nhiều nỗi thống khổ kinh hoàng trong hai cuộc đại chiến 1914-1918 và 1939-1945.
- Hỡi các người Pháp, chắc các ông cũng hiểu hơn ai hết, dân tộc Việt Nam với nền văn minh cố cựu, trí cương quyết và nguyện vọng hiện thời của họ. Các ông không hẳn lạ gì người Việt Nam có một đặc tính đã không biết phụ bạc lại còn biết phân biệt bạn và thù, các ông không thể phủ nhận được đức tin của nhân dân Việt Nam đối với nước Pháp.
- Hỡi các người Pháp, hơn ai hết các ông có đủ đức tư cách để chứng tỏ rằng trong giờ phút này, sau khi đã huỷ bỏ nền thống trị của các ông, nước Việt Nam cũng không chịu công nhận một uy quyền khác thay thế dù trước sau chỉ hoài bảo một nguyện vọng là quyền tự định đoạt lấy số phận của mình.
- Đồng thời các ông có thể tuyên bố với các dân tộc bạn, trước hết với dân tộc Mỹ vốn có thiện chí tỏ tình hữu nghị và giúp đỡ Việt Nam, rằng các dân tộc ấy vẫn được coi như là ân nhân, nhưng phải coi chừng đừng phạm vào sự lầm lỗi để đi từ chánh sách thực dân đến chánh sách can thiệp, bất cứ với hình thức nào, trong công việc riêng của Việt Nam, để tránh khỏi phải chịu hậu quả về cuộc thí nghiệm của họ.
- Đối với nhân dân Việt Nam và riêng đối với các vị lãnh đạo miền Bắc cũng như miền Nam, tôi xin các ông cống hiến cho quí vị nhân loại đang ở trong tình trạng nguy vong, một tấm gương xán lạn đoàn kết và cho mọi người biết rằng đoàn kết là sống. Trong những giờ phút này, trách nhiệm của các ông thật nặng nề nếu các ông cứ cố chấp theo đuổi một cuộc đấu tranh lý tưởng quốc tế, đầy dẫy những dục vọng vị kỷ và phe đảng. Các ông không nên quên rằng hạnh phúc của dân tộc ta là kết tinh của tình đoàn kết trong tình thương yêu, hoà khí và công bằng. Đó là lý tưởng quốc gia mà tổ tiên ta từ ngàn xưa lưu truyền lại chớ không phải là sản phẩm của cuộc đấu tranh chánh trị và bè phái. Phải nên mạnh bạo và thẳng thắn nhận định như thế thì các ông sẽ được toàn dân ủng hộ.
- Các ông không thể quên rằng người Việt Nam phải đau khổ ê chề vì sự chia rẽ nội bộ và những cuộc tuyển cử riêng rẽ do hai Chính phủ đối lập tổ chức không thể nào tránh được những dục vọng bè phái.
- Các ông cầm đầu Chính phủ miền Bắc và miền Nam các ông còn đợi gì mà không nêu ngay gương đoàn kết bằng cách thực hiện một Chính phủ lâm thời, duy nhất, thoát ly khỏi ảnh hưởng ngoại quốc, sự tham dự của các phần tử thuộc mọi khuynh hướng chính trị, tôn giáo, ngõ hầu tiến tới cuộc tổng tuyển cử toàn quốc Việt Nam.
- Toàn dân sẽ ghi công của các ông và do đó, bằng tấm gương quý báu ấy, các ông sẽ được tiếng đã cứu vãn trước hết nước Việt Nam và sau cùng toàn thế giới.
- Trước khi ngừng lời tôi xin thành khẩn cầu nguyện Đức Chí Tôn Cao Đài của chúng ta để cho nhơn loại, sang năm mới sẽ thoát qua giấc triền miên, hướng thẳng vào ánh hào quang chói lọi là Chân lý của Thượng Đế đặng lựa chọn lấy con đường hạnh phúc.
- Cuộc đấu tranh để sinh tồn sẽ đưa đến cuộc binh đao gây nên khổ não, tàn phá và chết chóc.
- Trái lại sự hổ tương để sinh tồn bằng cách thương yêu trong tình huynh đệ, đoàn kết trong hoà khí và công bằng, đó mới là điều kiện tạo nên sự hợp tác, hoà bình, sáng tạo, hạnh phúc và sinh hoạt.
Mỗi người chúng ta đều có thể tự do chọn lấy một con đường.
Toà Thánh, Tây Ninh, ngày 20-1-1955
HỘ PHÁP
*
BỨC THƠ XUÂN GỞI CHO TOÀN THỂ ĐỒNG BÀO
VIỆT NAM ĐẦU NĂM ẤT MÙI
Cùng toàn thể Quốc dân Đồng bào Việt Nam, nhơn dịp ngày Xuân năm Ất Mùi, Bần Đạo thành tâm cầu nguyện Đức Chí Tôn chan rưới hồng ân cho toàn dân nước Việt đặng mau thoát khỏi ly loạn tương tàn.
Sau nữa, Bần Đạo có mấy lời thống thiết ngỏ cùng toàn thể quốc dân :
- Trót mười năm quật cường giải ách lệ thuộc, thâu hoạch độc lập cho tổ quốc giống nòi thì toàn thể đồng bào đã góp vào biết bao nhiêu xương máu và đau khổ. Lập trường tranh đấu thâu hoạch cho kỳ đặng hạnh phúc tự do cơm áo của nòi giống sau 80 năm đô hộ, đã khiến cho lòng ái quốc nồng nàn của mỗi công dân Việt Nam để tâm vào một chí hướng là Độc lập và Thống nhất non sông. Hại thay! Cơ cấu tranh đấu cho kỳ đặng ấy đã chia rẽ dân tộc ra nhiều phương pháp và nhiều chí hướng : Việt Minh là gì ? Quốc gia là gì ?
- Thì cũng là đồng bào Việt Nam tìm phương tranh đấu. Nhưng các danh từ và nhãn hiệu ấy chẳng lẽ có năng lực đặng chia rẽ con cái của một nước, một chủng tộc và xem lẫn nhau là kẻ tử thù ? Đau đớn thay nạn tương tàn tương sát đã xảy ra cũng do nơi định nghĩa bất đồng của các phương pháp và danh từ tranh đấu.
- Từ ngày mùng 9 tháng 3 năm 1945 dương lịch, cuộc giải phóng dân tộc đã khởi đầu. Các biện pháp đem thắng lợi cho nước nhà hôm nay cũng chưa thâu hoạch đặng trọn vẹn, lại còn gây thêm nạn qua phân lãnh thổ : từ vĩ tuyến 17 đổ vô là của khối Quốc gia còn vĩ tuyến 17 đổ ra là của Việt Minh làm chủ. Nạn nhị Chúa phân tranh Nguyễn Trịnh ngày xưa đã biểu diễn lại.
- Bần Đạo thử hỏi cuộc tranh đấu giải ách lệ thuộc đặng đem hạnh phúc đó lại cho ai ?
- Phải chăng cho tổ quốc và cho toàn thể đồng bào thì lý ra chẳng lẽ có một nguyên cớ nào làm cho nòi giống Việt này chia phân cho đặng. Chủng tộc duy có một Hoàng đồ chỉ có một. Rồi ta lại thử hỏi:ai đã gây nên nỗi loạn ly tán, giống nòi ? Phải chăng vì năng lực ngoại bang đã gây ra nạn phân chia tộc chủng.
- Hai chí hướng đương nhiên của quốc tế là lý thuyết dân chủ xã hội và cộng sản xã hội. Hai lý thuyết ấy đều hứa hẹn rằng nhân loại phải duy tân và cải tổ xã hội vì tổ chức xã hội đương nhiên đã gây thất vọng cho nhân loại quá nhiều, nên đem lại cho họ quá nhiều đau thảm hơn là hạnh phúc. Đôi bên đều hứa hẹn tìm một phương pháp sửa chữa đặng tìm cái hay trừ cái dở. Lời hứa hẹn ấy đã thấm nhuần trong trí não đau khổ của nhân loại nhất là hạng bần dân và các quốc gia lạc hậu mong ước chóng được thực hiện điều đó.
- Hai triết lý xã hội mới mẻ kia đương tranh đấu đặng thâu hoạch tín nhiệm của toàn thể nhân loại trên mặt địa cầu này. Cuộc tranh đua của họ đã hiển nhiên kịch liệt và hỗn độn nhưng họ cũng đã đủ năng lực phân chia nhân loại làm đôi chí hướng.
- Hại nỗi, hạnh phúc đâu chẳng thấy, chỉ gây cho nhân loại một tấm thảm kịch tương sát, tương tàn. Ta nên để đức tin cho thời gian và không gian định nên hư của họ, nhưng hiển nhiên hôm nay ta chịu biết bao nhiêu đau khổ. Ta muốn cho vay đặng hưởng lợi, mà lợi đâu chẳng thấy, vì hứa hẹn ấy chỉ với lỗ miệng, không bảo kê, không chứng chắc mà giờ phút này ta bị lỗ vốn một cách đau đớn và oan uổng.
- Cuộc chạy theo bóng bỏ hình của nòi giống Việt Nam từ xưa đã vậy, nó đã làm nên bịnh của chủng tộc, đồng bào sẽ hỏi Bần Đạo dùng phương pháp nào để trừ hại thì Bần Đạo chỉ trả lời một cách đơn giản như thế này :
§ Ngày nào cả chủng tộc Việt Nam đặng định tỉnh trong quốc hồn của họ thì họ mới có thể cố thủ và bảo vệ sanh tồn của họ.
§ Ngày nào lòng ái quốc nồng nàn của nước Việt Nam thoát khỏi lợi dụng đặng biến thành một ngọn lửa thiêng dâng trọn lên bàn thờ tổ quốc của họ thì họ mới bảo thủ được trọn vẹn Hoàng đồ cùng tộc chủng.
§ Ngày nào đầu óc của cả khối quốc dân biết trọng dĩ vãng lịch sử của mình rồi định phận cho mình xứng đáng là một nước đủ hùng cường, đủ uy tín hầu đối diện cùng quốc tế rồi chủ định số phận của mình do năng lực của mình, không ỷ lại nơi một ngoại bang nào thì ngày ấy mới giải ách nô lệ thuộc về tinh thần lẫn vật chất của mình đặng.
- Tình thế đương nhiên là Bắc Việt đã bị lệ thuộc vào Trung Cộng, còn Nam thì sống gởi nơi tay người thì kiếp số tương lai của ta chưa biết nương nơi đâu mà an đặng. Nếu tình thế này mà kéo dài tới mãi thì hoà bình của họ đã hứa hẹn cùng ta chỉ là mộng ảo.
Bần Đạo ước mong và cầu xin cho cả toàn thể đồng bào sáng suốt hơn đặng tự định số mạng và tương lai của mình.
Bần Đạo để lời chào mừng toàn thể đồng bào và cầu chúc cho các gia đình đều hạnh phúc.
Toà Thánh Tây Ninh, 27 tháng Chạp Giáp Ngọ (20-1-1955)
HỘ PHÁP
***
***
HỘI NGHỊ TÔN GIÁO THẾ GIỚI TẠI ĐÔNG KINH
Trong năm 1955, một Hội nghị các Tôn Giáo Thế Giới nhóm họp tại Đông Kinh (Nhựt Bản).
Ngài Bảo Thế Hiệp Thiên Đài Lê Thiện Phước đọc một bài diễn văn nói về hoà bình được toàn hội hoan nghinh chủ nghĩa cao quí Đạo Cao Đài của Đức Chúa Trời.
***88888
ĐỨC HỘ PHÁP THÀNH LẬP MẶT TRẬN THỐNG NHẤT TOÀN LỰC QUỐC GIA
Đức Hộ Pháp thành lập “Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia” gồm các Tôn Giáo Đảng phái để làm hậu thuẩn mạnh mẽ cho miền Nam thương thuyết với miền Bắc, nhưng ông Ngô Đình Diệm lại cố ý phá “Mặt Trận”.
***
LỄ KHÁNH THÀNH TOÀ THÁNH TÂY NINH
(Mùng 9 tháng Giêng năm Ất Mùi )
Năm 1955, Đức Hộ Pháp ra lịnh tổ chức cuộc lễ khánh thành Toà Thánh long trọng có mời các Tôn Giáo bạn, các Đảng phái, các Ngoại Giao Đoàn của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Trong cuộc Lễ Đức Hộ Pháp cho mời một gánh hát bội ở Sài Gòn lên hát ba đêm sân khấu tại Đại Đồng Xã, mỗi đêm một tuồng hát do Đức Hộ Pháp chọn lựa tuồng.
- Đêm thứ nhất : Tuồng Tiêu Anh Phụng loạn trào.
- Đêm thứ hai : Tuồng Ngũ Vân Thiệu bị vây.
- Đêm thứ ba : Tuồng San Hậu, bà Nguyệt Kiểu đi tu.
Ý nghĩa mấy tuồng hát là Đức Hộ Pháp cho biết trước việc sắp xảy đến trong cửa Đạo, như vụ Nguyễn Thành Phương làm loạn, rồi đến ngày lễ Hội Yến Diêu Trì Cung rằm tháng 8 năm Ất Mùi. Qua đêm 16, tại Văn Minh Điện, Đức Hộ Pháp ra bốn câu thai đố :
- Câu 1 : Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi.
Xuất nhứt vật dụng : cái Thang
- Câu 2 : Bậu nghe ai dỗ ai dành
Chanh chua bậu chuộng cam sành bậu chê
Xuất nhứt vật dụng : cái Trách.
- Câu 3 : Ví dầu tình bậu muốn thôi,
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.
Xuất nhứt vật dụng : cái Ly
- Câu 4 : Một mai thiếp có xa chàng,
Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin
Xuất nhứt vật dụng : cái Khai
Đức Hộ Pháp ra câu thai đố trước bốn ngày Nguyễn Thành Phương đem quân về bao vây Toà Thánh ngày 20-8- Ất Mùi.
*
TRUNG TƯỚNG NGUYỄN THÀNH PHƯƠNG ĐEM QUÂN VỀ KHỦNG BỐ TOÀ THÁNH
BAO VÂY HỘ PHÁP ĐƯỜNG
- Ngày 20-8-Ất Mùi (1955), Trung tướng Nguyễn Thành Phương đem binh về khủng bố Toà Thánh, bao vây Hộ Pháp Đường và bắt ông Đại tá Nguyễn Văn Kiết chỉ huy cơ Thánh vệ vì Phương tuân theo mạng lịnh của Ngô Đình Diệm.
- Ngày 25-8, một cuộc họp tại Hộ Pháp Đường diễn ra, ngồi bàn họp có Đức Hộ Pháp, bên Hiệp Thiên Đài có ông Cao Tiếp Đạo, ông Thừa Sử Phan Hữu Phước, bên Cửu Trùng Đài có ông Phối Sư Thượng Tước Thanh, ông Giáo Sư Thái Đến Thanh, bên Phước Thiện có ông Đạo Nhơn Út, bên Quân Đội có Thiếu tướng Lê Văn Tất thay mặt cho Trung tướng Nguyễn Thành Phương, đứng nghe phía sau có vài Sĩ Tải và cô Tư Tranh.
- Trong phiên họp, Thiếu Tướng Lê Văn Tất với tư cách thay mặt cho Trung tướng Phương lên tiếng chỉ trích Đức Hộ Pháp đủ điều. Đức Hộ Pháp có trả lời với ông Tất. Sau đó ông Thừa Sử Phước xin phép có ý kiến. Ông Phước nói mấy anh theo Quốc gia thì làm theo Quốc gia, còn Đức Hộ Pháp lãnh đạo Tôn giáo làm theo lập trường của Tôn Giáo chớ làm như các anh sao được. Các anh nên nhớ nhờ Đạo mà các anh được nên danh với thiên hạ rồi các anh trở lại khủng bố Đạo.
- Qua ngày sau ông Phương cho quân đội đến tận nhà bắt ông Thừa Sử Phước.Phan Quang Hạo 20 tuổi là con ông Phước nóng lòng cứu Cha cho nổ một trái khói cũng bị bắt luôn.Ông Phương còn ra lịnh bắt bốn, năm cô gái làm công quả ở Toà Thánh đánh đập buộc phải khai là có tư tình với Đức Hộ Pháp.Ông Phương cho xe thông tin của quân đội chạy khắp cùng Thánh Địa công bố việc xấu này cho toàn Đạo biết.
*
XIN NHẮC LẠI MỘT ĐOẠN LỜI THUYẾT ĐẠO
CỦA ĐỨC HỘ PHÁP TẠI ĐỀN THÁNH ĐÊM 15-12-MẬU TÝ (1948).
Kỳ thuyết pháp trước, Bần Đạo đã để một dấu hỏi Đạo Cao Đài có thể đem lại hạnh phúc cho nhơn loại tạo hoà bình làm cho Đại Đồng thiên hạ đặng chăng ?
Đã để dấu hỏi tức nhiên phải trả lời, chúng ta chẳng nên chỉ biết tin nơi Đức Chí Tôn mà thôi, mà phải biết Ngài đến tạo nền Tôn Giáo cốt yếu là đến ký hoà ước với nhơn sanh, tạo hạnh phúc cho nhơn sanh và làm cho thiên hạ đặng hưởng thái bình nơi địa cầu 68 này, tức nhiên chúng ta đã quả quyết và để đức tin chắc chắn rằng: thế nào cũng thành tựu, nhứt là có lời quyết đoán của Anh cả Thiêng liêng của chúng ta là Đức Lý Giáo Tông đã nói :
Đức tin một khối tạo nên hình,
Đã hiệp Vạn linh với Chí Linh
Nghĩa là Đạo Cao Đài đã thành nhưng từ từ đi lên cho đến cái địa cảnh vô đối của nó.
Ta biết Chí Tôn đến ký Hoà ước dưới thế gian này, chúng ta ngó thấy Hoà ước của nhơn sanh nhứt là các liệt cường ký với nhau khoản này khoản nọ khoản kia đủ thứ không biết mấy khoản.Với Đức Chí Tôn chỉ có hai khoản mà thôi.
§ Luật Thương yêu : Ngài định cho chúng ta là thương yêu, không phải thương yêu nhơn loại mà thôi, mà phải thương yêu toàn vạn linh nữa.
§ Quyền Công chánh : Ngài chỉ định là quyền công chánh.
Từ thử, chúng ta chưa ngó thấy Hoà ước nào đơn sơ như thế mà nó oai quyền làm sao không thể gì thực hiện đặng ! dầu cho tận thế loài người cũng không khi nào thực hiện ra đặng !
Chúng ta đã hiểu và tin rằng thế nào nó cũng thành, chúng ta chỉ lấy lương tri, tức là lấy trí tri để hiểu chơn tướng của Đạo Cao Đài, làm thế nào đem hạnh phúc cho nhơn loại hưởng được và tạo hoà bình cho thiên hạ cả Đại đồng Thế giới.
*8888888888888
Cuối năm Ất Mùi (1955)
Sau khi đưa Chư Thánh đêm 24 tháng Chạp, Đức Hộ Pháp mời một số anh em Hiệp Thiên Đài, Phước Thiện, Quí vị sĩ quan vào Hộ Pháp Đường họp mặt.
Đức Ngài cho biết ngày gần đây sẽ đưa ra một giải pháp mới để cứu vãn tình thế của nước nhà.Đức Hộ Pháp cầm giữ Thiên Thơ, việc làm nào của Đức Ngài cũng theo đúng Thiên Thơ tiền định, mà hễ theo đúng Thiên Thơ thì phần nhiều đi ngược với tình thế rất khó khăn, nguy hiểm.
Trong cửa Đạo, những người không nghe lời Đức Hộ Pháp chạy theo thế tình đều bị thất bại. Kinh nghiệm một thời gian dài của Đạo, cũng như của đất nước, việc làm nào đúng theo Thiên Thơ tuy bị thử thách nhưng vẫn tồn tại và phát triển, còn việc làm nào theo phàm tâm tục ý nghịch với Thiên Thơ tuy dễ làm nhưng phải bị huỷ hoại theo thời gian cho nên mới có câu :
“Thuận Thiên giả tồn
Nghịch Thiên giả vong ”
Thầy đến khai Đạo trong một nước bị trị. Đạo Thầy phải trải qua nhiều trào chính phủ từ Pháp đến Việt Nam. Chính phủ nào cũng áp chế Đạo nhiều hoặc ít, nặng hay nhẹ, chỉ có Chính phủ Bữu Lộc nhìn nhận 40 cây số vuông vùng Thánh Địa Toà Thánh Tây Ninh với Thánh Thị vô phòng thủ.
Đạo Thầy yếu mà mạnh, người xô qua kẻ đẩy lại nhưng không sao. Họ có đủ quyền lực để diệt Đạo nhưng cuối cùng họ bị sụp đổ, còn Đạo Thầy vẫn còn Đạo Thầy. Thầy còn thì Đạo còn.
Việc gì sắp xảy ra Đức Hộ Pháp cũng nói trước. Đầu năm 1955, khi đến thăm Bộ Tư Lệnh Quân Đội Cao Đài ở Giang Tân, trước đông đủ các sĩ quan Đức Hộ Pháp có nói : “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược không khéo Thầy trò mình đụng nhau xước lỗ mũi ”.
*
ĐỨC HỘ PHÁP ĐÃI TIỆC BAN ĐẠO TỲ
Đức Hộ Pháp ra lệnh cho Nữ phái tổ chức một bữa tiệc trịnh trọng đãi khách quý, nhưng không ai biết là khách quý nào. Đến giờ đãi tiệc, Đức Hộ Pháp ra lệnh cho ông Sáu Hồ dẫn Ban Đạo Tỳ đến dự tiệc. Đức Hộ Pháp có để lời phủ dụ quý báu về công nghiệp cho Ban Đạo Tỳ.
Việc làm đơn giản nhưng ý nghĩa vô cùng quan trọng vì có ảnh hưởng sâu đậm vào lòng con cái của Đức Chí Tôn đến thất ức niên. Đối với công lao cao quý của Ban Đạo Tỳ là nhân viên của Đức Di Lạc giúp một phần độ rỗi chúng sanh trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
*
ĐỨC HỘ PHÁP LẬP BÁO QUỐC TỪ
Năm 1955, Đức Hộ Pháp làm lễ khánh thành Báo Quốc Từ để tỏ lòng tri ân các bậc tiền bối đã dày công xây dựng và mở mang bờ cõi nước Việt Nam thành một dãy giang san gấm vóc với tinh thần cổ truyền của Tổ Tiên trên bốn ngàn năm lưu lại là đạo đức, nhân nghĩa, bác ái, công bình, vị tha yêu nhơn ái vật.
Việc làm của Đức Hộ Pháp có ý nghĩa đặc biệt tồn tại mãi trong ký ức của mỗi người, đem tinh hoa của dân tộc Việt Nam làm căn bản để truyền bá mối Đạo ra vạn quốc theo như lời Thánh Giáo của Đức Chí Tôn : “Nam Phong thử nhựt biến nhơn phong ”.
CHÁNH SÁCH
HOÀ BÌNH CHUNG SỐNG
DO DÂN- PHỤC VỤ DÂN- LẬP QUYỀN DÂN
SỬ LƯỢC
Năm 1956
GIAI ĐOẠN I (1956 -1959)
ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC GIÁO CHỦ ĐẠO CAO ĐÀI ĐỀ XƯỚNG VÀ LÃNH ĐẠO.
Sáng sớm mùng 5 Tết năm Bính Thân (1956), Đức Hộ Pháp cùng đoàn tuỳ tùng bí mật sang NamVang, hơn một tháng sau Đức Ngài chánh thức đưa ra Quốc Tế Chánh Sách Hoà Bình Chung Sống với tiêu đề:
DO DÂN- PHỤC VỤ DÂN- LẬP QUYỀN DÂN
theo các văn bản như sau :
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Hộ Pháp Đường Tam Thập Nhứt Niên
Văn Phòng TOÀ THÁNH TÂY NINH
--0--
Số 20 HP-HN
Hộ Pháp Phạm Công Tắc
Giáo Chủ Đạo Cao Đài
Kính gởi Quí Ngài : Chủ Tịch Liên Hiệp Quốc,
Các Ngài Thủ Tướng Chính Phủ các cường quốc.
Kính Quí Ngài,
Sau 82 năm bị đô hộ dưới quyền Pháp thuộc, ngày 9 tháng 3 năm 1945, toàn cả Quốc Dân Việt Nam quật cường giải ách nô lệ. Việc trọng đại ấy đã có tiếng dội khắp cả thế giới và các Liệt cường Quốc Tế đều hiểu rõ.
Đã 11 năm tranh đấu không ngừng để định chủ quyền độc lập cho Tổ Quốc Việt Nam, toàn dân đã phải chịu bao nhiêu thống khổ tang tóc về tài sản cũng như sanh mạng, lại thêm bị hai ngoại quyền Cộng Sản và Tư Bản xen vào nội bộ chia Quốc dân Việt Nam làm hai xu hướng
Kể từ ngày quân đội Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ lại thêm tai hoạ lớn lao hơn nữa chồng lên đầu dân Việt Nam. Thật vật, 9 nước ở Hội nghị Genève với hảo ý đem hoà bình lại cho xứ Việt Nam và chấm dứt chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh đã vô tình mà không nhận định sự tai hại cho dân Việt là thế nào nên đã ký một hiệp định chia đôi lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 rồi lại định cho Việt Nam phải tự tìm phương thống nhất, chúng ta nên nhớ rằng khi ký hiệp định Geneve thì vĩ tuyến 17 chỉ có ý nghĩa là chia đội của hai bên ra để tránh sự đụng chạm.
Nhưng về sau thì vĩ tuyến 17 đã biến thành một cách thực tế ranh giới chia hẳn hai miền Nam, Bắc, miền Bắc thì do cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo với chánh phủ thân Nga và miền Nam thì cụ Ngô Đình Diệm với một chánh phủ thãn Mỹ.
Là nạn nhân của thời cuộc và của sự tranh chấp Chủ nghĩa quốc tế, dân tộc vô phước này, thay vì đặng giúp đỡ và an ủi lại phải chịu thêm một vết thương đau thảm do 9 nước đã vô tình xâm phạm vào quyền dân tộc tự quyết của họ.
Tình trạng ấy đã hiển nhiên và không một ai có thể nào chối cãi, việc cốt yếu hiện nay là phải tầm một diệu dược để cứu chữa bệnh trạng ấy.
Bần Đạo rất hài lòng nhận nơi đây hảo ý và sự cố gắng dẻo dai của các cường quốc Trung lập để tìm một giải pháp hoà bình mong giải quyết vấn đề Việt Nam.
Là Giáo chủ của một Đạo giáo tượng trưng tinh thần của một dân tộc đủ phong tục, đủ văn hiến do một nền văn minh tối cổ Khổng Giáo, Bần Đạo không thể ngồi yên đặng nhìn sự thống khổ của họ, vì lẽ bất công của xã hội nhân quần. Vì cớ nên Bần Đạo định góp sức mọn mình với sự cố gắng của các liệt cường để tìm phương cứu vãn tình thế, giải nạn cho chủng tộc Việt Nam đặng bảo vệ Hoà bình và hạnh phúc cho họ. Hôm nay Bần Đạo phải xuất ngoại cốt yếu để bảo thủ tự do cá nhân, hầu có đủ phương tiện kêu gọi lòng nhân đạo của các liệt cường, giúp sức cho Bần Đạo đủ phương hoà giải hầu tránh nạn cốt nhục tương tàn của sắc dân Việt sắp gây nội chiến vì đôi ảnh hưởng.
Nhơn đó Bần Đạo xin gởi theo đây một chương trình tối thiểu và đại ý là một đường lối chung sống, lập thành cho nước Việt Nam một chánh phủ liên bang hầu có thể thực hành thống nhất theo như Hiệp Định
Chương trình này Bần Đạo đã định rõ trong bức điện văn gởi cho Tứ Cường trong buổi hội nghị Genève kỳ nhì vào ngày 21 tháng 7 năm 1955 và đã nhờ Thủ Tướng Pháp Edgar Faure chuyển đệ.
Bần Đạo chỉ xin Liên Hiệp Quốc và các Liệt Cường thật tâm ủng hộ và cương quyết bảo đảm cho Bần Đạo đặng tự do tuyên truyền giải pháp này khỏi sự khủng bố của hai chính phủ đương quyền Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm trong khi Bần Đạo thực hành sứ mạng Hoà Bình này.
Bần Đạo quả quyết rằng : Đồng bào Việt Nam luôn luôn yêu chuộng Hoà Bình sẽ hưởng ứng nhiệt liệt phong trào này, nếu họ làm tròn tự do phát biểu ý chí của họ.
Bần Đạo xin thành thật tỏ lòng tri ân Quý vị
PHNOM PENH, Ngày 26 tháng 3 năm 1956
HỘ PHÁP
(Ký tên và đóng dấu)
Có đính kèm Bản Cương Lĩnh Chánh Sách Hoà Bình Chung Sống như sau :
Do Dân- Phục Vụ Dân- Lập Quyền Dân
CƯƠNG LĨNH
I. THỐNG NHẤT LÃNH THỔ VÀ KHỐI DÂN TỘC VỚI PHƯƠNG PHÁP ÔN HOÀ.
II. TRÁNH MỌI XÂM PHẠM NỘI QUYỀN VIỆT NAM
III. XÂY DỰNG HOÀ BÌNH HẠNH PHÚC VÀ TỰ DO DÂN CHỦ CHO TOÀN DÂN
***
I. THỐNG NHẤT LÃNH THỔ VÀ KHỐI DÂN TỘC VỚI PHƯƠNG PHÁP HOÀ BÌNH
1. Để hai chánh phủ Địa phương tạm giữ nguyên vẹn nền tự trị nội bộ mỗi miền theo ranh giới vĩ tuyến 17.
2. Thành lập một “Ủy Ban Hòa Giải Dân Tộc ” gồm có các nhân sĩ trung lập và một số đại diện bằng nhau của chánh phủ hai Miền để tìm những điểm dung hợp giữa hai Miền.
3. Tổ chức nước Việt Nam thống nhất thành chế độ Liên bang Trung lập gồm có hai miền liên kết (Nam và Bắc) theo hình thức của Thuỵ Sĩ với một Chánh phủ Liên bang Lâm thời để điều hoà nền kinh tế trong nước và để thay mặt cho nước Việt Nam thống nhứt đối với Quốc tế và Liên Hiệp Quốc.
4. Bãi bỏ bức rào vĩ tuyến 17, dân chúng được bảo đảm sự lưu thông tự do trên toàn lãnh thổ Việt Nam để so sánh và chọn lựa chế độ sở thích mà định cư.
Vĩ tuyết 17 chỉ là một ranh giới hành chánh của hai Miền hiện hữu mà thôi, còn dân tộc Việt Nam vẫn là một khối duy nhất Trung lập và tự do.
1. Đánh thức tinh thần dân tộc đến mức hướng thành đủ sức đảm nhiệm công việc nước, theo nhịp tiến triển của thế giới, trong khuôn khổ Tự do và Dân chủ.
2. Khi Dân tộc đã trưởng thành và khối tinh thần đã thống nhứt thì toàn dân Việt Nam sẽ tự giải quyết thể chế thiệt thọ theo nguyên tắc Dân tộc tự quyết bằng cách mở cuộc tổng tuyển cử thể theo Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 để thành lập Quốc Hội duy nhất cho nước Việt Nam.
Cuộc Tổng tuyển cử này sẽ tổ chức dưới sự kiểm soát và trách nhiệm trọn vẹn của Liên Hiệp Quốc để ngăn ngừa mọi điều áp bức dân chúng. Quốc hội này sẽ định thể chế thiệt thọ và thành lập một Chánh phủ Trung ương nắm chủ quyền trong nước Việt Nam.
II. TRÁNH MỌI XÂM PHẠM NỘI QUYỀN VIỆT NAM
Hữu dụng nền độc lập của mỗi Miền đã thu hồi do hai khối nhìn nhận (Chánh phủ Hồ Chí Minh ở miền Bắc và Chánh phủ Ngô Đình Diệm ở miền Nam tức là Chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà).
Hướng vào các nước Trung lập như Ấn Độ, Anh, Miến Điện, A-Phú-Hản v.v. để mở một đường lối thứ ba gọi là “ĐƯỜNG LỐI DÂN TỘC ” căn cứ trên khối Dân tộc để làm trung gian dung hoà hai chế độ.
Tránh mọi hướng dẫn, ảnh hưởng hoặc can thiệp của một khối nào trong hai khối độc lập NGA-MỸ. Vì đó là một cuộc tương tàn có thể gây nên trận Thế giới chiến tranh thứ ba.
Gia nhập vào một trong hai khối NGA hoặc MỸ tức là chịu làm chư hầu cho khối ấy và tự nhận là thù địch của khối kia. Như thế Chánh Sách Hoà Bình Chung Sống chưa thể thực hiện được. Bằng chứng là tình trạng của Đức, Áo, Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam hiện tại.
III. XÂY DỰNG HOÀ BÌNH HẠNH PHÚC VÀ TỰ DO DÂN CHỦ CHO TOÀN DÂN
1. Kích thích và thúc đẩy cuộc “THI ĐUA NHƠN NGHĨA giữa hai miền Bắc và Nam để thiệt hiện hạnh phúc cho toàn dân trong cảnh Hoà Bình, xây dựng trên nguyên tắc Bác ái, Công bình và Nhân đạo.
2. Áp dụng và thật hành Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc để thực hiện tự do dân chủ trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
3. Thâu nhập tất cả mọi ý kiến phát huy có tinh thần hiền triết cổ truyền của chủng tộc đưa lên và giao lại cho Liên Hiệp Quốc hoà giải để thi hành cho dân chúng nhờ.
4. Dùng tất cả các biện pháp để thống nhất tinh thần Dân tộc trong việc xây dựng hạnh phúc với điều hay lẽ đẹp trên căn bản hy sinh và phụng sự.
5. Hai miền phải thành thật bãi bỏ mọi tuyên truyền nguỵ biện và xuyên tạc lẫn nhau. Phải để cho nhân dân đứng trước sự thực tế mà nhận xét hành động của đôi bên rồi lần lần sẽ đi đến chỗ thống nhứt ý chí.
6. Sự thực hiện Chánh sách Hoà bình Chung sống trên đây sẽ đặng thi hành dưới sự ủng hộ và kiểm soát thường trực của Liên Hiệp Quốc và các phần tử trung lập trong và ngoài nước, hầu ngăn ngừa mọi điều áp bức nhân dân do nội quyền độc tài của địa phương hay do áp lực của ngoại quyền xúi giục.
PHNOM PENH, ngày 26 tháng 3 năm 1956
HỘ PHÁP
Phạm Công Tắc
***
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Hộ Pháp Đường Tam thập nhứt niên
Văn phòng Tòa Thánh Tây Ninh
----0----
Số 21/HPHN HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng
Kính gởi:
- Cụ Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Chánh Phủ
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
- Cụ Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Chánh Phủ
Việt Nam Cộng Hoà.
Kính hai Cụ,
Cũng như Bần Đạo, có lẽ hai cụ hiểu rõ hơn Bần Đạo nữa về tình thế nguy ngập cho Tổ Quốc và giống nòi Việt Nam ta đã trót chịu hơn 11 năm tang tóc vì nạn cốt nhục tương tàn nồi da xáo thịt.
Cái tai vạ ấy do đâu ? Phải chăng vì đồng bào ta vô ý thức mà trở thành nạn nhơn của hai ảnh hưởng ngoại quyền gây loạn. Tình thế ấy phải chấm dứt mới thực hiện đặng phương pháp giải ách lệ thuộc ngoại bang và thâu hồi độc lập thực sự.
Bần Đạo có dịp viết thư tỏ nỗi niềm nguy hại, nếu hai chánh phủ chẳng tìm phương thoát khỏi ngoại quyền xúi giục, thì nội chiến Nam Bắc phân tranh sẽ không tránh khỏi.
Thoảng như tai vạ ấy vẫn tiếp tục, gây nạn cốt nhục tương tàn thì năng lực tranh đấu cách mạng giải phóng dân tộc sẽ tiêu hao mà trở thành bánh vẽ. Vì khi phong trào cách mạng đã kiệt lực thì ách lệ thuộc sẽ tròng vào đầu cổ của dân tộc còn nguy hại hơn thời Pháp thuộc nữa mà chớ.
Hội nghị Genève buổi nọ đã sanh sản ra Hiệp định ngày 20 tháng 7 năm 1954 là một món độc dược để đầu độc cho Quốc dân ta đi đến một cảnh chết vô phương cứu chữa là giam hãm ta vào giữa cuộc tranh đấu của hai ảnh hưởng quốc tế.
Ta muốn thoát ly tức ta tìm một giải pháp bảo thủ nội quyền đặng định vận mạng tương lai do nơi tay ta đào tạo, chớ chẳng chịu ngoại quyền nào làm chủ nội bộ của ta.
Muốn đặng như thế Bần Đạo xin gởi theo đây một Chương trình thống nhứt Tổ quốc Giang san cho hai cụ để trọn tâm nghiên cứu và tìm thêm phương pháp hay khéo bổ cứu vào mọi mặt khuyết điểm, hầu có thể thi hành đặng y theo ước vọng thống nhứt và hoà bình của dân tộc.
Bần Đạo đã lưu vong nơi nước ngoài chỉ có một mục đích là bảo thủ trọn vẹn tinh thần trung lập của Bần Đạo, đặng khêu gợi tinh thần ái quốc chân chính và nồng nàn của hai Cụ, mong ước hai Cụ bỏ tư hiềm và thành kiến đặng đủ phương cứu quốc.
Bần Đạo trân trọng gởi lời yêu mến kính phục của Bần Đạo và luôn dịp gởi cả vận mạng số kiếp của tổ quốc và nòi giống cho hai Cụ định liệu.
PHNOM PENH, ngày 28 tháng 3 năm 1956
HỘ PHÁP
Phạm Công Tắc
(Ký tên và đóng ấn )
***
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Hộ Pháp Đường Tam thập nhứt niên
Văn phòng Toà Thánh Tây Ninh
----0----
Số : 138/HP-HN
TÂM THƯ
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên & Cửu Trùng Đài
Kính gởi Chư Đại Đức toàn thể các Tôn Giáo,
Kính bạch Chư Đại Đức,
Tiêm nhiễm các Đạo Giáo, Tổ Phụ ta từ trước bao phen đã chịu thống khổ vì kính trọng tôn sùng tự do tín ngưỡng. Nếu không nói rằng chủng tộc của ta đã bị làm nạn nhơn của tư tưởng Đạo Giáo hơn là củng cố vận mạng Tổ quốc giống nòi nghĩa là ta đã chịu không biết bao phen ngoại bang đã dùng tín ngưỡng ấy lệ thuộc Tổ quốc và giống nòi. Vì cớ mà Đạo Cao Đài từ buổi xuất hiện thọ hưởng di truyền của Tổ phụ để lại trong nền văn minh tối cổ của ta là Đạo Khổng Mạnh, nên các đối phương coi Đạo Cao Đài như kẻ thù địch, bởi cho rằng nó là phương pháp phục cựu. Hại nỗi, khi nó mới sản xuất nên hình thì thời cuộc lại biến thiên, làm cho nó phải tùng thế tuỳ thời bảo trọng tinh thần Quốc hữu đặng gìn giữ đại nghiệp của Tổ phụ ta đã để lại về phần vật chất lẫn tinh thần.
Thời cuộc hôm nay lại đến một giai đoạn rất nên khắt khe và nguy hiểm cho tương lai, số phận của Việt Nam là nước phân đôi, chia hai chủng tộc dưới ảnh hưởng của hai khối đặng gây cuộc Nam Bắc phân tranh, cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thịt. Họ đã muốn lợi dụng xương máu của nòi giống ta đặng định quyền bá chủ của họ. Hiển nhiên giờ phút này, đồng bào ta đã bị lệ thuộc của hai khối chớ không tự do độc lập chi cả. Đây rồi nội chiến sẽ vì ngoại bang mà bùng nổ mà ta không thể đề phòng.
Chúng ta là người tu hành, chư vị Đại Đức cũng thế, mà Bần đạo đây cũng thế, không lẽ khoanh tay ngồi đợi và thấy cái thảm trạng ấy. Bởi chiếu theo Thiên ý, chúng ta phải tìm một phương pháp hay chấm dứt cuộc tương tàn, tương sát. Đương nhiên, thật ra ta là nạn nhân của hai tư tưởng của hai quyền lực, đồng bào ta toàn quốc bị tiêm nhiễm mà xu thời theo hai chính sách, dân tâm bất nhứt.
Bản Cương Lĩnh của giải pháp Hoà Bình Chung Sống của Bần Đạo cốt để giác ngộ Quốc dân đặng họ biết thực dụng quyền hành của họ. Bởi cớ mới có ba mục tiêu chánh yếu là :
“Vì Dân- Phục vụ Dân- Lập quyền Dân ”
Chỉ do nơi Dân mới cứu vãn được tình thế nguy hại cho tương lai Tổ quốc và giống nòi. Chúng ta phải làm thế nào bền giữ Hoà Bình Hạnh Phúc dầu cho các nước liệt cường của Quốc tế biến thiên thay đổi thế nào. Nếu ta không ngoan mà chung hợp nhứt tâm nhứt trí bảo vệ toàn vẹn Hoà Bình nội Quốc của ta, thì khi đại chiến thứ ba bùng nổ, thì chủng tộc sẽ bị làm con sinh vật hy sinh xương máu cho ngoại bang tranh quyền bá chủ của thế giới.
Xin Chư Đại Đức vì Đạo tâm, vì ẩn truất thương sanh, vì nước nhà nguy biến, chung sức bảo vệ Hoà Bình Hạnh Phúc cho Tổ Quốc giống nòi dầu ta phải chịu muôn cay ngàn đắng, như thế mới là Đạo.
Xin kính trọng chào Chư Đại Đức niệm tình suy đoán.
Kim Biên, ngày 1 tháng 10 năm Bính Thân
(DL 5-11-1956)
HỘ PHÁP
(Ký tên và đóng ấn)
***
Đức Hộ Pháp đưa ra giải pháp hoà giải dân tộc cho đôi bên người Việt Nam, không thiên tả không thiên hữu, bất hợp tác, bất bạo động, không chống chánh quyền cũng không tranh chánh quyền.
Một đường lối thuần tuý dân tộc đúng theo chủ nghĩa bác ái và công bình của Đạo Cao Đài, và truyền thống đạo đức tinh thần của Tổ Phụ.
Đức Hộ Pháp đã gởi tài liệu ra Quốc Tế, cho chánh phủ hai miền Nam, Bắc Việt Nam cùng các Tôn Giáo bạn. Còn một điều trọng yếu vì nhân dân là nòng cốt của đất nước nên Đức Hộ Pháp đã có một Bức Thơ Xuân gởi cho đồng bào toàn quốc, với lời kêu gọi chân thành và tha thiết lòng thương mến nước của mỗi người thoát khỏi mưu mô ngoại quốc lợi dụng xương máu dân tộc mình để bành trướng chủ nghĩa của họ.
Người Việt Nam tuy khác Tôn Giáo, khác phe phái nhưng đều là đồng bào ruột thịt, biết tương thân tương trợ, đùm bọc lẫn nhau khi hoạn nạn. Đó là tinh thần cổ truyền muôn đời của dân tộc.
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng ”
Được như vậy mới mong thoát khỏi cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt.
Ngày 21-4-1956, chủ tịch Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm soát và đình chiến tại Cao Miên (Intemational) comission for Supervision and Control in Campodia) gởi văn thơ ký tên phúc đáp đồng tình chính sách Hoà Bình Chung Sống do Đức Hộ Pháp đề ra.
Ngày 24-4-1956 Đức Hộ Pháp nhận văn thơ phúc đáp đồng tình chính sách Hoà Bình Chung Sống cho Việt Nam như :
- Thủ Tướng Anh Quốc,
- Quốc Vương Norodom Sihanouk Npayavach du Campuchia,
- Tổng Thống Pháp GuyMollet.
Ngày 26-4-1956 Đức Hộ Pháp nhận văn thơ phúc đáp của ông Quốc Vụ Khanh Pháp Quốc Pierre Mendes đồng tình ủng hộ chính sách Hoà Bình Chung Sống cho Việt Nam.
Ngày 27-4-1956 Đức Hộ Pháp nhận văn thơ phúc đáp của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ấn ký (Chef de Section Departement des Affaires Polique et Du Conaeil de Securitérited Nation) ủng hộ chính sách Hoà Bình Chung Sống cho Việt Nam.
Ngày 3-5-1956 Đức Hộ Pháp nhận văn thơ phúc đáp của Đại Sứ Pháp Quốc tại Cao Miên ấn ký (Haut commissriat Republique France Au Cambodge) tỏ bày sự ủng hộ chính sách Hoà Bình Chung Sống cho Việt Nam.
Ngày 14-5-1956 Đức Hộ Pháp nhận văn thơ phúc đáp của Uỷ Ban nhân quyền Liên Hiệp Quốc ấn ký (Division Des Droits De Lhomme United Nation) bảo trợ và ủng hộ đề nghị chính sách Hoà Bình Chung Sống cho Việt Nam.
Ngày 16-5-1956 Đức Hộ Pháp nhận thơ phúc đáp lần thứ hai của Quốc Trưởng Cao Miên ấn ký (Samdach Norodom Sihanouk Upayvareach) hoàn toàn ủng hộ và đồng tình chính sách Hoà Bình Chung Sống cho Việt Nam
Ngày 19-5-1956 Đức Hộ Pháp nhận thơ phúc đáp của Tống Thống Phi Luật Tân ấn ký (Office of President of the Philippines) ủng hộ và đồng tình chính sách Hoà Bình Chung Sống cho Việt Nam.
Ngày 5-1-1957 Đức Hộ Pháp nhận thơ phúc đáp của Hoàng Đế Cao Miên (Samajesté preah Bat samdeach Pread Norodom Sumarit Roi du Cambodge) đồng tình và ủng hộ giải pháp hoà bình cho Việt Nam.
Trên đây là giải pháp Hoà Bình của Đức Hộ Pháp đối với bên ngoài, còn bên trong, Đạo Đức Hộ Pháp có gởi Hội Thánh và toàn Đạo Bản Tuyên Ngôn chính sách Hoà Bình Chung Sống đề ngày 23-3-1956, trước ba ngày chính sách Hoà Bình Chung Sống được chính thức công bố ngày 26-3-1956.
Chính Sách Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp đựơc Liên Hiệp Quốc và các nước trên thế giới nhiệt tình hưởng ứng và ủng hộ giải quyết vấn đề Việt Nam, một giải pháp duy nhất trên thuận lẽ trời dưới hợp lòng người với nguyện vọng toàn nhân dân Việt Nam. Ngoài ra không có giải pháp nào khác thích hợp hơn.
Một giải pháp có đầy đủ bác ái và công bình của Đức Chí Tôn.
***
BẢN TUYÊN NGÔN
Gởi cho toàn Đạo Chức Sắc Thiên Phong Hội Thánh Nam Nữ Hiệp Thiên, Cửu Trùng, Phước Thiện và Phạm Môn cùng cả con cái Đức Chí Tôn Nam Nữ Lưỡng Phái.
Trong lúc lưu vong nương náu nơi nước người đặng thi hành mục đích thiêng liêng cứu dân, cứu nước, Bần Đạo rất ân hận buộc mình phải phế vong phận sự đối với đại gia đình thiêng liêng của Đại Từ Phụ đã giao phó. Bần Đạo chỉ cầu nguyện ơn trên ban bố hồng ân cho cả con cái của Đạo biết trọng danh Đạo của mình trong khuôn luật của Đức Chí Tôn đã lập giáo là :”Bác Ái và Công Bình”
Nền Giáo lý cao siêu của Đức Chí Tôn chính tay đã lập và ngọn cờ cứu khổ của Đời thì những hành vi nào phi ân bội nghĩa là lẽ dĩ nhiên nghịch hẳn với Thánh Ý của Người.Các phần tử của Đại gia đình Thiêng Liêng ấy, dầu đôi ba triệu người, phải làm thế nào như một mới đảm nhiệm được phận sự tối yếu, tối trọng của Người đã giao phó là cứu thế độ đời.
Ta thử nghĩ, nếu trên không thuận dưới, dưới chẳng hoà trên thì số mạng của nền chơn giáo của Người mới ra sao dưới mắt thế gian dòm ngó.
Cái hại thường tình của một gia đình là tán gia, của một nước là tán quốc, của nền Đạo là suy vi do bởi phân tâm, nghịch lý. Nạn bội phản của Đạo đã lắm phen làm chinh nghiêng Pháp Chánh, ô uế chơn truyền mà ta xem kỹ lại coi đã có phen nào làm cho mất uy danh của Đạo chăng ? Bất quá là một luồng gió thoảng qua giữa càn khôn vũ trụ vậy thôi.
Bần Đạo đã để trọn tín nhiệm nơi toàn con cái của Đạo đủ khôn ngoan, sáng suốt, nhận định thời thế thể nào để liệu phương xoay sở vậy thôi.
Bần Đạo lấy làm đau đớn để lời thống thiết yêu cầu toàn con cái của Đạo nếu biết trọng danh giá của mình, phải biết trọng tinh thần danh giá của Đạo.
Chủ quyền của Đạo còn thì Đạo mới còn, chủ quyền của Đạo mất thì Đạo phải mất. Đức Chí Tôn đến để lập Thánh Thể của Ngài tức là Hội Thánh, cốt để thay hình thay xác của Ngài đặng làm Anh, làm Cha, làm Thầy của toàn con cái yêu dấu của Ngài, thì quyền hành thiêng liêng ấy phải đặng tôn kính mới bảo thủ sanh tồn của Đạo; ngược lại là ta vô tâm theo đuổi uy quyền tìm phương diệt Đạo.
Nếu cả mấy bạn, mấy em, mấy con từ trên xuống dưới, biết thương Bần Đạo là một kẻ tượng trưng cái khối ưu ái vô biên của Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu thì Bần Đạo gởi cả sự ưu ái ấy nơi lòng của mỗi người hầu hoà thuận cùng nhau đặng đủ phương bảo tồn luật Đạo.
Trong khi vắng mặt, Bần Đạo đã phú thác toàn quyền cho Hội Thánh thì ai phạm tới quyền ấy, tức nhiên một cách gián tiếp phạm đến quyền của Bần Đạo mà quyền ấy chỉ là quyền hành ưu ái vô biên của Bần Đạo đó vậy.
Thiếu Tướng Văn Thành Cao phải tiếp tục thi hành phận sự mà Bần Đạo đã giao phó.
Toàn ban Hội Thánh Nam Nữ Lưỡng Phái phải triệt để thi hành phận sự của Bần Đạo đã giao cho đến ngày Bần Đạo trở về cố quốc. Cả tín đồ Nam Nữ Lưỡng Phái phải nhứt tâm nhứt đức tôn trọng chủ quyền của Đạo mới có thể giúp sức Bần Đạo trong phận sự cứu vãn tình thế nước nhà.
Sự trở về ấy mau hay chậm là Đại gia đình thiêng liêng của Bần Đạo quyết định.
Kim Biên, Ngày 12-2-Bính Thân
(23-3-1956)
HỘ PHÁP
TB: Hội Thánh phải ấn hành gởi cho toàn Đạo.
Hộ Pháp đi Nam Vang một cách bất ngờ, Hội Thánh và toàn Đạo không ai hay biết, nhưng khi biết được cũng không ai hiểu vì sao Đức Hộ Pháp qua Nam Vang.
Khi đến Nam Vang, việc làm trước nhứt của Đức Hộ Pháp là thông tin về nước cho Hội Thánh và toàn Đạo hiểu biết Ngài đến Nam Vang để làm phận sự cứu dân cứu nước, phận sự thiêng liêng cao cả của Đức Chí Tôn giao phó.
Chúng ta để ý với tư cách Giáo chủ Đạo Cao Đài Đức Hộ Pháp gởi các thông điệp ra các nước trên thế giới và chánh phủ hai miền Nam, Bắc Việt Nam có đầu đề : “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Tam thập nhứt niên Toà Thánh Tây Ninh”.
Như vậy việc của Đức Hộ Pháp là của Đạo chớ không phải riêng cá nhân của Ngài, mà hễ của Đạo là của Đức Chí Tôn.
VIỆC VẬN ĐỘNG CHÁNH SÁCH
HOÀ BÌNH CHUNG SỐNG Ở TRONG NƯỚC
GIAI ĐOẠN I
Đức Hộ Pháp gởi tài liệu Hoà Bình từ Nam Vang về nước cho Hội Thánh và toàn Đạo được biết để thi hành. Việc tổ chức các Ban Bộ để có trách nhiệm kêu gọi sự hưởng ứng trong Đạo, ngoài đời, ở miền Nam có Ban Miền Nam chịu trách nhiệm từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau.
Thành phần trong Ban gồm có :
1. Trưởng Ban
2. Phó Ban
3. Tổng Thư Ký
4. Uỷ Viên Tuyên Huấn
5. Uỷ Viên Tổ Chức
6. Uỷ Viên Tài Chánh
7. Uỷ Viên Thanh Tra Kiểm Soát
8. Uỷ Viên Liên Lạc.
Dưới Ban miền Nam có ba Nam Liên tỉnh. Miền Tây gồm 10 tỉnh từ Vĩnh Long, Sa Đéc xuống Cà Mau và Ban Liên Tỉnh Miền Đông gồm 10 tỉnh từ Mỹ Tho, Long An đến Bà Rịa, Vũng Tàu và Ban Liên Tỉnh Miền Trung.
Dưới Ban Liên Tỉnh có các Ban Tỉnh, Quận, Xã thành phần mỗi Ban cũng gồm có 8 uỷ viên như Ban Miền Nam.
Ban Miền Nam đầu tiên gồm có các cựu Sĩ Quan Quân Đội đảm trách, nhưng trong vòng hai tháng không thu nhập được kết quả, lại bị chánh quyền Ngô Đình Diệm cho theo dõi bắt bớ, nên phúc trình lên Đức Hộ Pháp xin từ chức.
Trong thời gian này anh em Sĩ Tải và chức sắc Cửu Trùng Đài một số ít xin tham gia hoạt động các phận Đạo thuộc Châu Thành Thánh Địa được toàn Đạo nhiệt liệt hưởng ứng.
Đồng thời các Sỉ Tải Pháp Chánh địa phương cũng tham gia hoạt động các tỉnh.
Trong khi Ban Miền Nam Chính Sách Hoà Bình Chung Sống của các cựu Sĩ Quan từ chức, anh em Sĩ Tải liền triệu tập phiên họp bất thường tại nhà phố của ông Sỉ Tải Phạm Duy Nhung để cải tổ Ban vận động Miền Nam đề nghị lên Đức Hộ Pháp, là anh em Sỉ Tải tình nguyện lãnh nhiệm vụ Ban vận động Miền Nam Chính Sách Hoà Bình Chung Sống, để hoạt động và tổ chức Ban Bộ các địa phương.
Lập biên bản buổi họp và phúc trình đề nghị dâng lên Đức Thầy, được sự chấp thuận, nên từ Nam Vang Đức Thầy gởi về cho 7 chứng thư đề ngày 15-6-Bính Thân (22-7-1956) cho 7 vị Sĩ Tải .
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Hộ Pháp Đường Tam Thập Nhứt Niên
Văn Phòng TOÀ THÁNH TÂY NINH
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng
Gởi cho ông Phạm Duy Nhung
CHỨNG THƯ
Đã trót 15 năm tranh đấu, nghĩa là từ tháng 7 năm 1941 tới năm 1956, cả con cái của Đạo Cao Đài đã hy sinh không biết bao nhiêu xương máu cốt để giải ách lệ thuộc nước nhà cùng chủng tộc.
Từ lúc ở Đảo Madagascar, trở về tháng 10 năm 1946 (dl) thì Bần Đạo chỉ đeo đuổi một mục đích là thâu hồi độc lập và chủ quyền trọn vẹn cho dân tộc.
Thoảng như đã gặp nhiều nỗi khó khăn trong lúc lập quyền cho khối quốc gia, lúc ấy không phương hợp tác cùng Việt Minh. Vì lẽ mà khối quốc gia đang chịu trong trường hợp rất nên nguy ngập là cô thế đứng giữa hai lần tên mũi đạn : một bên là Việt Minh, một bên là Pháp, họ đã bị giết chóc, cùng áp bức, nên Bần Đạo không thể ngồi yên thấy trước mặt nạn tương tàn tương sát. Vì cớ nên phải chịu nhận quân lực của Cao Đài đã thành lập trong lúc Bần Đạo bị đồ lưu nơi hải ngoại, cốt để dàn xếp đôi đàng cho hiểu biết lẫn nhau trong lúc tranh đấu cùng quân lực.
Khi Quốc Trưởng Bảo Đại về nước, cốt để lãnh một sứ mạng thiêng liêng cao cả là hoà giải các khối quân lực cách mạng thống nhất hầu đủ phương đòi hỏi chủ quyền, nên liền khi ấy, Bần Đạo đã giao toàn quân lực Cao Đài cho Ngài sử dụng, ý định là không đành dùng mũi súng ngọn gươm đặng di hại cho Tổ quốc và giống nòi, gây hoạ tương tàn tương sát.
Quốc Trưởng Bảo Đại không phương giải quyết đặng tình hình nguy ngập của nước nhà trong mấy trào Thủ Tướng của Ngài đã tấn phong cầm quyền lãnh đạo. Nhưng muốn làm hậu thuẩn đắc lực cho chánh phủ quốc gia đủ phương diện bắt tay cùng Việt Minh đương kháng chiến buổi nọ thì Bần Đạo vẫn để quốc gia hoá trọn vẹn Quân Đội Cao Đài, kịp đến ngày nay cũng thế, chớ không chịu gìn giữ quân lực nơi cửa Đạo đặng đeo đuổi theo một đường lối duy nhất là thống nhất lãnh thổ và thâu trọn chủ quyền.
Đã qua khỏi giai đoạn tranh đấu thứ nhất, nay đến giai đoạn thứ nhì là dàn xếp ngoại quyền xông vào nội bộ sau Hiệp định Genève ngày 20-7-1954
Bần Đạo đã quyết định tranh đấu giải phóng Quốc dân khỏi lệ thuộc trực tiếp hay gián tiếp giữa hai khối Thực dân và Cộng sản. Vĩ tuyến 17 do quyền hành của ngoại bang lập thành, chia hai lãnh thổ Nam Bắc phân tranh, gây nên nội chiến không còn lý do tồn tại.
“Những ai đã nhiệt thành ái quốc ưu hướng để cứu vãn tình thế nguy ngập của nước nhà, xin đem cả năng lực hiệp tác cùng các đồng chí của Bần Đạo thọ lãnh Uỷ Nhiệm Thư này, hầu vì Dân, phục vụ Dân và lập quyền Dân đặng cho toàn Dân đủ thẩm quyền cứu nước ”.
Phnom Penh, 15 tháng 6 Bính Thân.
(22-7-1956)
HỘ PHÁP
(Ký tên và đóng ấn)
Ba ông luật sư ở Sài Gòn đồng ý với Đức Hộ Pháp lãnh phận sự cố vấn pháp luật cho Chánh Sách Hoà Bình Chung Sống .
Đức Hộ Pháp gởi thơ về cho Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức đại diện Đức Hộ Pháp tại Toà Thánh cho mượn chiếc Peogeot của Đức Hộ Pháp còn để lại Toà Thánh để anh em Sĩ Tải làm phương tiện đi tổ chức các tỉnh Miền Nam.
Trong khi anh em Sĩ Tải lãnh nhiệm vụ xong, liền chia ra tổ chức ngày đêm châu lưu các Tỉnh, Quận, Xã ở ba Miền : Miền Đông, miền Tây, miền Trung, trong vòng vài tuần lễ đã hoàn tất, được toàn Đạo nhiệt liệt hưởng ứng.
Sau khi Ban Vận Động miền Nam chính sách Hoà Bình Chung Sống tổ chức xong các Ban Bộ tỉnh, quận, xã khắp nơi liền báo cáo lên Đức Hộ Pháp.
Kế được lịnh từ Trung ương Nam Vang (Kim Biên) gởi về cho các Ban Bộ các tỉnh làm lễ ra mắt để hoạt động công khai, làm Bản Tuyên Ngôn cáo trình lên chính quyền địa phương mỗi tỉnh để Ban Vận Động tỉnh trình diện ra hoạt động công khai. Anh em Sĩ Tải trong Ban Vận Động miền Nam tiếp được lịnh liền châu lưu các địa phương, tổ chức sắp đặt văn kiện đầy đủ cho các tỉnh chuẩn bị ra mắt với chính quyền.
Việc gần xong thì Đức Hộ Pháp lịnh từ Kim Biên gởi về đình chỉ việc ra mắt, mà chỉ lo củng cố về mặt tổ chức cho sâu rộng đến xã ấp. Việc ra mắt với chính quyền sẽ định liệu sau.
Các tỉnh miền Nam kịp thời đình chỉ việc ra mắt chính quyền, riêng Trung Việt vì đường liên lạc xa xôi nên hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi đã tổ chức lễ, có các vị Tỉnh trưởng và quan khách đến dự và nghe Ban Vận Động Hoà Bình Chung Sống trình bày giải pháp hoà giải Dân tộc của Đức Hộ Pháp.Ông Tỉnh Trưởng cho biết chánh phủ miền Nam ở Sài Gòn không cho hoạt động chính sách Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp và khuyên anh em bổn đạo Cao Đài trong tỉnh không nên tuyên truyền giải pháp này.
Sau lại, ở miền Trung có 4 vị hoạt động đường lối Hoà Bình Chung Sống bị bắt trước :
1. Sĩ Tải Đỗ Hoàng Giảm: Pháp chánh miền Trung.
2. Giáo Hữu Ngọc Lành Thanh: Khâm châu Đạo tỉnh Bình Thuận.
3. Lễ Sanh Thượng Ký Thanh: Phổ Tế
4. Đạo hữu Đặng Ngọc Thọ: Phổ Tế.
Tuy bị chính quyền Ngô Đình Diệm theo dõi ráo riết nhưng anh em Sĩ Tải cương quyết chia nhau phận sự hoạt động Hoà Bình ở các tỉnh miền Nam và miền Trung.
Trong thời gian này Đức Hộ Pháp từ Nam Vang cử Thiếu Tá Thoại trở về tổ chức Phái đoàn đi Bến Hải cắm cờ Nhan Uyên trên cầu Hiền Lương. Phái đoàn gồm 4 người : Ông Thoại, Kỳ, Đại, Lợi và tất cả đều bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt.
Một Phái đoàn khác có ba người 2 Nữ, 1 Nam cũng đã đến Nam Vang xin phép Đức Hộ Pháp tình nguyện ra Trung Việt đến sông Bến Hải để kêu gọi Hoà Bình nhưng ra đến đó thì bị chính quyền đuổi về. Về tới Huế, Trưởng Đoàn là bà Đồng (ăn mặc rất sặc sỡ) đứng giữa phố Huế được nhiều người chú ý bao quanh đông đảo nghe Bà tuyên truyền giải pháp Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp làm náo nhiệt cả khu phố; công an đến bao vây và bắt 3 người này.
Thời gian này chánh quyền Ngô Đình Diệm triệt để khủng bố Đạo Cao Đài khắp mọi nơi.Ông Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ nhiều lần lên Toà Thánh Tây Ninh chặn đứng việc bành trướng đường lối Hoà Bình Chung Sống, đồng thời các Ty thông tin tuyên truyền của chính phủ hạ uy thế của Đức Hộ Pháp và buộc Hội Thánh ký thoả ước Bính Thân : “Đạo không làm chính trị ”.
Trước Toà Thánh và các Thánh Thất buộc treo hai lá cờ nhỏ hơn cờ Quốc Gia
Các bản Thánh Thị Vô phòng thủ cắm ở các cửa vào Toà Thánh đều bị phá bỏ và ở châu vi Thánh Địa cũng vậy.
Chợ Long Hoa và các chợ khác trong vùng Thánh Địa đều bị chính quyền chiếm đoạt. Họ lấy Nhàn Du khách sạn làm Ty công an Tây Ninh, gần cửa Toà Thánh để theo dõi hành động của Đạo.
***
THOẢ ƯỚC BÍNH THÂN
Ký ngày 28-2-1956
Cuộc lễ tổ chức trước Sân Đại Đồng Xã Đền Thánh do Hội Thánh hiệp với Thiếu Tướng Văn Thành Cao cho vẽ những biểu ngữ chào mừng Phái đoàn chính phủ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm, toàn là biểu ngữ ca tụng chính quyền.
Riêng anh em Sĩ Tải hiệp cùng với Anh em bên Hành Chánh của Phước Thiện ngấm ngầm tổ chức các Phận Đạo vẽ các biểu ngữ xưng tụng Đạo và Đức Hộ Pháp. Một tấm biểu ngữ thật lớn “ĐẶT TRỌN ĐỨC TIN NƠI ĐỨC HỘ PHÁP ” cho treo ngay khán đài đọc diễn văn của Tổng Thống.
Cuộc lễ rất đơn giản, bổn đạo ít ai đến dự.
***
Thoả ước Bính Thân do Hội Thánh Lưỡng Đài ký kết :
HIỆP THIÊN ĐÀI có Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng, Hiến Pháp Trương Hữu Đức, Tiếp Đạo Cao Đức Trọng.
CỬU TRÙNG ĐÀI có Thái Chánh Phối Sư Thái Bộ Thanh, Thượng Chánh Phối Sư Thượng Sáng Thanh, Ngọc Chánh Phối Sư Ngọc Tước Thanh
PHƯỚC THIỆN có Chơn Nhơn Trịnh Phong Cương, Đạo Nhơn Nguyễn Văn Phú, Đạo Nhơn Trần Văn Lợi, Đạo Nhơn Đỗ Văn Viện.
Đại diện Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hoà
Số 337 BNV/VP (ký tên đóng dấu) Nguyễn Ngọc Thơ. Chuẩn y.
Sài Gòn 1-3-DL 1956. Bộ Trưởng Nội Vụ.
(ký tên đóng dấu)
Bùi Văn Thinh
Chánh quyền Ngô Đình Diệm buộc Hội Thánh ký Thoả ước Bính Thân không được làm chính trị với mưu mô ngăn chặn giải pháp Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp. Còn phần các Anh lớn trong Hội Thánh ký kết với chánh quyền Ngô Đình Diệm không làm chính trị để yên thân. Các anh lớn nghĩ rằng Đức Hộ Pháp đi khỏi Toà Thánh thì Ngài không có quyền hành gì đối với Đạo, nên khi ký Thoả ước Bính Thân với chính quyền Ngô Đình Diệm và sửa cải nhiều việc trong Đạo mà không cần thỉnh ý của Đức Hộ Pháp.
Sau cuộc lễ, Chánh quyền Ngô Đình Diệm dùng biện pháp mạnh để khủng bố đường lối Hoà Bình Chung Sống tại Toà Thánh cũng như ở các tỉnh, Chức sắc hành Đạo bị công an theo dõi và các cuộc lễ cũng bị hạn chế, nhứt là ngày Lễ sinh nhựt của Đức Hộ Pháp.
Tuy cơ Đạo gặp lúc biến thiên bị chánh quyền độc tài đàn áp nhưng tinh thần Chức sắc và toàn Đạo càng tích cực, bí mật tham gia hoạt động đường lối Hoà Bình Chung Sống và Giáo Hội của Thầy càng mạnh mẽ.
Trong lúc Đức Hộ Pháp vắng mặt nơi Toà Thánh, các anh lớn cầm quyền Đạo đã sửa cải nhiều việc :
- Toà Nội Chánh sửa lại là Cửu Trùng Đài
- Pháp Chánh sửa lại là Pháp Viện
- Cơ Thánh Vệ sửa lại là Nội Vệ
- Cơ Bảo Thể sửa lại là Giám Kiểm
- Trí Huệ Cung và Trí Giác Cung sửa lại là Tu Viện.
*
Ngày 21-11-Bính Thân một số anh em tham gia hoạt động đường lối Hoà Bình Chung Sống ở hai tỉnh Vĩnh Long và Sa Đéc bị bắt giải về Sài Gòn.
- Danh sách anh em bị bắt ở Vĩnh Long :
1. Sỉ Tải Nguyễn Thành Nguyên: Liên tỉnh miền Tây
2. Lễ Sanh Lê Minh Tụ: tỉnh Vĩnh Long
3. Trần Tiết Hớn: Trưởng ban vận động
4. Lê Hữu Dư: Tổng thư ký
5. Nguyễn Ngọc Tước: Tài chánh
6. Phạm Văn Chấp: tổ chức
7. Trịnh Ngọc Trạch: Tuyên huấn Châu Thành
8. Phạm Văn Thanh: Tân Ngải
9. Trần Thái Ngươn : Hoà Thành
10. Võ Văn Ngà: Tân Ngải
11. Nguyễn Văn Tào: Long Đức Đông
12. Nguyễn Văn Thành: Long Định
13. Lê Văn Tám: C.CTS. Phước Hậu
14. Võ Văn Tuồng: Quận Lách
15. Trần Văn Tám : Hưng Long
16. Võ Công Tây
17. Đỗ Hữu Thạnh Hoà Nghĩa
18. Trần Ba Ngọ
19. Nguyễn Văn Đó Tân An Đông
20. Phạm Công Thâu
21. Nguyễn Văn Giàu
22..Nguyễn Văn Lành Sơn Định
23. Đoàn Thanh Vân Cái Nhum
- Danh sách anh em bị bắt ở Châu Đạo Sa Đec:
1. Huỳnh Công Chánh (Lễ sanh)
2. Trần Thạnh Mậu
3. Nguyễn Chí Bửu
4. Nguyễn Thiện Sĩ
5. Nguyễn Ngọc Sáng
6. Nguyễn Văn Chiếu
7. Đặng Văn Thanh
8. Trần Văn Hứa
9. Nguyễn Văn Chọn
10. Phạm Văn Tuyên
11. Võ Văn Chẩn
12. Lê Văn Cung
Số 35 anh em bị bắt ở Vĩnh Long và Sa Đéc trên đây đều bị giải về giam chung tại đề lao Gia Định.
***
Năm 1957
CUỘC LỄ LONG TRỌNG CỦA TOÀN ĐẠO
Ủng hộ Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc- Giáo Chủ Đạo Cao Đài và biểu dương tinh thần Hoà Bình theo Chánh Sách Hoà Bình Chung Sống do Đức Hộ Pháp đề xướng.
Nhân dịp lễ vía Đức Chí Tôn,mùng 9 tháng Giêng năm Đinh Dậu,Đức Hộ Pháp từ Nam Vang đưa lịnh về cho Hội Thánh tổ chức cuộc lễ trọng thể và gởi Bức Thông điệp đầu năm do Ngài Hiến Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh thay mặt Đức Ngài đọc trong cuộc lễ.
Cuộc lễ này Đức Ngài dạy Hội Thánh Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài đứng ra tổ chức mời các Ngoại Giao Đoàn các nước và Chánh phủ Việt Nam cùng các Tôn Giáo, Đảng Phái bạn. Khẩu hiệu biễu ngữ từ Nam Vang gởi về cho anh em vẽ và mời tất cả Ban Bộ các địa phương về tham dự cho đông đảo, bên Hội Thánh cho mời các Châu Tộc Nam Nữ.
Cuộc Lễ bắt đầu tổ chức thì Tổng nha công an Sài Gòn lên phối hợp Ty Công an tỉnh Tây Ninh để theo dõi. Nhưng anh em Sĩ Tải trong ban bộ đã kịp thời phân phối khẩu hiệu biểu ngữ chu đáo. Còn Ban tổ chức của Hội Thánh chỉ treo biểu ngữ thường thức như các cuộc lễ hằng năm.
Sau khi cúng Đại Lễ thời Tý, Ban tổ chức cho nhơn viên bí mật ở lại trong Đền Thánh đến 3 giờ khuya chờ cho vắng công an, Ban tổ chức bắt đầu trang trí, rải vôi chỗ đứng Ban bộ và Bổn Đạo các tỉnh các Phận Đạo. mỗi Tỉnh, mỗi Phận đều có cầm biễu ngữ riêng và treo thêm cả ngàn biểu ngữ xưng tụng công đức của Đức Hộ Pháp và Đường lối cứu khổ và cứu thế.
CHƯƠNG TRÌNH BAN TRẬT TỰ VỀ CUỘC DIỄN HÀNH
Ngày 9-1
CÁC CỬA VÔ NỘI Ô TOÀ THÁNH
Mở các cửa vô Nội ô cho Bổn Đạo và quan khách đến dự lễ khỏi chen lấn và tiện việc sắp đặt trật tự Đại Đồng Xã.
Khi xướng ngôn viên vừa tuyên bố buổi lễ sắp khai mạc thì các cửa đều đóng lại chỉ chừa hai cửa số 2 và số 6.
Người dự lễ phải chờ mãn cuộc lễ mới được ra.
Sắp đủ các nhơn viên phụ sự với số người của Ban tổ chức Hội Thánh để luân phiên ứng trực tại các cửa .
XE MÁY XE HƠI
Can thiệp đến Ban tổ chức của Hội Thánh để có lịnh cấm người đi dự lễ không được đem xe máy dẫn vào Nội ô. Xe hơi của quan khách, cộ của mình vào Nội ô, ngoại trừ xe của quan khách thì đậu tại vườn Thiên nhiên (Phòng thông tin).
SẮP ĐẶT CUỘC TU HỌP TẠI ĐẠI ĐỒNG XÃ
Bổn Đạo được chia làm hai, Nam một bên, Nữ một bên. Nam sắp theo từng khu vực y như bản đồ chừa chỗ trống trước mặt tiền hai khán đài bốn khu vực tại Đại Đồng Xã. Nam Nữ xây trở vô ngó mặt lẫn nhau xếp hàng theo trụ cờ phía nam 36 hàng người, chia làm hai khu vực mỗi khu vực 18 hàng, từng hàng người là một Địa phương Đạo, chia ra như sau :
Thánh Địa 1 hàng
Nam Tông Đạo 21 (Châu Đạo)
Đô Thành Sài Gòn 1 hàng
Trung Tông Đạo 10 (Châu Đạo)
Bắc Tông Đạo 1 hàng
Đường nhơn 1 hàng
Tần Nhơn 1 hàng
Cộng 36 hàng
Số tín đồ tham dự thì sắp theo hai khu vực hai bên Khán đài nối theo hàng trong Đại Đồng Xã, nhưng cách nhau bởi con lộ dọc theo trước Khán đài.
Như vậy bên Nam đứng sắp hàng chia làm bốn khu vực ; 2 khu vực tại Đại Đồng Xã, 2 khu vực tại vườn Thiên nhiên (hai bên Khán Đài).Về phần bên Nữ cũng đứng sắp hàng y như bên nam vậy, với 36 hàng đối diện cùng Nam phái.
Bổn Đạo sắp hàng từ trong mỗi hàng, trước mỗi hàng người dựng một tấm biểu ngữ danh sách Châu Đạo; 36 biểu ngữ danh sách Châu Đạo phái Nam, 36 biểu ngữ sanh sách Châu Đạo phái Nữ. Ngoài ra mỗi hàng phải có 2 biểu ngữ, khẩu hiệu do 4 người cầm, tất cả 288 người cầm biểu ngữ cho mỗi phái.
Tại mỗi hàng người có 2 vị Chỉ huy, một người cầm đầu dẫn đường và một người đứng sau thúc giục, tất cả 144 người Chỉ huy cho mỗi phái.
HƯỚNG ĐẠO ĐOÀN VÀ HỌC SINH đứng dài hai bên lộ Bình Dương Nam một bên, Nữ một bên làm hàng rào danh dự tiếp rước Chức sắc Đại Thiên Phong.
Hướng Đạo Đoàn đứng từ đầu đường giáp Đền Thánh, kế học sinh đứng nối theo trở vô Giáo Tông Đường.
TRẬT TỰ VIÊN: Trật tự viên đứng ở các ngã tư.
- 1 người ở lộ Cao Thượng Phẩm sau nhà khách Giáo Tông Đường
- 1 người ở lộ Bình Dương trước nhà khách Giáo Tông Đường
- 1 người ở lộ Cao Thượng Phẩm ngã tư gần Tượng Phật Tổ.
- 1 người ở mé vườn Thiên nhiên đầu lộ Bình Dương, trước Đền Thánh hai bên ngã tư mỗi bên 1 người.
- Trước Hộ Pháp Đường 1 người
- Trước Giáo Tông Đường 1 người
Ngoài số trên đây còn phải có thêm một số Trật tự viên khác do Cơ Thánh Vệ và Cơ Bảo Thể giúp sức.
Trật tự viên có bổn phận chỉ chỗ đi đứng cho Bổn Đạo và người dự lễ cùng thi hành cho đúng theo Thánh lịnh của Đức Hộ Pháp đối với những kẻ phá rối hoặc hăm doạ khiêu khích.
Cơ Thánh Vệ và Cơ Bảo Thể phải có một đội đặc biệt túc trực sẵn tại trước Đền Thánh đặng cần khi hữu sự.
CUỘC DIỄN HÀNH & HÔ KHẨU HIỆU .
Sau khi các bài diễn văn đọc xong, xướng ngôn viên đứng trực máy ghi âm nơi bao lơn Hiệp Thiên Đài báo tin :”HỌC SINH DIỄN HÀNH ” Hướng Đạo Đoàn đi trước, kế học sinh, Nam đi qua hết rồi mới tới Nữ, cầm theo các biễu ngữ được trương lên trong lúc đọc diễn văn
Dứt đoàn Hướng Đạo và học sinh, xướng ngôn viên báo tin “TOÀN ĐẠO DIỄN HÀNH ”.
Bổn Đạo đi diễn hành theo thứ tự từ khu vực lần lượt hết số 1 tới số 2 cho đến số 8 theo lời xướng ngôn viên chỉ định và mang theo các biểu ngữ, biểu ngữ được trương lên trong khi học sinh diễn hành.
Bổn Đạo Nam phái tiến ra giữa hai hàng cột cờ rồi ra trước Đền Thánh, quanh qua trước Khán đài Nam phái rồi qua Khán đài Nữ phái đi thẳng vòng phía hậu Đền Thánh, trở ra lộ Bình Dương tiến về Giáo Tông Đường, Hộ Pháp Đường, Đền Thờ Phật Mẫu (Báo Ân Từ ), đi một bên lộ Bình Dương, chừa một bên cho Cộ Bông biễu diễn.
Bổn Đạo Nam Nữ, các nhóm ở hai bên khán đài sẽ tuần tự diễn hành y theo mũi tên chỉ trong bản đồ và lịnh của các viên chỉ huy cùng xướng ngôn viên trong máy ghi âm.
Khi học sinh vừa tiến tới đầu đường tẻ ra khán đài nam phái thì toàn cả học sinh lẫn Bổn Đạo đồng thanh hô to khẩu hiệu. Kế đó trên các biểu ngữ (Do xướng ngôn viên chỉ huy bằng máy ghi âm), khẩu hiệu hô nhiều lần nhứt về Đức Hộ Pháp tại các địa điểm :
-Đại Đồng Xã.
-Giáo Tông Đường
-Hộ Pháp Đường
GIẢI TÁN TRƯỚC ĐỀN THỜ PHẬT MẪU (BÁO ÂN TỪ)
Khi toán đầu đến trước Đền Thờ Phật Mẫu đoàn đại biểu dừng bước.Trước khi giải tán hô to 3 lần mỗi khẩu hiệu :
“Đức Hộ Pháp Đấng Giáo Chủ duy nhứt của Tôn Giáo Cao Đài ” … hoan hô
“Khối tín đồ sau lưng Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ”… trung thành
“Đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đức Hộ Pháp ”… đoàn kết
TREO BIỂU NGỮ
Các Trật tự viên trong các khu vực có bổn phận nhắc nhở sau cuộc diễn hành phải treo các biểu ngữ trước Hộ Pháp Đường, Giáo Tông Đường, chung quanh chỗ nghỉ của các Phái đoàn các nước, còn dư thì treo dài theo đại lộ Bình Dương và Đại Đồng Xã.
Lập ngày 1 tháng Giêng Đinh Dậu (DL 31-1-1957)
Ban Trật Tự
KHẨU HIỆU
Khẩu hiệu do toàn Đạo Cao Đài hô tại Toà Thánh Tây Ninh trong dịp lễ Đức Chí Tôn ngày mùng 9 tháng Giêng năm Đinh Dậu (8-2-1957 dl).
1. Toàn thể tín đồ hướng về Đức Hộ Pháp
2. Tuyệt đối tin tưởng nơi Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
3. Triệt để trung thành với Đức Giáo Chủ.
4. Đoàn kết dưới sự lãnh đạo an ninh của Đức Hộ Pháp
5. Đức Hộ Pháp cứu thế
6. Đức Hộ Pháp Đấng Giáo Chủ duy nhất của Tôn Giáo
7. Đức Giáo Chủ hy sinh cho nhơn loại
8. Đức Giáo Chủ phụng sự nhơn loại về Thiên Mạng.
9. Đức Hộ Pháp sẽ làm tròn Thiên Mạng của Người.
10. Toàn Đạo bình tĩnh đợi ngày về của Đức Hộ Pháp .
11. Khối tín đồ sau lưng Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc
12. Vạn Tuế Đức Hộ Pháp và Hội Thánh .
13. Hội Thánh và tín đồ ủng hộ Đức Giáo Chủ.
14. Triệt để tuân lịnh Đức Giáo Chủ
15. Đức Hộ Pháp sẽ thực hiện Đại Đồng Tôn Giáo và Đại Đồng Nhơn Loại.
16. Hoan hô tinh thần bất diệt của Đạo Cao Đài
17. Hoan hô chủ trương Hoà Bình của Đức Hộ Pháp
18. Hoan hô chủ trương cứu dân độ thế của Đức Hộ Pháp
19. Hoan hô chủ trương Bác ái, Công bình của Đức Hộ Pháp
20. Xin rước Đức Hộ Pháp hồi loan
21. Dụng quyền hơn Đức, quyền tan nát
22. Tạo thế kém nhân, thế đoạ đày
23. Đời lấn Đạo Đời xa cội phước
24. Đạo dìu Đời vận nước mới an
25. Đặt trọn tin tưởng nơi Đức Hộ Pháp
26. Đức Hộ Pháp cầm quyền Đạo mới yên
27. Tin tưởng nơi quyền năng cứu thế của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc
28. Chào mừng Phái đoàn Mỹ
29. Chào mừng Phái đoàn Chính Phủ
30. Chào mừng các Sứ Thần ngoại quốc
31. Chào mừng quan khách
32. Đạo Đời tương đắc toàn dân hưởng nhờ
33. Tinh thần Tôn Giáo bất diệt
34. Tinh thần vị tha của Đức Giáo Chủ Phạm Công Tắc muôn năm.
CỘ HOA DIỄN HÀNH :
1. Cộ Hoa Thiên Nhãn đồng nhi tụng kinh của Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Phước Thiện.
2. Cộ Hoa thờ Đức Phật Mẫu.
3. Cộ Hoa hình Đức Hộ Pháp ban Phép lành
4. Cộ Hoa Đức Quan Thánh.
5. Cộ hoa có hai con gà đá nhau có ông Thầy tu can.
6. “Vua Phò Dư cầu Đức Phu Tử ”
7. “Lưu Quan Trường cầu Khổng Minh”
8. Chim Bồ Câu trên trái đất.
Sáng ra cả rừng biểu ngữ mọc lên khiến cho Hội Thánh lấy làm ngạc nhiên, nhứt là Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước.
Ban Bộ và toàn Đạo 5 giờ sáng đã tề tựu đông nghẹt rừng Thiên nhiên và sân Đại Đồng Xã.
Với một việc đã rồi Hội Thánh buộc lòng đến dự để khai mạc cuộc lễ. Vào lúc 8 giờ 30 phút, tiếp rước quí khách Tôn giáo bạn, các Đảng phái, các Đại Sứ Ngoại giao đoàn Anh, Mỹ, Pháp, Nhựt, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điễn, Ấn Độ, Trung Hoa và Phái đoàn Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà. Các Phái đoàn đều có Long Mã múa nghinh tiếp.
Xướng Ngôn Viên do ông Giáo Hữu Nguyễn Hữu Lương Hiệu Trưởng Đạo Đức Học Đường.
Cuộc lễ bắt đầu khai mạc, Xướng ngôn viên thay mặt ban tổ chức đọc chương trình và thỉnh Ngài Hiến Pháp đại diện cho Đức Hộ Pháp đọc Thông điệp đầu năm xuân Đinh Dậu và ý nghĩa cuộc lễ của Đức Chí Tôn giáng trần kỳ ba lập Đạo.
Sau khi đọc thông điệp, mấy chục Cộ Hoa đủ điển tích đầy ý nghĩa xây dựng tinh thần nhơn loại từ từ diễn hành qua Toà Thánh đến trước khán đài quan khách vỗ tay hoan nghinh nhiệt liệt, riêng Phái Đoàn chánh phủ không được vui. Hết Cộ Hoa đến đoàn bổn đạo ban bộ cầm biểu ngữ diễn qua.Mỗi đạo hữu cầm một bức ảnh Đức Hộ Pháp đưa lên cao đi ngang qua khán đài hô to khẩu hiệu : “Đức Hộ Pháp vạn tuế ”, “Đạo Cao Đài trường cửu ”, “Chính Sách Hoà Bình Chung Sống muôn năm ” …
Nhìn qua tinh thần nhơn sanh bổn đạo rất cao độ, tin tưởng quyền năng vô đối của Đức Hộ Pháp, bất khuất trước các sự đe doạ bắt bớ khủng bố tinh thần Đạo. Cả biển người và rừng biểu ngữ đi qua khán đài nửa tiếng đồng hồ không dứt làm cho Phái đoàn Chánh Phủ xốn mắt, công an mật vụ chạy ngược chạy xuôi không biết làm sao để chặn đứng vì có Phái đoàn quốc tế đến dự. Trong khi Phái đoàn Mỹ quay phim từ đầu đến cuối.
Sau cuộc Lễ, Hội Thánh rất âu lo, rồi đây trả lời như thế nào đối với chánh quyền trên tinh thần Thoả ước Bính Thân.
Vài ngày sau anh em Sỉ Tải trong ban tổ chức cuộc lễ đến hội kiến cùng Hội Thánh và nhận chịu trách nhiệm đối với chánh quyền.Trong Ban đã dự trù một số anh em ra mặt chịu trách nhiệm trước Chánh quyền Ngô Đình Diệm, còn một số ẩn để lo hoạt động đường lối Hoà Bình của Đức Thầy. Đúng theo dự đoán, Hội Thánh đã bổ trút cho anh em Sĩ Tải và đêm rằm tháng Giêng Đinh Dậu, Công an tỉnh Tây Ninh bao nhà bắt Quí ông sau đây :
1. Thừa Sử Phan Hữu Phước
2. Sĩ Tải Phạm Duy Nhung
3. Sĩ Tải Huỳnh Văn Hưởng
4. Sĩ Tải Nguyên Văn Tú
Và một số Chức Sắc Cửu Trùng Đài :
1. Giáo Sư Thượng Giải Thanh
2. Giáo Hữu Ngọc Huệ Thanh
3. Lễ Sanh Ngọc Tuất Thanh
4. Lễ Sanh Ngọc Tấn Thanh
5. Lễ Sanh Thái Miêng Thanh
6. Giáo Hữu Hương Mây
7. Giáo Hữu Hương Hoa
8. C.T.S Nguyễn Thị Thịnh
9. Đại uý Dương Tấn Được
10. Thiếu uý … Trọng
Bên Phước Thiện :
1. Chơn Nhơn Trịnh Phong Cương
2. Đạo Nhơn … Đại
3. Giáo Thiện … Mến
Sau cuộc lễ vía Đức Chí Tôn, các Chức Sắc và Ban Bộ trở về địa phương cũng bị bắt trên 500 người, phần thì gom tại Tỉnh nhà, phần thì đưa lên các khám đường Sài Gòn, Trung tâm cải huấn Chí Hoà, Thủ Đức, Tân Hiệp, Phú Lợi và các trại cải huấn địa phương.
Các ban bộ đã bị bắt thì bên ngoài còn các ban bộ dự khuyết tiếp tục hoạt động. Những anh em Sĩ Tải chưa bị bắt cũng phải ẩn náo xuống Sài Gòn để nối liên lạc hoạt động.
1. Sĩ Tải Nguyên Minh Ngời
2. Sĩ Tải Lê Quang Trường
3. Sĩ Tải Nguyễn Ngọc Trân
4. Sĩ Tải Bùi Văn Tiếp
5. Sĩ Tải Nguyễn Ngọc Tỷ.
Nơi Toà Thánh, Công an triệt để khủng bố. Xe Công an hụ còi đi ruồng bắt Chức sắc và Đạo hữu bị tình nghi hoạt động Hoà Bình đem về Ty Công an tại Nhàn Du Khách sạn tra tấn ngày đêm như Sỉ Tải Nguyễn Minh Ngời, Giáo Hữu … Châu Liềng.Hai ông Sỉ Tải Lê Quang Trường và Nguyễn Ngọc Trân vượt biên qua Nam Vang, Sĩ Tải Bùi Văn Tiếp và Nguyễn Ngọc Tỷ về quê ẩn náu.
Cuộc lễ đem lại kết quả chưa từng có ngoài sức tưởng nghĩ của mỗi người, biểu dương tinh thần Hoà Bình của Đạo Cao Đài và khối tín đồ trung thành với Đức Hộ Pháp.
Cuộc lễ bên ngoài do Hội Thánh tổ chức mời các Tôn Giáo bạn, quan khách các phái đoàn ngoại giao quốc tế và chánh quyền .Bên trong, các vị Sĩ Tải tổ chức các biểu ngữ các khẩu hiệu hô to, cuộc tuần hành của các toàn Đạo Nam, Nữ trong phạm vi Nội ô Toà Thánh để làm lễ ra mắt Chính Sách Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp đối với quốc tế và trong nước.
Việc tổ chức này do mấy vị Sĩ Tải và anh chị em Hoà Bình làm một cách kín đáo, Hội Thánh không hay biết, đến khi biết thì đã rồi.
Cuộc lễ thành công mỹ mãn cũng nhờ sự ám trợ của các Đấng Thiêng Liêng, chính anh chị dự lễ không ngờ trước được đến giờ phút đó tinh thần của mỗi người lên cao, hăng hái hô to khẩu hiệu, ném khăn nón lên trời làm cho lực lượng công an Ngô Đình Diệm bực tức, nhưng chưa có hành động chặn đứng cuộc diễn hành vì chưa có lịnh.
Sau cuộc lễ, Ngài Trần Khai Pháp có giáng cơ cho biết hôm đó nhờ có Ông Thừa Sử Phạm Ngọc Trấn, mỗi phen Ông Tỉnh trưởng Vàng định ra lịnh cho công an giải tán cuộc lễ thì bị Ông Trấn chặn miệng. Trong lúc tinh thần của toàn Đạo đang dâng cao mà công an có hành động ngăn chặn thì cuộc xô xát khó tránh khỏi, hậu quả cũng không lường được đồng thời rất bất lợi cho Đạo lẫn Đời trước mắt Quốc tế.
Công an đã bắt nguội nhiều người, trong số đó có thiếu uý Trọng là người bị Công an nhìn mặt là tung hô và hô to khẩu hiệu
Sau cuộc lễ này tinh thần toàn Đạo nâng cao, ai cũng hài lòng, phấn khởi và khen tặng buổi lễ khéo tổ chức mới được thành công như vậy.
*
Một tháng sau Đức Hộ Pháp từ Nam Vang gởi về Chánh Thư số 256 HP/HN đề ngày 9-2 Đinh Dậu:
Gởi cho cả Chức Sắc Thiên Phong và tín đồ của Đạo.
Mấy em và mấy con,
Bần Đạo lấy làm đau đớn tâm hồn mà từ trước đến giờ Bần Đạo chưa hề bị khảo dượt lần nào như thế, chỉ đặng hay tin rằng mấy em đã bị Chánh Phủ Ngô Đình Diệm khủng bố bắt Đạo và cả mấy em cùng Chức sắc Thiên Phong.Mưu toan phá Đạo Cao Đài của Ngô Đình Diệm đã đủ bằng cớ một cách trắng trợn, bằng cớ ấy đủ cho Qua thi thố đối cùng mặt luật Quốc Tế mà Qua đã ngồi đợi thâu hoạch cho được.
Sau khi mấy em đã chiến thắng một cách oai quyền và vinh diệu trong cuộc lễ ngày 9 tháng Giêng vừa qua thì uy danh của Đạo về mặt tinh thần đã có một giá trị rất cao đối với vạn quốc. Mấy em nên suy xét lại, mấy em không có thế chi làm một lần như thế nữa.Cái hay khéo của Đạo làm cho thiên hạ lấy làm ngạc nhiên là năng lực tinh thần của mấy em nó phát động một cách tình cờ không ai đề phòng trước đặng dầu cho đối phương có mưu mô xảo trá đầy đủ sự gian ác của họ cũng tự hỏi Đạo Cao Đài sẽ làm gì nữa đây ? Nó sẽ phát động trong tương lai của nó dường nào mà họ tự hỏi không biết trả lời được.
Bây giờ mấy em ngoan ngoãn như người vô tội, ta vì đạo đức, hễ chúng nó bắt thì vào tù ngồi, đừng tìm phương đối phó, để mạng lịnh Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn định liệu. Mấy em nên nhớ rằng khổ hạnh của mấy em buổi này là danh dự của mấy em sẽ đối cùng toàn Đạo, thân danh của mấy em nên hư trong cửa Đạo là do công nghiệp phi thường của mấy em trong buổi này vậy. Lấy lời thường tình mà nói theo thói đời của họ, mấy em có thể chiếm đoạt đặng một khuê bài danh dự để đeo nơi mình của mấy em và nơi linh hồn của mấy em đặng chăng là gặp trường hợp và gặp dịp may buổi này.
Ý định của Qua như thế mà phần nhiều các vị anh hùng lưu vong của Đạo không tin quả quyết, nên họ đã riêng cầu cơ, cầu các Đấng Thiêng Liêng dạy bảo, thì cũng nói như Qua vậy .
Mấy em cũng chẳng quá nên nghe Qua, song nên lấy trí ý đặng định sự hay khéo, hay là vụng về của sự quyết định này. Nếu họ cho rằng hữu lý thì thi hành triệt để như Qua đã định. Hoà Bình, Qua có nghe nói rằng mấy em định lấy tiền để lo điều này Qua rất buồn và giận lắm đó.
HỘ PHÁP
(Ấn ký)
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Hộ Pháp Đường Tam thập nhị niên
Văn phòng TOÀ THÁNH TÂY NINH
Số 257 HP-HN
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài:Hiệp Thiên & Cửu Trùng
THÁNH LỊNH
Gởi cho Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài và ba Chánh Phối Sư Cửu Trùng Đài.
Chư Hiền Huynh và Chư Hiền Hữu,
Theo chơn Truyền Luật pháp của Đạo thì Thánh Thể của Đức Chí Tôn từ tín đồ dĩ chí tới Giáo Tông và Hộ Pháp, thì nó chỉ làm một với nhau. Các bạn đã ngó thấy, trên thì có Giáo Tông, Hộ Pháp và Đầu Sư còn dưới thì có Chánh, Phó Trị Sự và Thông Sự là Giáo Tông, Hộ Pháp và Đầu Sư em, thì dầu cho cội Đạo bị cốt từ trên tới gốc đi nữa thì nó vẫn nẩy chồi, biến thành năm bảy cây khác, đó đã chỉ rõ rằng Hội Thánh của Đạo Cao Đài chẳng hề bị tuyệt.
Ấy vậy chiếu theo khuôn luật trên, hễ quyền trên ai đã bị uỷ quyền truất phế, thì dưới phải tiếp tục cầm quyền Thiêng Liêng của Đạo.Có lẽ chánh quyền Ngô Đình Diệm sẽ bắt những Chức sắc yếu trọng của Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Phước Thiện thì tức cấp giờ này, công cử người thay thế để đặng đương đầu cùng thời cuộc. Nói cho cùng nước, Chức Sắc Thiên Phong mà bị bắt đi nữa thì dưới này các Bàn Trị Sự và Tín đồ cùng công cử người thay thế cho họ.
Chức Sắc Thiên Phong đương cầm quyền của hai Hội Thánh phải dự định sẵn người thay thế cho mình trước khi bị bắt.
Phải triệt để tuân y và thi hành Thánh lịnh này.
Kiêm Biên, ngày 9-2 Đinh Dậu
(DL 10-2-1957)
HỘ PHÁP
(Ấn ký)
***
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Tam Thập Nhị Niên
TOÀ THÁNH TÂY NINH
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng
Gởi cho Ngọc Chánh Phối Sư (1)
Hiền Huynh,
Hiền Huynh nên hội riêng biệt với Thượng Chánh Phối Sư Thượng Sáng Thanh và Thái Chánh Phối Sư Thái Bộ Thanh một cách kín đáo, hỏi hai người đủ can đảm đặng đảm đương phận sự Chánh Phối Sư hay không ? Rồi chính họ viết thư ngay cho Bần Đạo biết ý định,
Bần Đạo không tin rằng đã từng tuổi như hai vị Lão thành mà không pháp luật quyền đời nào uy hiếp tinh thần cho đặng, mà lại cũng là người chung đứng ký thoả ước cùng Chánh Phủ Ngô Đình Diệm thì đã ra người quyền lực bất khả xâm phạm mà lại rụt rè, sợ sệt chánh quyền Miền Nam của Ngô Đình Diệm. Nói cho cùng đi nữa, chúng dụng cường quyền bắt tù đày hay là giết chết cũng chẳng phải lẽ đến nước nhút nhát, sợ sệt như thế ấy.
Đã gặp dịp làm phận sự đàn anh cho xứng đáng đặng ngồi trên con cái Đức Chí Tôn, mà nay gặp dịp may lập nên giá trị với chúng mà không tròn phận sự thì thật là oan uổng, là rất hổ thẹn dành để cho tương lai mình đó. Hôm nay Đạo đã hiển nhiên biến thành trước mặt Quốc Tế là nạn nhân của thuyết Hoà Bình Chung Sống của nhân loại, thì dầu đến nước tử Đạo đi nữa là Thánh Tử Đạo của toàn thiên hạ, giá trị ấy không lẽ mình chẳng đủ can đảm Tử Đạo.
Coi chừng kỳ khảo dượt đặng định giá mình buổi này là kỳ gắt gao không thể luận hơn đôi triệu cặp mắt đương dòm ngó hành vi của chúng ta buổi này đó vậy.
Hiền Huynh lại còn làm ơn dùm cho Bần Đạo, mời riêng biệt chư vị Đại Thiên Phong của Hiệp Thiên Đài là Bảo Thế Lê Thiện Phước, Khai Đạo Phạm Tấn Đãi, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng và Tiếp Đạo Cao Đức Trọng hội hiệp cùng nhau đặng cho Bần Đạo hiểu rõ ràng hai lẽ : Một là hành Đạo, hai là không, đặng Bần Đạo quyết định.
Còn theo sự dự định của Bần Đạo về tuyển chọn kẻ cầm quyền thay thế cho Chư vị Đại Thiên Phong thì : Hễ tuyển chọn hàng Thiên Phong cầm quyền thì cả Chức sắc Thiên Phong cùng nhau định cử.
Nếu Đạo không may, cả Chức Sắc Thiên Phong đều bị bắt tù đày đi hết thì chừng ấy cả toàn thể tín đồ công cử nhau đặng cầm quyền mối Đạo.
Cấp thời Chư vị Thiên Phong đã nắm giữ chủ quyền, phải hội cả Thiên Phong tuyển chọn người phụ với mình cho sẵn thoảng như có bị chánh quyền bắt thì người thừa quyền đó lên thế. Còn người thừa quyền ấy cũng tiếp tục chọn người cho sẳn thay thế cho mình khi bị bắt, tức cấp giờ phút này phải có sẵn người thay quyền chấp chánh cho Chư Vị Đại Thiên Phong.
Bần Đạo trông đợi bức thư của Hiền Huynh hồi âm về kết thúc của sự hội nhóm rồi sẽ ban toàn quyền cho ba vị Chánh Phối Sư làm chủ Đại Nghiệp của Đạo, dưới quyền trực tiếp của Bần Đạo, chớ không tùng quyền ai nữa hết.
Về những vị đã bị bắt giam tù, Hiền Huynh nên lập ban khen cho cả Chức Sắc Thiên Phong của Đạo mà ban Chánh Phủ Ngô Đình Diệm bắt cầm tù, rồi dâng lên cho Bần Đạo phê chuẩn.
Riêng về Chánh quyền buộc triệt hạ những tấm bản Thánh Thị Vô phòng thủ, Hiền Huynh nên gởi công văn của Chánh Phủ buộc Hội Thánh gởi bản ấn lên cho Bần Đạo định liệu.
Kiêm Biên, ngày 20-2-Đinh Dậu (1957)
HỘ PHÁP
(Ấn ký)
(1) Ngọc Non Thanh
ĐỨC HỘ PHÁP BỊ TRUẤT PHẾ LẦN THỨ HAI
Thánh Thư của Đức Thầy dạy trên đây, nhưng Hội Thánh không dám thi hành, Chánh quyền Ngô Đình Diệm tự do thao túng trong vùng Nội ô và Ngoại ô Toà Thánh.
Số Chức sắc còn lại , Chánh quyền buộc Hội Thánh phải ly khai Đức Hộ Pháp và rước Đức Thượng Sanh và Chư vị Thời Quân Hiệp Thiên Đài về Toà Thánh cầm giềng mối Đạo.
PHIÊN HỌP TRUẤT PHẾ ĐỨC HỘ PHÁP
TẠI GIÁO TÔNG ĐƯỜNG
Phiên họp ngày 10-3-Đinh Dậu (Dl-4-1957) có sự hiện diện của ba vị Chánh Phối Sư Thái Bộ Thanh, Thượng Sáng Thanh, Ngọc Non Thanh, Chư Chức Sắc Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên và Phước Thiện Nam Nữ gồm 165 vị.
Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng chủ trì phiên họp bất thường, có sự hiện diện của Đại Úy Trưởng Ty Công An đang đóng chiếm Nhàn Du khách sạn.
Ngài Tiếp Đạo tuyên bố trước buổi họp như vầy : Ông Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã làm chính trị, đưa Đạo đến chỗ nguy vong bế tắc không phương cứu vãn kịp thời, mấy em hãy sáng suốt nghe theo Qua để không uổng kiếp sanh may duyên gặp Đạo …
ĐỨC THƯỢNG SANH VỀ TOÀ THÁNH
CẦM QUYỀN ĐẠO
Chánh quyền Ngô Đình Diệm ủng hộ Đức Thượng Sanh về cầm quyền Đạo với điều kiện là Toà Thánh Tây Ninh phải truất phế Đức Hộ Pháp, Người dọn đường cho Đức Thượng Sanh về là Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng.
Khi Đức Thượng Sanh về cầm quyền mối Đạo đã cải sửa chơn truyền luật pháp của Đạo
1. Đốt bỏ tài liệu Pháp luật và lịch sử của Đạo.
2. Bãi bỏ chèo thuyền
3. Bán Chơn truyền ấn quán
4. Giải tán Phước Thiện
5. Mưu tính thay Quả Càn Khôn
6. Những Chức Sắc phạm tội bị Đức Hộ Pháp ngưng quyền chức thì được vinh thăng. Kẻ hữu công bị ngưng quyền chức hoặc trục xuất.
7. Tất cả Chức sắc Nam Nữ phải lập minh thệ không làm chính trị phi pháp (ám chỉ hoạt động theo đường lối Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp).
8. Đức Thượng Sanh buộc Chức Sắc phải lập minh thệ lại mới được đi hành Đạo.
Cơ Đạo đến hồi bị khảo dượt nặng nề. Đức Hộ Pháp mong muốn cho con cái Đức Chí Tôn tránh bớt khảo đảo nên mới ra lịnh ngưng cầu phong và cầu thăng cho đến ngày Đức Hộ Pháp về nước.
Đức Thượng Sanh về cầm quyền Đạo làm trái ngược với Thánh Ý Đức Hộ Pháp là cho cầu phong, cầu thăng ồ ạt.
Hai ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Nguyễn Văn Kiết và Nguyễn Văn Hợi là nòng cốt của Hiệp Thiên Đài lập công với Đạo từ thuỷ chí chung có uy tín hơn quí vị Thời Quân còn ở Sài Gòn chưa về hành Đạo, nhưng khi lên chức rồi bị khảo chịu không nỗi.
Giải pháp Hoà Bình Trung Lập để hoà giải dân tộc, Đức Hộ Pháp lúc mới đưa ra cả Chức sắc và tín đồ của Đạo hưởng ứng nồng nhiệt, ai cũng công nhận giải pháp đó là duy nhất, hợp tình hợp lý để tiết kiệm xương máu đồng bào, tránh cảnh huynh đệ tương tàn.Từ khi Đức Thượng Sanh về cầm quyền Đạo thì đường lối Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp bị cấm đoán vì cho là làm chính trị phi pháp y như lời tố cáo của chánh quyền Ngô Đình Diệm. Kể từ đó ai làm Hoà Bình đều gặp phải nhiều khó khăn như quyền Đời thì bắt bớ tù đày còn trong cửa Đạo bị thâu hồi quyền chức. Đó cũng là trở lực lớn ngăn bước tiến của con cái Đức Chí Tôn.
Nói đến Hoà Bình ai cũng sợ, trong các buổi đám tiệc ngồi chung một bàn với nhau, có một người nào đó nói chuyện Hoà Bình thì mấy người kia rút đi hết vì sợ tội lây, tội với Đời tội luôn với Đạo, nhưng lạ một điều nói chuyện chiến tranh thì không sao.
Trong cửa Đạo, chín chục phần trăm Chức Sắc ủng hộ Đức Thượng Sanh, vì theo Đức Thượng Sanh thì được yên ổn lại thêm được thăng thẩm còn theo Đức Hộ Pháp làm Hoà Bình thì bị quyền Đời bắt tù đày, còn trong Đạo bị mất chức.
Như trường hợp ông Thừa Sử Phan Hữu Phước bị giam ở Thủ Đức bị bệnh chết, gia đình lãnh xác đem về bị các anh lớn lên án theo Đức Hộ Pháp không cho quan tài vô Nội ô hành lễ.
Ông Sĩ Tải Trần Tấn Hợi bị giam ở Tân Hiệp (Biên Hoà) cũng bị bệnh chết trong năm này. Khi Đức Hộ Pháp hay tin cho làm lễ truy điệu được thăng Truyền Trạng tại Nam Vang.
Tuy về mặt hữu vi cũng đồng chung con cái của Đức Chí Tôn mà nỡ phụ phàng nhau như vậy, nhưng về mặt vô hình, trên hết có Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu cho đến các Đấng cao trọng như Đức Lý Giáo Tông, Đức Cao Thượng Phẩm, Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ và Cửu Vị Nữ Phật ủng hộ anh chị em thi hành Chánh Sách Hoà Bình của Đức Hộ Pháp.
Lễ sanh Huỳnh Công Chánh ở Sa Đec bị bắt đưa lên đề lao Gia Định giam chung mấy chục anh em, mùa Xuân năm 1957 Anh có sáng tác một bài thi như sau:
THI
Hai vai gánh nặng nợ non sông
Ai có xá chi thứ cái còng
Vì Đạo đâu màng đường khổ nhọc,
Theo Thầy nào ngại bước long đong
Mong sao một nước thành huynh đệ
Muốn thấy đôi bên được hiệp đồng
Tranh đấu Hoà Bình tròn bổn phận,
Đạo, Đời thành đạt đắc kỳ công.
Anh mời anh em hoạ nguyên vận cho vui trong cảnh tù nhưng anh em chưa hoạ thì mấy chục anh em được đưa đi an trí tại Thủ Đức.Được vài hôm, một đêm nọ anh Huỳnh Công Chánh nằm mộng thấy Đức Cao Thượng Phẩm về hoạ lại bài thi của anh, khi chợt lúc nửa đêm anh lấy bút viết lại liền, sợ để sáng quên đi. Bài thi của Đức Cao Thượng Phẩm như vầy :
THI
Trách ai chia xẻ nửa non sông,
Thống nhất đề ra cũng bị còng.
Đất Bắc Nga Hoa xua vũ khí,
Trời Nam Anh Mỹ hộ tiền đông.
Xưa kia Trịnh Nguyễn phân tranh khổ,
Nay lại Hồ Ngô cũng dị đồng
Chánh sách Hoà Bình Chung Sống của
Cao Đài Hộ Pháp ắt nên công.
Có một lần, mấy chục anh em bị giam ở khám đường Tây Ninh thời Thiếu tướng Lê Văn Tất làm Tỉnh Trưởng (Tây Ninh), một vị đạo hữu ở Bến Cầu chưa từng biết Đức Quyền Giáo Tông nằm mộng thấy ông già mặc áo xanh tự xưng “ Hội Đồng Trung đến thăm tụi bây đây ”.
Cụ Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa trong Đoàn tuỳ tùng với Đức Hộ Pháp cũng không trọn đức tin nơi Đức Hộ Pháp, nên khi cụ cầu cơ riêng ở Nam Vang, Đức Cao Thượng Phẩm về hỏi : “Em có biết ông Trời là ai không ?” Cụ Bảo Đạo trả lời : “Ông Trời là Đức Chí Tôn”. Đức Cao Thượng Phẩm nói : “Ông Trời là Hộ Pháp đó”, việc này Thánh Ý của Đức Cao Thượng Phẩm giúp cho cụ Bảo Đạo nên để trọn đức tin nơi Đức Hộ Pháp trong lúc lưu vong.
Trước khi thi hành giải pháp Hoà Bình của Đức Hộ Pháp, chúng ta tự hỏi giải pháp này có hại cho ai không ? Nhứt định là không, hoàn toàn có lợi cho tất cả mọi người. Thử hỏi người Việt Nam giết người Việt Nam có lợi cho ai ? Có lợi cho ngoại quốc.
Đường lối Hoà Bình của Đức Hộ Pháp đưa ra để tiết kiệm xương máu, tránh cảnh huynh đệ tương tàn, mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào chủng tộc, không phân biệt Tôn Giáo hay Đảng phái. Tại sao lại có đàn áp ? Tại họ có mưu đồ lợi dụng xương máu của đồng bào để củng cố địa vị và quyền lợi của họ.
Chúng ta đặt trọn đức tin vào đường cứu khổ, cứu thế của Đức Chí Tôn với tinh thần hy sinh phụng sự, càng bị đàn áp càng có giá trị thêm cao. Nếu mình không chịu nỗi gian khổ, mình không tham gia cũng không ai ép buộc.
Con đường cứu sinh nhân loại của Đức Chí Tôn đem đến tại thế mà mình chà đạp thì phải đi đến chỗ chết như Ngô Đình Diệm. Trong Đạo, Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng vận động Chức sắc chống lại Chánh Sách Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp bị phạm Thiên Điều, bị hành xác, bị giảm kỷ, chết trước tuổi thọ. Chức sắc hành Đạo tại địa phương có ông Lễ Sanh Ngọc Ngưu Thanh quyền Khâm Châu Đạo Bình Định mạnh mẽ tuyên truyền xuyên tạc đường lối Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp, lôi kéo một số Chức sắc và tín hữu ở miền Trung bị Đức Hộ Pháp lên án là tên phản Thầy phản Đạo.
Đức Thượng Sanh cầm quyền Đạo hoàn toàn đối lập với Đức Hộ Pháp.Việc làm “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược ” khiến cho tinh thần toàn Đạo hoang mang, mất đức tin. Nội tình của Đạo chia rẽ, không chung tâm hiệp chí làm việc đại nghĩa với dân tộc.Hồi còn làm thơ ký cho Đức Thượng Sanh, ông Truyền Trạng Hiểu có nói nhỏ với mấy vị Sĩ Tải làm Hoà Bình : “Đức Thượng Sanh định sa thải hết mấy anh, nhưng nhờ Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ không cho, nói rằng mấy vị Sĩ Tải đó là của Hộ Pháp, cứ để đó ”.
Đến giai đoạn Đạo là nạn nhân của thuyết Hoà Bình Chung Sống của toàn thiên hạ, chính Đức Hộ Pháp làm phận sự Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn giao phó, Ngài phải chịu khổ não hơn ai hết. Ngài phải lưu vong nơi xứ người lại bị làm khó dễ, bị khinh rẻ. Ngài đưa ra giải pháp Hoà bình được Liên Hiệp Quốc và nhiều nước trên thế giới tán thành khen ngợi, nhưng trái lại trong lòng đất Việt Nam thì bị Chính Phủ Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp.
Cái trở lực lớn lao nhất và chua xót nhất là nơi cửa Đạo trong hàng Thánh Thể của Đức Chí Tôn chẳng những không đồng tình với Đức Hộ Pháp mà còn chống đối, ngăn cản bước tiến của toàn Đạo.Đức Hộ Pháp có nói “Cái khổ mà Ngài phải chịu với quyền đời tuy dữ dội nhưng chỉ có một, còn cái khổ mà Ngài phải chịu trong nội bộ của Đạo thì gấp mười lần” .
Khi Đức Hộ Pháp đưa ra Chánh Sách Hoà Bình Chung Sống Ngài phải gánh thêm cái khổ lớn hơn nữa.
Buổi đầu việc làm còn phức tạp, ai lên được Nam Vang kể như là liên lạc viên cũng thời một việc mỗi người nhận xét mỗi khác làm cho Đức Hộ Pháp khó giải quyết vấn đề.
*
VỤ VĂN HÒA VUI BỊ BÁO CÁO LÀ
CÔNG AN LÊN ĐỨC HỘ PHÁP
Trường hợp ông Văn Hoà Vui, cựu Đại Uý Quân đội Cao Đài, trở về Đạo do Thánh lịnh 704 của Đức Hộ Pháp đang tham gia hoạt động Hoà Bình với anh em ở Toà Thánh, nhưng có người báo cáo lên Đức Hộ Pháp nói Văn Hoà Vui là Công An. Đức Hộ Pháp hồi đáp bảo đảm với anh em Văn Hoà Vui không phải là công an mà công an của Ngô Đình Diệm chiếm đóng Nhàn Du khách sạn “Bàu Cà na“ có tên Năm Vui.
Xin trích lục Thánh Thơ số 1 HP/HN ngày 14-9-Mậu Tuất (DL 26-10-1958) của Đức Hộ Pháp bảo đảm cho Văn Hòa Vui:
Em Chơn Kim,
Qua có được tờ phúc sự của Ban Thống Nhứt nói họ muốn tìm em đặng liệu thế thống nhứt, nhưng em vẫn tìm thế lẫn tránh không muốn gặp họ. Em cho Qua hiểu vì lý do gì mà em nghi kỵ mấy đứa nó – Qua cho em hiểu rằng em nghi cho Vui phản bội đem công an của Ngô Đình Diệm tìm bắt mấy em. Điều ấy Qua dám quả quyết rằng em nghi lầm, Vui chẳng hề khi nào phản mấy em. Bằng cớ là lúc Nguyễn Thành Phương phản bội đem binh về chiếm Toà Thánh cho Ngô Đình Diệm thì lúc ấy Vui còn ở trong rừng theo Quân Đội Liên Minh đem bổn bộ của nó về bảo vệ Toà Thánh đương đầu cùng Quân đội Nguyễn Thành Phương. Lúc ấy Qua không hề biết nó, nên Qua không có để một lời gì cậy nương nó. Còn nó thì trung thành cùng Đạo nên tự ên về đảm đương phận sự bênh vực Toà Thánh, hiệp cùng Trụ, Kiên đem len lỏi về Nội ô Toà Thánh đặng phục kích giữ gìn Toà Thánh cho tới ngày Qua xuất ngoại. Qua tưởng nó cũng đầu thú cùng Quân đội của Vinh làm Quân Đội Quốc gia cho Diệm chớ không dè nó trở về cùng Đạo đặng chịu khổ cùng mấy em. Một đứa tâm như thế thì không có lý do gì mà phản bội mấy em đặng phá huỷ cả công nghiệp của nó dầu bị muôn gian lao khổ hạnh.
Qua nghe rõ lại tên Vui của nó đã bị nghi ngờ vì trong Công an của Ngô Đình Diệm nơi Nhàn Du khách sạn có tên Đội Vui thường ruồng bố bắt bớ Đạo nên người ta lầm Văn Hoà Vui với tên Đội Vui ấy mà gắn cho Văn Hoà Vui là phản bội, dắt công an trở lại bắt bớ anh em nó.
Em Chơn Kim
Em nên quan sát kỹ lưỡng và xem xét cho Vui nhờ kẻo tội nghiệp. Còn về vụ tên Dội là đứa khác chứ không phải con của Giáo sư Đến mà làm cho Qua đã lầm tưởng rằng Vui đem tên Dồi là con của Giáo sư Đến vào làm Ủy viên của Ban miền Trung đặng làm gián điệp.Qua nói thiệt với mấy em vì các điều hiểu lầm ấy làm cho em đã nghi kỵ mấy anh em của em trong cơ quan của đại cuộc. Qua nói thiệt với em rằng Qua bảo đảm cho Văn Hoà Vui rằng chẳng khi nào Qua tin nó rằng phản bội. Em tự giải và tìm thế hiệp nhứt cùng mấy anh em của em đặng hiệp sức lo cho tương lai vận mạng đồng bào và Tổ Quốc.
Qua chấp thuận cho mấy em nghỉ việc bớt hoạt động cho tới ngày nào tình thế ổn định rồi sẽ tái định phận sự mấy em trở lại. Qua có đặng số tiền gởi và đã có biên nhận gởi theo đây trả lại mấy em làm tin và để lời cám ơn mấy em.
Trước khi Qua dứt lời, Qua ban ơn cho mấy em và cầu nguyện Đại Từ Phụ, Đại Từ mẫu và các Đấng Thiêng Liêng phù hộ mấy em đủ quyền hành thi hành phận sự cứu nước cứu dân. Kiêm Biên, ngày 14 tháng 9 Mậu Tuất
(DL 26-10-1958)
HỘ PHÁP
Cái khổ tâm của Đức Hộ Pháp về những anh chị em bị bắt tù tội vì tham gia hoạt động Hoà Bình, số tiền của anh em gởi lên giúp Ngài, Ngài truất ra gởi lại để thăm nuôi anh chị em bị tù.Ngài tận tình dẫn dắt anh em từ bước nói rõ những việc cho anh em hiểu biết tỉ mỉ để vững đức tin, nhưng Ngài để cho anh em tự quyết định, nếu đồng ý với Đức Ngài thì tiếp tục còn không thì thôi.
Đức Hộ Pháp cũng thường có lời an ủi anh em trong lúc khổ nạn. Lúc mấy chục anh chị em bị giam ở Thủ Đức, Sĩ Tải Nguyên có tiếp được bức thơ của Đức Hộ Pháp từ Nam Vang gởi đến Thủ Đức như sau:
Em Sĩ Tải.
Qua đặng phúc sự của Hoà Bình Giáo Hội Trung ương tin cho Qua hay rằng mấy em vẫn còn bị giam cầm nơi Thủ Đức mà ước mong thấy đặng tin tức của Qua, nên Qua viết thư này do nơi tay của bạn em đem đến giao tận tay cho em đặng trao lại.Qua mong ước rằng bức thư sẽ thay mặt cho Qua đến viếng mấy em nơi ngục thất. Qua vẫn an ổn và mạnh khoẻ như thường. Già có hơi yếu một chút chớ không bệnh hoạn chi lắm, có thể còn sức lực chịu khổ hạnh cùng Đạo kỳ này cũng như kỳ trước đặng.Mấy em cứ an lòng.
Ở thế gian này không có chi tội hơn là làm cho trở ngại sự thương yêu, nhưng chỉ là hành vi vô ích và kết cuộc làm cho sự thương yêu của bất cứ là nạn nhân thêm nồng nàn và tình yêu thêm mạnh mẽ hơn nữa mà thôi.Ngày sum họp của ta ngày kia sẽ chỉ rõ điều ấy.Mấy em ráng chịu khổ hạnh ít lâu nữa rồi quyền Thiêng Liêng sẽ định đoạt.Ta thấy cả hành vi của ta là thuận nhân tâm thuận thiên ý là đủ.
Hộ Pháp
(ký tên đóng ấn)
Từ ngày ông Hồ Bảo Đạo ra lịnh cho Hoà Bình Giáo Hội chuẩn bị khăn gói lên đường ra vĩ tuyến 17 tụng kinh cầu nguyện Hoà Bình. Đức Thầy được tin liền ra Thánh Thơ 51 HP/HN, đề ngày 2-10 Đinh Dậu ngăn chặn không cho thi hành.
Và Đức Thầy dạy : Từ đây mấy em phải đợi mạng lịnh chính mình của Qua truyền dạy dầu chuyện lớn hay nhỏ.
*
LỜI PHÊ CỦA ĐỨC HỘ PHÁP VỀ
CẦU PHONG VÀ CẦU THĂNG
Ngày 1-11-Đinh Dậu (1957) con Mang (Mễn) đem tin tại Nội Chánh đã rõ rằng cơ khảo Đạo do căn nguyên nơi Nội Chánh. Nếu ta tin bởi quyền năng Thiêng Liêng thì ta có thể nói rằng: Nếu ta không có quyền năng vô đối của Đức Chí Tôn thì Chức sắc Cửu Trùng Đài nơi Nội Chánh bị nạn tiêu diệt mà chớ chẳng phải như thế mà thôi.
Vậy Bần Đạo nói: Cơ khảo Đạo ngưng cả quyền tước Chức sắc Thiên Phong là cốt trừ cái nạn diệt vong của Nội Chánh, Bần Đạo khuyên họ ráng chịu cho đến ngày Bần Đạo trở về.
***
Năm 1958
Nhơn dịp đầu xuân Mậu Tuất 1958
Có liên lạc lên Nam Vang trước chúc xuân Đức Hộ Pháp sau báo cáo anh em mới được trả tự do 96 vị.
Nhân tiện anh em Sĩ Tải thay mặt tất cả anh chị em mới được trả tự do kính dâng lên Đức Thầy lời chúc xuân vạn thọ và cầu xin Đức Thầy cho anh em tiếp tục nhiệm vụ nhờ anh em liên lạc chuyển đệ.
Một tuần lễ sau Đức Thầy từ Nam Vang gởi về Thánh Thơ số 10 HP/HN đề ngày 5 tháng Giêng năm Mậu Tuất, có đoạn Thầy dạy
“Mấy em mới được trả tự do hỏi Qua đặng tái lãnh phận sự, thì theo Qua tưởng nên cho họ an nghỉ ít lâu đặng dưỡng sức. Khi gần trót năm bị tù tội ngục hình, thế nào cũng bị tiều tuỵ vì bị đánh đập trong lúc giam cầm. Nếu họ không bị bệnh hoạn thì họ cũng bị nhọc sức lao thân trong trường khổ hạnh, chính mình Qua đã trót bị đồ lưu nên đủ kinh nghiệm biết điều ấy, nếu chính quyền Ngô Đình Diệm bắt họ một phen nữa thì họ cũng bị nó hành hạ một cách tàn nhẫn và dã man mà họ chịu không nỗi nữa.
Trường tranh đấu cách mạng dạy hay hơn hết là tù tội ngục hình. Kẻ nào đặng còn trui cứng ráng chịu nỗi gian lao thì họ thêm năng lực dạn dĩ tranh đấu. Không có một quyền lực cường bạo nào làm cho lay động tinh thần họ nỗi. Nên họ trở thành hoàn toàn cách mạng. Còn như kẻ thường tình khi bị tù tội ngục hình thì họ trở nên nhát nhúa hèn yếu biến thành mềm như trái chuối. Mấy em để tâm quan sát coi ai còn can đảm ai yếu hèn, riêng cho Qua biết đặng Qua liệu phương sử dụng“.
*
XEM QUA THÁNH THƯ SỐ 6 HP/HN đề ngày 29-11 năm Đinh Dậu.
Đức Thầy nhận xét trong Ban vận động miền Nam bị người ngoài xen vào nội bộ, nên chấp thuận đề nghị của anh em Sĩ Tải đã xin phép tiếp tục phận sự đường lối Đức Thầy thành lập Ban cố vấn để giúp đỡ cho Ban vận động miền Nam Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình GH.
THÁNH THƯ 13 HP/HN đề ngày 1-4-Mậu Tuất, có đoạn :
Và các bạn của nó (Sĩ Tải) trước kia là người khai mở phong trào Hoà Bình Chung Sống mà hôm nay mấy em tiếp tục tranh đấu cho thành công, nếu chúng nó muốn trở về đảm đương phận sự cũ thì Qua tưởng không chi may mắn cho mấy em bằng, vì chúng nó là người khai đường mở lối. Mấy em nên học hỏi nơi chúng nó và mấy em nên cầu chúng nó dìu đường dẫn ngõ.Ttrước khi quyết định như thế, mấy em nên hỏi lại coi chánh quyền Ngô Đình Diệm còn theo dõi dòm ngó hành động chúng nó nữa không, đặng tránh mọi áp bức cho chúng nó chịu khổ hạnh như trước …
Từ Nam Vang Đức Hộ Pháp quyết định thành lập Ban Thống Nhất Chánh Sách Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội để điều khiển hai cơ quan do Thánh thơ số 15 HB/DV đề ngày 9-5-Mậu Tuất (25-6-1958).
Thánh Thơ có đoạn như sau :
Đây Qua cho mấy em biết thành phần của Ban Thống Nhất do Qua lập thành đặng điều khiển cả hai cơ quan Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội như dưới đây :
- Cố vấn : các Sĩ Tải.
- Trưởng ban : Minh Hiền
- Phó Trưởng ban : Minh Tá (Minh Khải)
- Tổng Thư ký : Minh Trí
- Uỷ viên tuyên huấn : Thanh Mừng
- Uỷ viên tổ chức : Trực Thuỷ và Văn Hoà Vui
- Uỷ viên kiểm soát : Minh Liêm
- Uỷ viên liên lạc : Giáo Thiện Ân (sau đổi Lễ Sanh Minh).
Còn Uỷ viên tài chánh thì Qua để quyền cho mấy em lựa chọn miễn mấy em lựa người đủ năng lực và biết hoạt động cho có tài chánh.
Các tổ chức Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội từ trước đến giờ vẫn giữ y như cũ chỉ có các cơ quan cầm quyền của hai tổ chức phải tùng quyền của Ban Thống Nhứt mà hành sự cho đến ngày có lịnh mới.
Ban Thống Nhứt lãnh lịnh chưa đầy một tháng, Ban Cố Vấn giúp đỡ thảo luận chương trình hành sự và nhiệm vụ của các uỷ viên, chuyển đệ lên Đức Thầy được sự chấp thuận do Thánh Thơ số 16 HP/HN đề ngày 1-6- Mậu Tuất có đoạn như sau :
Em Minh Hiền, Thầy chấp thuận lời xin và từ đây nên giữ mình cho lắm tới ngày Thầy trở về, con dặn Son, Tá, Được, Mừng ráng làm phận sự đường lối tương lai mà Thầy trò ta đã vạch sẵn từ trước. Thầy chẳng buổi nào mà quên mấy em, Thầy biểu đánh máy trọn cả chương trình của Uỷ ban Thống Nhất và ký tên gởi về đây cho cả Hoà Bình Thống Nhất đủ uy tín làm việc, ráng thi hành y theo Bản chương trình ấy, đừng sửa cải bởi nó hay và Thầy rất hài lòng lắm.”
Vì hai cơ quan Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội rất lủng củng chia rẽ nội bộ và thắc mắc phận sự của Uỷ ban Thống Nhất.
Đức Thầy có dạy một đoạn : Sản xuất ra cơ quan Hoà Bình Giáo Hội là do Hồ Thái Bạch con ông Hồ Bảo Đại nghe Qua thuyết minh rằng thoảng như Nam Bắc một bên nào quá khích gây ra chiến tranh nội loạn tương tàn tương sát cùng nhau không phương hoà giải được thì Đạo phải làm thế nào.
Hồ Thái Bạch bởi nghe thuyết ấy mà muốn tạo hậu thuẫn mạnh mẽ cho Hoà Bình Chung Sống, mới trở về Toà Thánh hội hiệp mấy em trong cửa Đạo Cao Đài lập thành Hoà Bình Giáo Hội. Nói rõ Hoà Bình Giáo Hội tạo thành cốt làm hậu thuẫn cho Hoà Bình Chung Sống. Nó còn bày điều là những người Hoà Bình Giáo Hội phải gõ mõ tụng kinh cầu an cho toàn thiên hạ. Nó đã nhồi sọ thế nào mà cả thảy mấy em trong Hoà Bình Giáo Hội đều mong mỏi ra vĩ tuyến 17, khỗ nỗi ông Hồ Bảo Đạo là cha của cậu rất tán thành điều ấy.
Mấy em cứ nói thẳng lại với cơ quan Hoà Bình Giáo Hội rằng Qua rất nên bất mãn về tổ chức ấy, nhưng rủi đã lập thành Qua không nỡ giải tán nó, mà Qua nói thiệt rằng nó là cơ quan không hữu ích vào đâu tất cả lại còn gây nên tổn hại cho Đạo. Biểu mấy em hội hiệp lại với nhau rồi tự phê bình mình biết hay biết dở, rồi phúc sự cho Qua biết sự quyết định của mấy em coi cơ quan ấy còn tồn tại hay chăng.”
Thánh thơ trên đây Đức Thầy gởi về cho hai Ban Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội. Họ thấy mất quyền trực tiếp lên Đức Thầy rồi sinh ra ganh ghét, bàn tán xôn xao, nên công an theo dõi và bắt hết Ban Thống nhất.
Đồng thời trước tình thế xáo trộn Đạo Đời nơi tỉnh Tây Ninh, chính phủ Ngô Đình Diệm phái một vị sĩ quan liên lạc đến nhờ Ngài Hiến Pháp và Phối Sư Non, nhờ hai cụ giới thiệu những người có uy tín trong Đạo đến để bàn luận công việc cứu Đạo cứu Đời. Ngài Hiến Pháp liền giới thiệu các anh em Sĩ Tải vừa mới ra tù.
Do lịnh Tổng Thống phủ, vị sĩ quan liên lạc là Trung Uý Nhiều và vị Đầu tộc Chợ Lớn là Lễ Sanh Đà cầm thơ giới thiệu của Ngài Hiến Pháp lên Toà Thánh bí mật rước mấy vị Sĩ Tải Nguyên, Nhung, Hưởng. Thơ của Ngài Hiến Pháp dạy mấy em Sỉ Tải xuống Sài Gòn gấp để tìm phương cứu Đạo.
Mục đích các điểm đàm luận như sau :
Sau khi giúp đỡ đầy đủ ý kiến để chánh phủ chỉnh đốn mọi việc, phiên họp kéo dài hai ngày, anh em Sĩ Tải được đưa ra xe đò trở về Toà Thánh. Mặc dù anh em Sĩ Tải đã từ chối nhiều lần một cách dứt khoát, nhưng thỉnh thoảng vị sĩ quan lên Toà Thánh thuyết phục mấy vị Sĩ Tải hợp tác với chánh phủ thì sẽ được trọng đãi nồng hậu về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Sau rốt Tổng Thống phủ nhờ các vị Sĩ Tải trả lời bằng văn kiện :
-Tinh thần tín đồ Cao Đài đối với Đức Hộ Pháp.
-Tình hình Cộng sản vùng Toà Thánh Tây Ninh
Mấy vị Sĩ Tải trả lời :
1. Tín đồ Đạo Cao Đài có 70 phần trăm đặt trọn đức tin nơi Đức Hộ Pháp và hưởng ứng mạnh mẽ Chính Sách Hoà Bình Chung Sống của Đức Ngài, 30 phần trăm còn lại không phản đối hoặc không tin tưởng Đức Hộ Pháp, nhưng họ cầu an để sinh sống.
2. Vùng Toà Thánh Tây Ninh toàn là tín đồ Cao Đài thì không Cộng Sản. Điều cần yếu là chính quyền phải có nhân đạo, có chính nghĩa để thâu phục lòng dân thì không có Cộng sản, trái lại làm mất lòng dân là rước Cộng sản đến.
Trong tuần ông Nhung đại diện các Sĩ Tải xuống Sài Gòn để gặp ông Nhu. Ông Nhu cho biết rằng ông vẫn kính trọng Đức Hộ Pháp và mong muốn ông Nhung hiệp tác với chính phủ để cứu nước. Ông Nhung cho biết rõ sự bất mãn của dân chúng đối với chính quyền và trình bày đường lối Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp với tinh thần xây dựng miền Nam có lợi cho chánh phủ, chớ không có ý đả phá hay tranh giành quyền hành như người ta đã xuyên tạc.
Khi chia tay Ông Nhu gởi lời thăm Đức Hộ Pháp
Việc tiếp xúc của anh em Sĩ Tải trên đây có sự phúc sư lên Đức Thầy .
*
Thánh thơ số 15 HP/HN đề ngày 9-5-Mậu Tuất.
Đức Thầy có dạy:
Qua có đặng phúc sự của em Sĩ Tải Nguyên, Nhung, Hưởng về vụ Trung tá Châu cậy Hiến Pháp mời mấy em xuống Sài Gòn, vì xe chật nên không thể rước Giảm, đi có 3 đứa Nguyên, Nhung, Hưởng xuống Sài Gòn mà thôi.Xuống đến nhà Trung tá thì có Hiến Pháp và Phối Sư Ngọc Non Thanh. Hiến Pháp có nói lại với mấy em rằng hiện chánh phủ Ngô Đình Diệm muốn gở rối và kiếm phương chuộc tội. Do đó họ muốn cậy mấy em giúp họ dùm để đủ bằng cớ về hành vi bất hợp pháp của chính quyền đối với Đạo, hầu chính phủ chỉnh đốn bộ máy địa phương.
Thật sự nếu còn công an của chánh quyền Ngô Đình Diệm ở tại Toà Thánh chiếm đóng tại Nhàn Du khách sạn thì chính quyền Ngô Đình Diệm còn cầm quyền khủng bố Đạo ngày ấy; thì Qua nhất định không trở về Toà Thánh. Nếu không nói rằng Qua ngồi chờ lấy đủ tài liệu đặng đủ bằng cớ đem chánh phủ Ngô Đình Diệm độc tài hại Đạo ra kiện trước Toà quốc tế.
Mấy em không nghi kỵ gì hết, ở giữa cửa địa ngục có Quan Âm Bồ Tát thì ở giữa kẻ hung bạo may ra cũng có người hiền lương đạo đức, biết đâu giữa chánh quyền Ngô Đình Diệm là chánh quyền tàn ác lại không xuất hiện ra những kẻ chơn thật mến Đạo, mến công lý, kín đáo giúp mấy em tìm phương cứu Đạo.Mấy em đủ tri thức, đủ lịch lãm thế tình, đủ nhận xét và đề phòng coi họ có thật tâm giúp mình không. Hay là họ lợi dụng mình để tìm tính mưu mô hại lại mình, theo tư tưởng của mấy em trong phúc sự là đúng.
Trong khi anh em Sĩ Tải được Ngài Hiến Pháp triệu xuống Sài Gòn tham khảo luận bàn cùng chánh quyền của Tổng Thống phủ, tình hình khủng bố Đạo giảm bớt. Trung uý Phước Trưởng ty công an bị rút đi, Trung uý Võ Văn Hai đến thay thế. Và chuẩn bị dời Ty công an tại Nhàn Du khách sạn ra Tây Ninh; các cơ quan quận, xã cũng đều thay đổi.
Sau Ban Thống Nhất do Minh Hiền, Trưởng ban Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội bất đồng ý kiến đổ bể bị bắt, còn lại Minh Khải (Tá) và Văn Hoà Vui len lỏi nối dây liên lạc với hai ban Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội để chỉnh đốn công cử Ban dự khuyết.
Anh em Sĩ Tải Ban cố vấn tìm mọi cách để qui họp anh chị em Ban miền Nam Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội để dung nạp vào Ban Thống Nhất, để điều hoà sứ mạng của Đức Thầy.
Nhưng Lập Bửu Hoà Bình Thương phế binh hội, cũng gởi thơ lên Đức Thầy xuyên tạc hành vi của ông Minh Hiền và Văn Hoà Vui, chị Ba Nương (Chơn Kim) Trưởng Ban văn phòng Hoà Bình Chung Sống miền Nam cũng phúc sự lên Đức Thầy nhiều điều thất thiệt đã phá Ban Thống Nhất.
Nên Đức Thầy gởi về các Thánh thơ số 17 HP/HN đề ngày 6-6-Mậu Tuất, Thánh thơ số 18 HP/HN đề ngày 25-6-Mậu Tuất, Thánh thơ số 19 HP/HN đề ngày 20-7-Mậu Tuất gởi chị Chơn Kim, Đức Thầy đã đính chánh về việc nội bộ bị xáo trộn và nghi hoặc nhau, do ngoại quyền xen vào nội bộ, v.v
Thánh Thi số 21 HP/HN đề ngày 14-9-Mậu Tuất. Đức Thầy có dạy :
Đến hôm nay, hễ Qua nhớ lại cuộc biến thiên trong nội bộ mà phần đông mấy em trong Ban Thống Nhất đã bị chánh quyền Ngô Đình Diệm bắt giam thì Qua thê thảm không cùng vì xét ra bởi nội loạn mà mấy em nghi kỵ lẫn nhau mới bị chúng làm mưu phản gián, vì cớ mấy em mới bị nạn. Qua thấy rõ ràng hành vi của mấy em đã thi thố một cách bừa bãi vô ý thức, không đề phòng.
Ban cố vấn nhận thấy Ban Hoà Bình Chung Sống và Ban Hoà Bình Giáo Hội bất tùng mạng lịnh Ban Thống Nhất, bổ khuyết nên giao trọn quyền c/ho anh Minh Khải và chị Chơn Kim hội họp cùng nhau để chọn cử Ban Thống Nhất do Hoà Bình Chính Sách và Hoà Bình Giáo Hội đề cử. Ban Thống Nhất này có 16 vị trong đó có nhiều vị đề cử mà không hay biết, nên có 4 bức thơ gởi cho Ban cố vấn chuyển lên Đức Thầy từ chối nhiệm vụ,và ông Nhựt Quang, Ban cố vấn, đệ trình lên Đức Thầy ba phúc sự về tình hình nội bộ quá xáo trộn.
Sau khi chuyển đệ nội vụ công cử lên Đức Thầy và các văn kiện đầy đủ Đức Thầy xem xong gởi về.
Thánh thơ số 23 HP/HN đề ngày 15-11-Mậu Tuất có đoạn :
Chiếu theo vi bằng và 17 Uỷ nhiệm thơ của mấy em nói rằng hội nhóm nhau công cử Uỷ ban Thống Nhứt, thì ra, ngoài bức thơ gởi lên cho Qua do mấy em Chức Sắc Phước Thiện và Cửu Trùng Đài đã lén cho Qua biết rằng mấy em không có hội nhóm chi hết. Chính mình họ cũng bị mấy em đặt cử mà không có sự ưng thuận của họ. Khi xem mấy bức thư ấy Qua thấy rằng trong sự lủng củng của mấy em nó đã đưa mấy em đến đoạn đường bất hoà cùng nhau, phản bội cùng nhau mà chính mình Qua cũng không ra khỏi lẽ ấy. Nói trắng ra, nghĩa là mấy em lường gạt với sự dối trá, không còn chơn thật cùng Qua như trước nữa …
Qua xin mấy em phải tự giác và tự hoà với nhau trước, tự phê bình và chỉnh đốn nội bộ y theo khuôn viên Qua đã định, không nên dối trá và lường gạt lẫn nhau, chừng ấy mấy em mới hội nhóm cùng nhau cho có mặt đầy đủ đặng công cử Ban Thống Nhất, rồi mới gởi danh sách cho Qua chớ đừng làm như mấy lần trước, như mấy em toan phương gạt gẫm Qua. Qua gởi trả lại mấy Uỷ nhiệm thư của mấy em chớ không ký tên gì hết, đặng đợi mấy em chỉnh đốn lại. Mấy em phải cố tâm sửa cải nhứt là Chơn Kim bên Nữ phái mà Qua đã thấy dường như Chơn Kim muốn nắm cho kỳ đặng toàn quyền của nam phái …
Mấy em nói lại với Lập Bửu biểu nó cũng nên tảo thanh nội bộ và phải tìm phương nào làm cho Việt Nam Bảo Vệ Hoà Bình Thương phế binh hội có một lập trường thiết thực và chính qui hiện tại chớ đừng nên từ trước đến giờ chỉ là dựa vào mé một cơ thể vậy thôi..
Anh em Sĩ Tải nhận thấy nội bộ của đường lối Hoà Bình phần nhiều háo thắng, củng cố địa vị gây phe phái ham quyền chức bất chấp lịnh của Đức Thầy, hoặc ỷ công khi lịnh, làm cho Đức Thầy bận tâm lo liệu, phần thì đối ngoại phần thì đối nội, Đạo quyền lủng củng, đường lối rối ren (Vì có bàn tay bí mật xen vào phá rối gây chia rẻ nội bộ). Nên anh em Sĩ Tải quyết định đề nghị lên Đức Thầy :
(Phúc sự đề ngày 21-11-Mậu Tuất )
Thánh thư số 24 HP/HN đề ngày 23-11-Mậu Tuất như sau :
Trước khi Qua đựơc tờ phúc sự của mấy em thì Qua đã hiểu phỏng rằng mấy em đã bị vào đường lủng củng nội bộ do nơi lòng nghi kỵ lẫn nhau, không chơn thành trọn vẹn theo đường lối mà Qua hằng khuyên mấy em phải hiểu rõ là phải giảm thù thêm bạn mới đi đến con đường thắng lợi sớm chừng nào Qua càng mau về hội hiệp cùng mấy em chừng nấy.
Qua thấy bằng cớ quả quyết rằng mấy em không để trọn trí não tin tưởng điều đó, thoảng như Ngô Đình Diệm hôm nay còn cầm quyền sanh sát đồng bào của mấy em nơi miền Nam là do nơi đó, mà làm cho mấy em trở thành bất lực nên, chánh quyền Ngô Đình Diệm mới tồn tại :
Vậy Qua quyết định y lời mấy em xin:
Mấy em có tên sau đây của chính mình Qua lựa chọn đặt cử :
1. (Giải Khổ) Giáo Hữu Dự
2. (Trung Hiền ) Giáo Sư Mỹ
3. (Ngôn Thiện ) Đạo Nhơn Phú
4. (Hiếu Thiện ) Đạo Nhơn Đại
5. (Văn Thiện ) Chí Thiện Trạch
6. (Minh Tươi ) Chí Thiện Tươi
7. (Thành Kinh ) Giáo Hữu Huệ
8. (Thanh Nhàn ) Giáo Hữu Sơn
9. (Thanh Quang ) Sĩ Tải Nguyên
10. (Phi Hùng ) Giáo Hữu Phước
11. (Thanh Bạch ) Lê Văn Hai.
Qua để 11 em mà Qua đã lựa chọn trên đây rồi mấy em hội nhau định phận sự cho mỗi người. Qua cho mấy em được trọn quyền xem xét sở năng của mỗi người với kỳ hạn trong 3 tháng do nơi Uỷ nhiệm thư của mấy em gởi lên cho Qua phê chuẩn. Nếu trong thời gian 3 tháng mà có người bất lực không làm tròn nhiệm vụ thì mấy em phúc sự cho Qua thâu Uỷ nhiệm thư lại và chọn lựa người khác công cử thay thế.
Mấy em nên cho Chơn Kim (Hương Nương ) biết rằng những người Qua đã lựa chọn dầu không vừa lòng thì chỉ tuân theo mạng lịnh của Qua mà thôi. Hễ còn sửa cải thì Qua cho nó nghỉ trọn vẹn ra khỏi Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội. …
Vì Thánh Thư số 24 HP/HN, anh em Sĩ Tải mời tất cả quý ông trên đây đến công cử nhiệm vụ như sau :
1. Ông Giải Khổ: Trưởng Ban Thống Nhất
2. Ông Thanh Quang: Phó Ban
3. Ông Thành Kỉnh: Tổng Thư Ký
4. Ông Thanh Nhàn: Tuyên Huấn
5. Ông Phi Hùng: Tổ chức
6. Ông Văn Thiện: Tài chánh
7. Ông Thanh Bạch: Liên lạc
8. Ông Trung Hiền: Cố vấn
9. Ông Thiện Ngôn: Cố vấn
10. Ông Hiếu Thiện: Cố vấn
11. Ông Minh Tươi: Cố vấn
Sau khi công cử xong phúc sự số 1/PS. Ban Thống Nhất kèm theo vi bằng số 1/VB.B.T.N đề ngày 29-11-Mậu Tuất và 11 Uỷ nhiệm thư dâng lên Đức Thầy nhờ sự phê chuẩn.
Đức Thầy gởi về Thánh Thơ số 25 HP/HN đề ngày 6-12-Mậu Tuất:
Từ đây về sau Chơn Kim có muốn phúc sự cho Qua phải do nơi BTN chuyển đệ chớ không nên gởi thẳng như trước đến giờ. Muốn cho mấy em khỏi lủng củng nội bộ nên Qua nhất định như thế. Còn các Ban Miền Nam Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội thì phải làm việc trực tiếp với Ban Thống Nhất.
Luôn đây Qua giao hồi lại 11 Uỷ nhiệm thư của Uỷ viên Ban Thống nhất đề ngày 6-12-Mậu Tuất. Qua muốn cho Minh Khải lãnh phận sự cố vấn Ban Thống Nhất.
Trước khi lãnh Uỷ nhiệm thư thi hành phận sự, ông Giải Khổ – Trưởng ban Thống Nhất mời hết anh em trong Ban Thống nhất và Ban cố vấn cùng đại diện Ban miền Nam Hoà Bình Chung Sống và Hoà Bình Giáo Hội đến tư gia dự bữa giỗ trá hình để cho tất cả anh chị em lập minh thệ thọ lãnh phận sự.
Ông Giải Khổ chỉnh đốn các Ban bộ và ra các văn bản củng cố tinh thần đoàn kết tích cực phục vụ, giữ vững đức tin và lập trường đường lối của Đức Thầy, tránh nghe những tin đồn thất thiệt hoang mang.
*
Thánh thơ số 26 HP/HN ngày 24-12- Mậu Tuất như sau :
Mấy em nhớ thi hành y theo mạng lịnh của Qua. Mấy em nào không đảm đương phận sự thì mấy em tuỳ tiện cho họ nghỉ, đừng để lủng củng nội bộ như từ trước đến giờ mà khó bề thi hành phận sự.
Một phen nữa Qua giao trọn quyền cho mấy em toàn quyền chỉnh đốn Ban bộ. Bất kỳ nơi nào đường lối của mấy em bị trở ngại mấy em đặng trọn quyền dẹp an chẳng kể với một phương pháp nào.
***
Năm 1959
ĐỨC HỘ PHÁP BỊ TRUẤT PHẾ LẦN THỨ BA
Những ngày cuối cùng của cuộc đời Đức Hộ Pháp còn bị phản phúc dữ dội.Hội Thánh buộc Chức sắc lập minh thệ không làm chính trị phi pháp (ám chỉ làm Hoà Bình Chung Sống) nhưng ông Ngô Đình Diệm không đồng ý vì cho rằng lời minh thệ không làm chánh trị phi pháp là không rõ ràng mà buộc mỗi người phải lập thệ không tùng mạng lịnh của Đức Hộ Pháp.
Các anh lớn ra lịnh cho Chức sắc, Bàn trị sự và cả tín đồ lập minh thệ lại. Còn Khâm Châu và Đầu Tộc Đạo ở các địa phương cũng phải lần lượt kẻ trước người sau về Toà Thánh để lập thệ lại có chánh quyền chứng kiến.
Khi Đức Hộ Pháp hay tin này Ngài nói : Chúng nó phạm Thiên Điều hết rồi, thôi để tao chết cho chúng nó khỏi bị tội.
Rồi kế tiếp Đức Hộ Pháp qui Thiên. Bức điện tín từ Nam Vang gởi về báo tin cho Hội Thánh hay Đức Hộ Pháp đã qui Thiên, khi được tin này thì việc lập thệ lại ngưng luôn.
Đến ngày sau cùng của cuộc đời, Đức Hộ Pháp vẫn còn bị phản phúc cho đến nỗi trong dòng họ Đức Hộ Pháp có người cháu là Phạm Trung Hiếu cũng phản Ngài luôn. Nguyên do Đức Hộ Pháp từ Nam Vang gởi một bức thư cho Phạm Trung Hiếu ở Chợ Lớn nhờ ông Sĩ Tải Ngời ở Toà Thánh đem đến. Nhưng vì không biết nhà nên mới nhờ ông Giáo Hữu Thượng Liền Thanh Khâm Châu Đạo Chợ Lớn hướng dẫn. Khi được thư, ông Hiếu xem với vẻ giận dữ và không cho hai ông này ra khỏi nhà đồng thời báo cho công an của Ngô Đình Diệm biết và bắt hai ông. Ông Liềng (Châu Liềng) bị giam và chết luôn trong khám.
Đức Thượng Sanh ra Đạo lịnh ngưng quyền chức Giáo Hữu Thượng Liềng Thanh.Được tin này Đức Hộ Pháp liền ra lịnh huỷ bỏ và Giáo Hữu Thượng Liềng Thanh được phục hồi lại quyền chức bởi ông không có tội tình chi. Việc này dư luận cho rằng có bàn tay của chính quyền xen vào vì bức thư của Đức Hộ Pháp đã lọt vào tay của Ngô Đình Diệm.
*
ĐỨC HỘ PHÁP QUI THIÊN
Sau cơn bệnh nặng Đức Hộ Pháp Qui Thiên vào lúc 13 giờ ngày 10 tháng 4 năm Kỷ Hợi (1959) nhằm ngày lễ Thăng Thiên 17-5 của Đức Chúa Jesus Christ.
Trước khi Qui Thiên, Đức Hộ Pháp đã làm 3 việc sau :
1. Gởi bức thư Di Ngôn cho Thái Tử Norodom Sihanouk
2. Ngài nhắn vài vị Sĩ Tải lên để dạy việc
3. Đức Hộ Pháp trả lời về Ngài Hồ Tấn Khoa xin Di Ngôn về Đạo Pháp và đường lối Chính sách Hoà Bình Chung Sống :
Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa có đến xin Đức Hộ Pháp giao quyền lãnh đạo Chính Sách Hoà Bình Chung Sống cho Ngài. Nhưng Đức Hộ Pháp trả lời dầu cho Bần Đạo có thoát xác nơi đây, vì phận sự của Đức Chí Tôn giao phó một mình Ngự Mã của Ngài mà thôi nên Bần Đạo không dám giao ai đặng.
BẢN DI NGÔN
Gởi Hoàng Thân Norodom Sihanouk
Thưa Điện Hạ,
Bần Đạo có gởi những dòng chữ này đến Điện Hạ trên giường bệnh của Bần Đạo (bệnh viện Calmette). Sức khoẻ của Bần Đạo càng ngày suy giảm và Bần Đạo nghĩ không còn sống bao lâu nữa.Vậy Bần Đạo gởi lần cuối cùng đến Điện Hạ và Chánh Phủ Hoàng Gia Cao Miên tất cả lời cảm tạ chân thành về sự khoản đãi rộng rãi của Điện Hạ và chánh phủ Hoàng Gia dành cho Bần Đạo với tuỳ tùng và cho tất cả tín đồ của Bần Đạo.
Bần Đạo thành tâm cầu nguyện Thượng Đế Cao Đài và Phật Tổ ban hồng ân che chở Vương Quốc Cao Miên và cho Điện Hạ để chóng thực hiện và nhất là thành công vẻ vang chánh sách Hoà Bình Trung Lập và Chung Sống Hoà Bình, chánh sách đặc biệt ưu ái của Bần Đạo và vì nó mà Bần Đạo phải hao tốn sức khoẻ và cuộc đời của Bần Đạo mà không thể thực hiện được.
Bần Đạo thành tâm ước mong rằng Tổ quốc thân yêu của chúng tôi, nước Việt Nam, có thể đeo đuổi Chánh sách ấy trong một ngày gần đây, tay bắt tay cùng đi cùng với nước Cao Miên trong đường lối thương yêu và cộng đồng giữa các sắc dân và nhất là giữa hai dân tộc Miên-Việt. Bần Đạo sẽ hoàn toàn sung sướng được yết kiến lần cuối cùng với Điện Hạ để bày tỏ tất cả những lời cám ơn của Bần Đạo nhưng Bần Đạo không biết sức của Bần Đạo còn chờ được hay không ngày về của Điện Hạ.
Dầu sao tình thân hữu thâm niên của chúng ta, nhơn danh lòng thương yêu và tình huynh đệ giữa hai dân tộc Cao Miên và Việt Nam, Bần Đạo cung kính xin Điện Hạ như một ân huệ đặc biệt và cuối cùng cho Thánh Thất chúng tôi khỏi chịu dưới lịnh phá huỷ, để giữ kỷ niệm độc nhất của Bần Đạo nơi đất Miên.
Để giúp Điện Hạ có một khái niệm đúng đắn về tình hình qua, Bần Đạo trân trọng gởi đến Điện Hạ một bản sao đơn khẩn cầu của Bần Đạo vừa chuyển Hoàng Thượng.
Phần khác, nếu Bần Đạo thoát kiếp nơi đây, Bần Đạo xin thỉnh cầu Điện Hạ cho phép Bần Đạo tạm gởi thi hài nơi đất Miên dưới sự bảo vệ tối cao của Hoàng Gia Cao Miên. Ngày nào tổ quốc thân yêu của chúng tôi là nước Việt Nam đã thống nhứt, sẽ cùng theo đuổi Chánh Sách Hoà Bình và Trung Lập, mục phiêu của đời sống Bần Đạo, tín đồ của chúng tôi sẽ di thi hài về Toà Thánh Tây Ninh.
Bần Đạo khẩn cầu Điện Hạ và Chánh phủ Hoàng Gia, sau khi Bần Đạo thoát xác, dành cho đoàn tuỳ tùng và cho cả thiện nam tín nữ của Bần Đạo, sự khoản đãi rộng rãi và các sự dễ dãi như trước để tu hành theo tôn giáo của chúng tôi. Nếu biết Điện Hạ sẽ chiếu cố đến đơn thỉnh cầu này, Bần Đạo sẽ thanh thản nhắm mắt đem theo cái kỷ niệm dịu dàng nhất trong đời của Bần Đạo, cung kính xin Điện Hạ chấp thuận lòng tri ân vĩnh viễn của Bần Đạo.
Nam Vang, ngày 14-5-1959
Hộ Pháp
***
Cái tin Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Giáo Chủ Đạo Cao Đài từ trần làm xúc động các giới đồng bào và báo chí trong và ngoài nước, làm đổ luỵ toàn thể tín đồ Cao Đài.
Trong suốt thời kỳ cầm quyền, chánh phủ Ngô Đình Diệm có ác ý đối với Đức Hộ Pháp và đã dùng thủ đoạn hạ uy tín của Đức Ngài. Cho nên các giới nhân sĩ, trí thức, chính trị, các nhân vật Tôn Giáo cùng đồng bào, mặc dù bùi ngùi thương tiếc, nhưng không dám bộc lộ cảm tưởng công khai. Thậm chí tại Toà Thánh Tây Ninh cũng không thiết lễ trong ngày thoát xác của Đấng Giáo Chủ. Chư tín đồ tự động để tang, làm lễ tại tư gia hay tổ chức trong rẫy bái để tránh sự theo dõi của nhà cầm quyền.
Trong khi đó, ông Nguyễn Đắc Lộc, chủ nhiệm báo Tân Dân đã mạnh dạn viết trong số báo 192 ngày 22-5-1959, những dòng chữ sau đây dưới tựa đề : “Trước một cái tang” để tỏ lòng kính mến và hoan nghênh sự nghiệp cách mạng vì Đạo vì nước của Đức Hộ Pháp.
TRƯỚC MỘT CÁI TANG
Giữa lúc tình trạng nước nhà còn bị nạn qua phân, chưa có hy vọng thống nhứt trong một sớm một chiều như ý muốn của dân tộc mà hội nghị Tứ cường đang mổ xẻ vấn đề Đức Quốc để làm nguyên tắc cho Hàn Quốc và Việt Nam căn cứ theo, thì giới nhân sĩ cách mạng chúng ta đã đứng trước một cái tâm tang : Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc vừa tịch ngày 17-5-1959 tại Nam Vang .
Cái tin đột ngột này đã làm xúc động môn phái tín đồ Cao Đài vì sự đau đớn mất Đức Giáo Chủ kính mến và nó cũng không khỏi làm ngạc nhiên giới thân hữu cố tri của cụ Phạm Công Tắc.Thật vậy, những ai đã quen biết riêng nhà lão thành cách mạng ấy thì cũng phải ngậm ngùi trước cái tang này. Bởi cụ Phạm Công Tắc xưa kia, dưới con mắt nhà cầm quyền Pháp là một nhà cách mạng nên cụ đã từng bị lao lung khổ sở vì tù tội và đày ải qua hòn đảo Madagascar ở giữa Ấn Độ Dương trong hồi Đại thế chiến thứ hai 1939 – 1945.
Cái thành tích đó đã gây thêm uy tín cho cụ Hộ Pháp trong Giáo Hội Cao Đài cũng như ngoài đường đời đối với dân chúng miền Nam mà cụ thật đã hoạt động bí mật chống Pháp dưới lá cờ lãnh đạo của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để …
Do mối quan hệ lịch sử này, trên từ Tổng Thống Ngô Đình Diệm dưới đến nhân sĩ cách mạng, không một ai là không quen tên biết mặt hoặc thân hoặc sơ, trước ngày biến cố Đô Thành.
Cho nên ngày nay tin buồn này lan tràn trong các giới đồng bào qua báo chí hằng ngày đăng ai tin, đã làm xúc động mạnh giới nhân sĩ này.
Riêng tôi là văn nhân ký giả, tôi được hân hạnh quen biết Đức Giáo Chủ Cao Đài đã lâu mà tôi vẫn hằng kính mến là nhà đạo đức lãnh đạo một Tôn Giáo mới đã bị chìm nổi vì Đạo qua thời Pháp thuộc. Bởi vậy trước một cái tang của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc cũng như trước một cái tang của cụ Trương Duy Toản xưa kia, tôi không thể không tả sự đau đớn chung với bà con tín đồ Cao Đài, mặc dầu không cùng chung một chính kiến, một Tôn Giáo …
Vậy trước cái tang này, để nêu cao cái giá trị vô song của giải thưởng danh dự “LÃNH ĐẠO TỰ DO” của tổ chức ”NHỮNG QUYỀN TỰ DO” mà Đô Đốc Félix Stumq vừa tặng Tổng Thống cũng nên gởi một vòng hoa phúng điếu và cho phép Giáo Hội Cao Đài nếu họ đã thỉnh cầu được tự do rước linh cửu của Hộ Pháp Phạm Công Tắc về an táng tại Thánh Thất Tây Ninh.
Nghĩa tử là nghĩa tận. Tổng Thống thường nói : “Đem tình thương mà trả oán thù ” thì lúc này là lúc Tổng Thống làm rạng tỏ lý tưởng cao siêu đó.Và luôn dịp, chúng tôi rất thành khẩn đề nghị với sự ước mong rằng Tổng Thống là người đứng trên hết các Đảng Phái để làm trọng tài tối cao giữa nhân dân. Tổng Thống nên ban ngay Sắc lịnh đại ân xá cho các tử tội chính trị phạm liên can vào vụ biến cố Đô Thành, để mở rộng chiến dịch “ĐẮC THẮNG NHÂN TÂM” trước ngày có cuộc tuyển cử Quốc Hội.
Đây là một cơ hội thuận tiện nhất khởi màn cho sự chuẩn bị thống nhất đất nước bằng phương pháp hoà bình mà lịch sử sẽ ghi ơn vậy.
Nguyễn Đắc Lộc
*
CUỘC TANG LỄ NƠI NAM VANG
ĐƯỢC CỬ HÀNH TRỌNG THỂ,
Chức Sắc và tín đồ đều thọ tang Đức Giáo Chủ Cao Đài.
Các Sứ thần ngoại quốc và phái đoàn chánh phủ Hà Nội, phái đoàn Mặt Trận Giải Phóng miền Nam, các đoàn thể, chánh phủ Miên Quốc đều phúng điếu đông đảo.
Báo chí ngoại quốc đều đưa thông tin quan trọng hàng đầu làm chấn động quốc tế, như tờ báo Le Lien des Ceroles d’Etudes (số 4 Juin -1959) bên Pháp Quốc của hội nghiên cứu Thần linh học có đăng việc Nữ Đồng Tử Sarah Barthed nói về huyền diệu nghe và thấy tiếng nói trên không trung một vị Phật ở Việt Nam mới thăng thiên có rất đông Thần, Thánh, Tiên, Phật mặc áo vàng, áo đỏ, áo xanh và áo trắng đứng tiếp rước trên không trung rất trọng thể.
Trong khi ở Toà Thánh Tây Ninh, Hội Thánh không tổ chức lễ tang của Đức Hộ Pháp, nên một số anh em Hoà Bình làm tờ kiến nghị dâng lên xin hành lễ thọ tang Đức Sư Phụ, nhưng không được sự chấp thuận mà còn bị công an bắt bớ.Toàn Đạo phải âm thầm ôm hận thọ tang, thật là cảnh đau buồn không xiết kể.Anh em Sĩ Tải Ban Thống nhứt, Hoà Bình Chung Sống, Hoà Bình Giáo Hội liền đại diện đi Nam Vang thọ tang và tế lễ Đức Hộ Pháp.
Còn trong một đám rừng chòi gần chân núi Bà, anh em Hoà Bình cũng tổ chức bàn Hương án cúng lạy và bịt khăn tang. Trong buổi lễ ông Giáo Hữu Ngọc Thiệp Thanh Uỷ viên tuyên huấn Ban Miền Nam đọc bài văn tế bằng Hán văn rất xúc động làm cho anh em ai cũng đổ luỵ theo.
Từ ngày thọ lãnh mạng lịnh của Đức CHí Tôn để hoằng khai mối Đạo, Đức Hộ Pháp luôn chịu khổ hạnh, lao tâm tiêu tứ để đối phó trước sự đàn áp từ bên ngoài và sự phản phúc chia phe phân phái từ bên trong nội bộ của Đạo cho đến ngày thoát xác.
Thời gian tính ra 33 năm, không giờ phút nào Ngài được yên nghỉ. Nhờ có một đức tánh phi thường hơn cả thiên hạ, một năng lực siêu phàm với một đức tin vô biên nơi Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, Đức Hộ Pháp đã vượt qua bao nhiêu thử thách, dẹp tan mọi mưu mô phá Đạo của tà quyền; tạo dựng nền Đạo ngày nay về mặt vật chất nguy nga đồ sộ, về mặt tinh thần một kho tàng Giáo lý chưa từng có trong lịch sử các Tôn Giáo trên mặt địa cầu.
Nhờ đó, Đạo Cao Đài rạng rỡ với năm châu và Đức Hộ Pháp được sáng danh là một vị Giáo Chủ Đại Đạo kỳ ba không kém vị Giáo Chủ nào trên mặt thế.
Lòng thương yêu vô tận của Đức Giáo Chủ dành để phần nhiều cho hạng bần hàn quê dốt, những cô nhi quả phụ, người già yếu tật nguyền, những dân tộc thiểu số lạc hậu như người Tần, Tà Mun …
Ban nhạc Tần thường đến trình diễn tại Hộ Pháp Đường và thường đưa rước Đức Giáo Chủ đi cúng thời Tý tại Đền Thánh. Họ là người dốt, thật thà nhưng nhờ Đức Giáo Chủ nâng đỡ bênh vực nên họ không bị thiệt thòi cũng không ai hà hiếp được. Họ vui lòng làm công quả với công việc nặng nhọc, trong số đó có nhiều người được thọ phẩm tước Thiên Phong. Một điều đặc biệt là họ có Đạo Tâm vững chắc, chơn thật, không phản phúc và tuyệt đối trung thành với Hội Thánh, với Đức Giáo Chủ.
Buổi ban sơ mới lập Đạo, Đức Chí Tôn giao cho Ngài làm Giáo Chủ, Ngài từ chối, Ngài thưa Ngài không thể làm như Đức Chúa Jesus Christ hay Đức Lão Tử được nhưng Đức Chí Tôn cương quyết nói với Ngài rằng :
Thầy lấy tánh đức của con để lập Giáo.
Ngài không dám từ chối mà chịu nhận
Như vậy Đức Chí Tôn đã chọn một người thay mặt cho Ngài tại thế là Đức Hộ Pháp. Thật không lầm vì Đức Hộ Pháp có đầy đủ tánh đức giống Trời, cao hơn thiên hạ.
Đức Hộ Pháp là một nhà cách mạng với một tâm hồn ái quốc nồng nàn, Ngài hy sinh hết cuộc đời cho Quốc Đạo và Tổ Quốc giống nòi. Ngài là người hùng dũng, bất khuất, chí khí lớn mà cũng là người có tâm hồn đa sầu đa cảm, xúc động hơn ai hết trước cảnh đau thương của nhân thế.
Trong cửa Đạo, Ngài cầm luật pháp nghiêm minh nhưng đầy lòng khoan dung tha thứ. Hồi tạo tác Đền Thánh, có một anh trong Sở thợ hồ ăn cắp cây đờn Kiềm, việc phát giác ra đưa lên tới Đức Thầy, anh đó bị đuổi ra khỏi Sở, nhưng Đức Ngài đến tại Sở hội anh em và trách cứ anh em thiếu thương yêu nhau, chuyện nhỏ như vậy mà không giải quyết với nhau được để đưa lên Đức Ngài là tới luật pháp.
Việc của Ngài làm lớn lao bao la thế giới, như từ việc nhỏ của em đồng nhi, hay người Đạo tỳ Ngài cũng không bỏ sót.
Ngài biết rõ tâm lý từng người, từng giới để từ đó độ dẫn họ, tánh tình của Ngài vui vẻ hoạt bát, lịch lãm trường đời.
Ngài viết ra quyển “Phương Tu Đại Đạo ” để bảo tồn phong hoá nhà Nam. Đối với Ngài một cọng lạt, một miếng dăm bào cũng hữu dụng không bỏ.
Trong cửa Đạo Ngài thâu nhận đủ hạng người lương thiện có, gian ác có đúng với cơ quan tận độ của Đức Chí Tôn ngày nay, để rồi có người giác ngộ tu hành lo lập công bồi đức, có người phản trắc phá Đạo không thể tránh khỏi.
Về phương diện đối ngoại, Ngài không bao giờ đố kỵ một tôn giáo hay đảng phái nào. Chánh phủ nào lên cầm quyền Ngài cũng ủng hộ còn làm được hay không là do nơi họ chớ Ngài không chống phá.
Tóm lại, Đức Hộ Pháp là người có văn có võ, thông suốt thi ca âm nhạc, là nhà kiến trúc hơn nữa là nhà thiết kế đô thị, Ngài cũng là một nghệ sĩ. Hai người con gái của Ngài là Phạm Hồ Cầm và Phạm Tần Tranh là tên hai cây đờn nổi tiếng trong âm nhạc. Thật vậy, Bí Pháp của Đức Chí Tôn đến khai Đạo do nơi ba vị: Hộ Pháp. Thượng Phẩm và Thượng Sanh. “Pháp, Đạo, Thế ” ba vị này đều là văn nhân tài tử Cầm, Kỳ, Thi, Hoạ hào hoa, phong nhã.
Trong mấy mươi năm Đức Hộ Pháp cầm quyền Đạo, chơn truyền của Đức Chí Tôn được giữ đúng không bị quyền lực nào chi phối.Ngài cầm lái con thuyền Đạo không bao giờ lệch hướng. Thực dân Pháp không khống chế tinh thần của Ngài được, cuối cùng phải dùng cường quyền bắt Ngài đưa đi đày.
Ngài cũng thi hành đúng luật pháp Quốc Gia, như hồi chánh phủ Quốc Gia ra lịnh động viên thanh niên nhập ngũ, các địa phương có đơn gởi về Hội Thánh nhờ can thiệp cho con em bổn Đạo khỏi đi lính, Đức Hộ Pháp phê:
Nếu Bần Đạo trong tuổi lính Bần Đạo cũng phải đi, dầu là Đạo mình cũng là công dân của đất nước, phải triệt để thi hành lịnh động viên của Quốc Gia”.
Với tư cách quản giáo Ngài biết người biết mình, cách cư xử mọi việc có tình, có lý, phải người, phải ta. Mỗi phen bị cường quyền áp bức, Ngài gánh vác che chở cho con cái Đức Chí Tôn, Ngài cũng có đủ mưu lược để gìn giữ Đạo trong mọi cuộc biến cố như hồi Nguyễn Thành Phương đem quân về bao vây Toà Thánh trong quân đội Cao Đài lúc ấy cũng có mấy cánh quân ly khai vô mật khu để bảo vệ Đạo và trung thành với Đức Hộ Pháp chớ không theo ông Phương và ông Diệm. Họ có trình với Đức Hộ Pháp để đối phó với binh của ông Phương nhưng Đức Hộ Pháp cấm hẳn không cho đụng chạm đến vì làm như thế là lọt vào mưu kế thâm độc của Chính quyền đã cho một đội xe thiết giáp canh giữ gần Toà Thánh để chờ cơ hội các nhóm Cao Đài xô xát nhau sẽ lấy cớ dẹp loạn để tiêu diệt Đạo.
Để kìm hãm bớt sự lộng hành của ông Phương, Đức Hộ Pháp ra lịnh cho cánh quân của ông Huỳnh Văn Mừng kéo về đóng từ Báo Quốc Từ ra Ao Hồ, còn cánh quân của Văn Hoà Vui đóng từ cửa số 8 Nội ô dài xuống đến Qui Thiện. Vào lúc nửa đêm hai bên cho nổ súng bắn chỉ thiên. Đức Hộ Pháp dặn phải cẩn thận không để cho người dân nào phải bị thương tích.
Sau đó ông Phương cho rút binh và Đức Hộ Pháp ra lịnh thâu súng bỏ vào kho kể cả đội cận vệ cũng vậy để tránh đổ máu anh em với nhau trong cửa Đạo.
Ông Phương là người ngoại Đạo, chỉ nương theo Đạo để lập thân danh chớ không phải vì Đạo, vì Tổ Quốc. Phương có ý định bắt Đức Hộ Pháp đem nộp cho Ngô Đình Diệm để lập công, nhưng ý đồ đó không qua được Đức Hộ Pháp.
Phương nghe lời ông Hồ Hán Sơn bị thất bại rồi quay lại thủ tiêu Hồ Hán Sơn. Hồ Hán Sơn là gián điệp xen vào phá hoại hàng ngũ Cao Đài, đi ngược lại lập trường Hoà giải Dân tộc của Đức Hộ Pháp.
Còn ông Tất theo ông Phương bị thất bại chạy lên Nam Vang. . Khi lên Nam Vang, ông Tất gởi bức thư chỉ trích Đức Hộ Pháp. Bức thư đó ông Tất cũng gởi cho Chánh Phủ Ngô Đình Diệm để lập công.Khi một số anh em Hoà Bình bị tù được trả tự do, Đại Uý Phước Trưởng Ty Công An Tây Ninh đem bức thư đó ra đọc cho anh em nghe.
Khi Đức Hộ Pháp sang Nam Vang, Ngài gởi lịnh về cho tất cả anh em giải tán hết. Ngài nói:Phận sự của các con đối cùng Đạo cùng Tổ Quốc như vậy là xong, bây giờ để Thầy làm. Quân đội Cao Đài chấm dứt từ đó.
Đức Hộ Pháp xuất ngoại là có lợi cho Đạo.Về phần nội bộ của Đạo thì các nhóm chống đối và ủng hộ Đức Hộ Pháp không còn có lý do vì hiềm khích với nhau nữa.
Đối với bên ngoài việc phá Đạo của Chính quyền cũng phải dè dặt vì Đức Hộ Pháp có cơ hội tự do tố cáo ra Quốc tế.
Đối với dư luận Quốc Tế, Đức Hộ Pháp đến cư ngụ tại một nước nhược tiểu trung lập không dựa nương vào một cường quốc nào. Khối Tư Bản không thể nói Đức Hộ Pháp theo Cộng sản được, khối Cộng Sản cũng không thể nói Đức Hộ Pháp theo Tư Bản, như vậy là đi đúng tinh thần của một Tôn Giáo.
Cầm cơ chuyển thế của Đức Chí Tôn, Đức Hộ Pháp có hành động kịp thời đúng lúc của mọi biến chuyển của tình thế, dẫn dắt phong trào chớ không chạy theo đuôi phong trào, không bị lạc hậu như chúng ta thấy mấy mươi năm qua trong cửa Đạo.
Việc làm của Ngài cao xa, tinh thần của quí anh lớn cầm quyền Đạo không theo kịp phải thối lui lại phía sau vì cái nhìn không sâu rộng.Khi đưa ra Chánh Sách Hoà Bình Chung Sống : Do dân phục vụ dân lập quyền dân. Đức Hộ Pháp đã gởi về cho các anh lớn trong Hội Thánh để thi hành nhưng bị từ chối. Đức Hộ Pháp buộc lòng phải giao cho một số Chức sắc nhỏ và tín đồ hoạt động giải pháp này.
Nhờ có đức tin tuyệt đối nơi Đức Hộ Pháp, một số anh chị em hăng hái tham gia hoạt động cho đường lối Hoà Bình mặc dầu phải chịu nhiều khổ hạnh. Buổi đầu khả năng của anh chị em còn yếu kém về mọi mặt nên việc làm có nhiều sơ sót, Đức Hộ Pháp phải mệt nhọc chỉ dẫn từng bước đi và dạy bảo cho anh chị em hiểu biết sâu rộng ý nghĩa cao đẹp của đường lối.
Từ ngày Đức Hộ Pháp lên Nam Vang năm 1956 đến ngày qui Thiên năm 1959 thời gian chỉ có ba năm nhưng không biết bao nhiêu là công việc mà Ngài phải đối phó, nào lo việc nội bộ của Đạo nào việc bên ngoài làm khó dễ.
Việc đề xướng và lãnh đạo Chánh Sách Hoà Bình Chung Sống Đức Ngài phải khổ tâm với bao nhiêu là việc thử thách từ trong cửa Đạo đến ngoài quyền đời. Bị tù tội, bị phỉ báng, bị phản phúc nhưng lúc nào cũng quả quyết thành công vì đây là đường lối của Trời chớ không phải của phàm. Trời định sao chịu vậy, phải thọ khổ cho thiên hạ.
Chúng tôi xin trích đoạn những Thánh Thơ mà Ngài gởi về từ Nam Vang để an ủi và un đúc tinh thần cho toàn thể anh chị em.
*
Thánh Thơ số HP /HN
Kiêm Biên ngày tháng 10 năm Đinh Dậu
Mấy em trong Hoà Bình Giáo Hội Toà Thánh.
Qua có đặng thơ số 118 Giáo Hội Trung ương của mấy em gởi cho Qua và cho Bảo Đạo nói về có lịnh của Bảo Đạo dạy mấy em đi tụng kinh cầu nguyện cho Hoà Bình nơi vĩ tuyến 17 mà mấy em ngần ngại khó nỗi thi hành.
Mấy em tưởng như thế là đúng chơn lý vì Hoà Bình Giáo Hội cốt để trương cây cờ Nhan Uyên khi Bắc Nam đồng bào của mấy em dùng võ lực tương tàn tương sát, thì phận sự của mấy em cứu khổ cho thiên hạ. Muốn thi hành điều ấy, ít nữa mấy em phải có một năng lực Quốc Tế làm hậu thuẫn cho mấy em, năng lực ấy qua tìm đường lưu vong ra hải ngoại tìm kiếm mà hôm nay vẫn chưa đủ điều kiện.
Trái lại nếu dạy mấy em ra vĩ tuyến để cầu kinh buổi này là một chuyện điên rồ và vô nghĩa lý, gây một trò cười cho thiên hạ, lại thêm bị bắt, bị khổ hạnh, bị khủng bố nhiều điều mà không bổ ích vào đâu tất cả nên việc ấy mấy em đình đãi không chịu thi hành là phải và Qua có lời ban khen mấy em đó vậy.
Từ đây mấy em phải đợi lịnh chính mình Qua truyền dạy dầu chuyện lớn hay chuyện nhỏ cũng vậy và xem xét kỹ lưỡng nghĩa lý mọi hành vi của mình rồi mới thi hành, bằng trái lại có điều chi mà mấy em ngờ vực với tánh cách phi lý thì nhẫn nại chờ đợi, hỏi mạng lịnh Qua rồi mới thi thố như hiện thời mấy em làm đó vậy.
*
Khi hay tin hai ông Giáo Sư Thượng Giải Thanh và Giáo Hữu Thượng Dự Thanh lập nguyện gia nhập Hoà Bình, Đức Hộ Pháp có nói :
Mấy em nói lại với Giáo Sư Hải và Giáo Hữu Dự rằng Qua rất hài lòng hay tin mấy người ấy đủ can đảm, đủ tâm thành nghị lực dám ra hiệp tác cùng mấy em, mấy em nên nói riêng với họ rằng trong đời sống con người, từ trước hàng vĩ nhân của nhơn loại chỉ nhờ một ý định nhỏ nhoi mà họ đặng thành công vĩ đại. Qua nói một ý định mà thôi mà Qua không hiểu ý định ấy nó thắng bại lẽ nào.Biết đâu ý định họ may ra không đem cho họ cái toàn thắng bất ngờ, cũng như con bạc móc túi ra đặng không biết ăn thua, nhưng đặt lúng vì mình là con bạc mà nó có trúng độc đắc hay là cầu âu rồi nhờ đó mà trở thành triệu phú bất ngờ.
Vậy họ cứ tin tưởng nơi Qua là con bạc của thời cuộc, Qua đã dám móc túi đánh cầu âu với sòng bạc của Chí Tôn, họ cũng nên ráng làm gan đánh ăn có theo Qua dầu có rủi thua thì Qua cũng là tay thua với họ. Họ cũng có phương an ủi chút ít. Mấy em nói rằng Qua để lời cám ơn và khen ngợi họ …
*
Thánh Thơ số 6 HP/HNNgày 29-11-Đinh Dậu
Pháp khi thất trận Điện Biên Phủ thì cắt nước Việt Nam làm đôi, phân nửa từ vĩ tuyến 17 đổ ra giao cho Việt Minh, còn phân nửa từ vĩ tuyến 17 đổ vô lại giao trong tay Mỹ, thành thử nước Việt Nam chúng ta vào tay hai kẻ thù một là cộng sản hai là thực dân tư bản Mỹ. Thật ra mấy em đã thấy hiển nhiên trước mắt rằng Tổ Quốc của mấy em hôm nay đã thành lệ thuộc của hai khối Mỹ và Cộng Sản chớ không độc lập và tự do chi cả.
Những danh từ độc lập tự do là những danh từ để hồ mị đôi mắt mấy em với đồng bào của mấy em chớ không có thật sự chút nào hết, vì sự lệ thuộc của hai khối còn nặng nề nguy hiểm hơn lệ thuộc của Pháp buổi trước quá nhiều. Vì cớ mà Qua phải lưu vong đặng tìm kế giải nguy cho Tổ Quốc và nòi giống.
Bởi cớ ấy mà đề xướng ra giải pháp Hoà Bình Chung Sống đặng tự giải thoát cho mình khỏi vòng xiềng xích của ngoại bang lệ thuộc, dầu rằng nền Đạo Cao Đài là của toàn thể chúng sanh không phải của riêng của nước Việt Nam mà thôi, mà nó là của thiên hạ, nhưng hôm nay thì nó có liên quan mật thiết với vận mạng Việt Nam, trước mắt vì nó đã sản xuất nơi nước Việt Nam và do nền văn minh tối cổ của Nho Tông xuất hiện. Việt Nam phải làm gương mẫu về sở năng của nó đặng các chủng tộc khác xem mà theo.Nền Đạo Cao Đài đặng bành trướng hay đủ uy tín cùng quốc tế chăng là do năng lực của nước Việt Nam trước đã...
Qua cốt yếu nói rõ cho mấy em biết đường lối của Thầy trò chúng ta phải đi là một đường lối khó khăn nguy hiểm. Ai đời năng lực không có mà dám đương đầu cùng hai khối đủ quyền hành mới mẻ đủ mạnh mẽ chia tay làm bá chủ toàn cầu là khối Thực dân tư bản và Cộng sản quốc tế, biểu sao đương nhiên ta không bị cô lập mà e cho những đầu óc không đủ sáng suốt cho ta là khùng mà chớ.
Thật sự Thầy trò chúng ta lúc này đương phế vong cả sự nghiệp và tương lai của Đạo đặng vẹn toàn cho trọn vẹn hy sinh cho nhân dân mà đã gánh chịu nhiều điều oan khổ.Ta phải can đảm thú thật rằng ta đã vì tiền đồ tổ quốc và giống nòi Việt Nam hơn là tương lai sự nghiệp của Đạo, điều ấy Qua đã cho mấy em suy nghĩ đặng hiểu nghĩa lý sự hy sinh ấy.
*
Thánh Thơ số 10
Khi các anh lớn cầm quyền Đạo tại Toà Thánh không thấu hiểu được việc làm của Đức Hộ Pháp mà còn nghe theo lời bài bác của quyền đời, Đức Hộ Pháp nói : Đường lối Qua đi là con đường duy nhất, chúng ta có vui chịu thấy trước mắt nạn cốt nhục tương tàn nồi da xáo thịt chăng ?
Chúng ta vui chịu thấy Tổ Quốc chia hai phân đôi chủng tộc chăng ?
Đạo có vui thấy thiên hạ loạn ly, quốc dân đau khổ chăng ?
Đạo có vui thấy ngoại bang xâm chiếm lệ thuộc của quốc dân và tổ quốc Việt Nam một lần nữa chăng ?
Bần Đạo tranh đấu có phải vì tư lợi, tư quyền mà đủ can đảm khổ hạnh chăng ?
Ai tự hỏi mấy em câu ấy thì đủ cho họ trả lời cho họ rồi không cần luận đến nữa.
Qua đã hy sinh Đạo đặng cứu vãn tình thế cho Tổ Quốc và giống nòi Việt Nam vì đã hiểu rỏ rằng nếu phân chia chủng tộc và nước làm hai, kỳ trung chia Đạo làm hai, rồi như thế ta nhận định như thế thì ta có nên ngồi yên cầu an cho mình để mặc Đạo bị chia hai Nam Bắc rồi ai mới vào đó để tìm phương hiệp nhứt lại đặng ?
Dầu cho vĩ tuyến 17 đổ ra miền Bắc,tín đồ Đạo không đông như miền Nam nhưng coi để cho số con cái Đức Chí Tôn dầu thiểu số thế nào nguyền rủa chăng?
...
Nếu thoảng như có tình trạng như thế thì chính mình Bần Đạo không bảo toàn đủ trọn uy tín đặng khéo xử dung hoà với họ mà chớ ?
Đạo sẽ bị chi phối vĩnh viễn từ Nam chí Bắc. Hỏi vậy chớ ai đã đảm nhiệm gánh vác cơ nghiệp Đạo, ngồi xem tương lai Đạo như thế chăng ?
Nếu Bần Đạo cho sự đi của Bần Đạo khỏi Toà Thánh là thượng sách về mặt Đạo lẫn mặt đời với mục đích làm cho đồng bào đủ thế chung sống cùng nhau trong Hoà Bình và hạnh phúc.
Thuyết Hoà Bình Chung Sống của Bần Đạo đem ra cho nước Việt Nam làm cho quốc tế cảm động vì quốc tế hiểu rõ rằng ngoài phương pháp ấy Đạo Cao Đài không có đường lối nào khác hơn nữa. Thuyết ấy rồi đây các nước tiểu nhược quốc đứng về trung lập phải noi theo đặng cứu nước họ. Giải pháp ấy càng ngày càng sáng tỏ đặng hiệp các tiểu nhược quốc lại làm một.
Kiêm Biên, ngày 5 tháng Giêng năm Mậu Tuất.
Hộ Pháp
(Ân ký)
Thánh Thơ 12
...Mục phiêu chánh của Đạo Cao Đài là lo cho toàn thiên hạ đặng tự do, đặng hạnh phúc.Có lẽ vì lý do ấy mà chúng ta phải hy sinh trọn kiếp sống đặng giải ách lệ thuộc cho các chúng tộc lạc hậu vì lẽ bất công của xã hội đương nhiên mà chính Đức Chí Tôn đã có nói và Đức Lý đã có lặp lại : Ngày nào còn tồn tại một lẽ bất công nơi mặt thế này thì Đạo Cao Đài chưa thành Đạo.
Ta cũng vì hạnh phúc của nhơn sanh mà hy sinh cả gia nghiệp của ta đặng tạo hạnh phúc ấy cho toàn thiên hạ. Mấy em biết, không có tinh thần cao thượng ấy thì con người bao giờ cũng mục phiêu xứng đáng là vinh thân phì da đeo đuổi theo thuyết duy vật là thuyết vị ngã chớ không dại gì phải hy sinh đặng làm tôi tớ cho toàn thiên hạ. Ta theo Đức CHÍ TÔN và thuyết cao thượng ấy, ta buộc mình phải làm việc ấy đối với dân Việt Nam ta trước rồi mới rộng ra toàn thiên hạ.
Qua lặp lại một lần nữa rằng Đạo Cao Đài có mục tiêu chánh đáng này là chúng ta phải làm việc cho kỳ được: Bác ái, Công bình, Vị tha, Ưu nhơn, ái vật cải thiện nhơn sanh làm cho Đại đồng Thiên hạ. Ta đã hy sinh biết bao xương máu từ thử đến giờ cũng vì muốn đoạt cho đặng cái mục tiêu ấy, muốn cho Đạo Cao Đài có giá trị nơi mặt thế này, mà đi chưa đến mục tiêu ấy tức là công trình của chúng ta cấy lúa trên đá.
Qua chỉ sống gượng đặng xem coi các bạn gọi là đồng chí của Qua thi thố lẽ nào cho nên Đạo, cho đáng kiếp sống chớ không phải ăn gởi nằm nhờ, ngồi không toại hưởng công nghiệp của kẻ khác, dầu vô phước thế nào bị bội bạc phản phúc mà trong kiếp sống mình có phương thế cho Đạo cho đời là một phần thưởng cho tâm hồn rất nên đáng giá. Muốn tạo hạnh phúc cho mình cố gắng tạo hạnh phúc cho người, chớ mà kiếp sống mà ra ký sinh trùng thì không nên sống. Các bạn của ta có để ý thi thố điều ấy chăng ? Bằng chẳng vậy thì không nên xưng mình rằng người Đạo bởi vì ngoài phương pháp ấy chẳng còn danh giá của con người giữa chợ đời thống khổ. Mặc dầu cố tình xuyên tạc nói chi thì nói ta chỉ biết mình là Đạo đặng thi thố cho phải Đạo là đủ.
Trước khi dứt lời, Qua ban phép lành cho toàn cả mấy em và cầu nguyện Đại Từ phụ, Đại Từ Mẫu ban ơn riêng mấy em đủ tinh thần nghị lực chịu khổ hạnh đặng cứu nước và nòi giống Việt Nam hầu lưu ơn của Đạo lại cho đời, đặng cho Đạo Cao Đài đáng phận sự Quốc Đạo của mình, điều ấy là điều hằng ngày Qua cầu nguyện và trọn hy sinh thi thố cho thành tựu.
Qua tưởng mấy em và Hồ Bảo Đạo cũng vì lẽ đó mà đương chịu khổ hạnh chia khổ với Qua hằng ngày. Chính Qua hằng cầu nguyện cho mấy em đủ can đảm, đủ năng lực, đủ nhẫn nại, đủ vững tâm cho tới ngày kết liễu, thắng mọi trở lực, danh giá tương lai của chúng ta sở dĩ có cùng chăng là giá trị của sự hy sinh của chúng ta buổi này.
Mấy em làm thế nào ra câu văn của Đức Lý : ”Đời hằng đổi nước non không đổi ” là mục phiêu chánh đáng của chúng ta phải đeo đuổi cho kỳ được cho đến ngày kết liễu.
