Tiểu sử 28 vị tiền khai Đại Đạo

Nữ Soạn giả NGUYÊN-THỦY

 

 

CHƯƠNG II

TIỂU SỬ 28 VỊ TIỀN KHAI ĐẠI-ĐẠO

(Ghi theo thứ tự trong danh sách)

 

1-Bà Lâm Ngọc Thanh

2-Ông Lê văn Trụng  

3-Ông Lê văn Lịch

4-Ông Trần Đạo Quang

5-Ông Nguyễn Ngọc Tương

6-Ông Nguyễn Ngọc Thơ  

7-Ông Lê Bá Trang

8-Ông Vương Quan Kỳ

9-Ông Nguyễn văn Kinh

10-Ông Ngô Tường Vân

 

11-Ông Nguyễn văn Đạt

12-Ông Ngô văn Kim

13-ông Đoàn văn Bản

14-Ông Lê văn Giảng

15-Ông Huỳnh văn Giỏi

16-Ông Nguyễn văn Tường

17-Ông Cao Quỳnh Cư

18-Ông Phạm Công Tắc

19-Ônng Cao Hoài Sang

20-Ông Nguyễn Trung  Hậu

21-Ông Trương Hữu Đức

22-Ông Huỳnh Trung Túât

23-Ông Nguyễn văn Chức

24-Ông Lại văn Hành

25-Ông Nguyễn văn Trò

26-Ông Nguyễn văn Hương

27-Ông Võ văn Kinh

28-Ông Phạm văn Tỉ

 

I –Bà Lâm Ngọc Thanh (1874-1937)

Thánh danh: Nữ Đầu Sư LÂM HƯƠNG-THANH

A- Bà Lâm Ngọc Thanh Nghiệp Chủ Vũng Liêm.

         1- Phần Đời:

Thế danh là Lâm Ngọc Thanh, sanh năm Giáp Tuất (1874) tại làng Trung Tín, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Thân mẫu Bà là Trần thị Sanh. Không rõ tên ông thân sanh. Bà Lâm Ngọc Thanh là vợ của một người  Pháp

tên Monnier, gọi là Ông Huyện Huỳnh-Ngọc-Xây, nên  Bà

thường được người ta gọi là Bà Huyện Xây, là một nghiệp chủ rất giàu có tại Vũng Liêm. Ông và Bà có một người con gái tên là Huỳnh Thị Hồ.  Ông Huyện Xây qui, Bà tái giá với Ông Huyện Hàm Nguyễn-Ngọc-Thơ, một nghiệp chủ ở Tân-Định Sài-Gòn. Hai Ông Bà đều hâm mộ Phật giáo, nên đều qui y theo Phật, thọ giáo với Hòa Thượng Như Nhãn, trụ trì Chùa Giác Hải ở Phú Lâm, Chợ Lớn.      

Bà Lâm-Ngọc-Thanh rất sùng kính Đức Phật Thích Ca, nên gần bên biệt thự của Bà ở Vũng Liêm có lập một ngôi chùa Phật để gia đình Bà cùng với dân chúng xung quanh và các tá điền của Bà có nơi chiêm bái.        

2- Thời-kỳ gặp Đạo Cao-Đài:

Bà Lâm Ngọc Thanh là nghiệp chủ ở Vũng-Liêm. vừa giàu về vật chất lại giàu về tinh-thần, đã cống hiến một sự-nghiệp, một tài sản lớn lao cho nghiệp Đạo

           Bà sớm sùng mộ Đạo Phật. Có Đức-Tin trọn vẹn Đầu năm Bính-Dần (1926) Ông Phạm Tấn Đãi ở Rạch kiến, huyện Bến Lức, tỉnh Long-an. Ông thường chấp bút học Đạo được lịnh Đức Chí-Tôn dạy:

 “Đãi, Con hiệp cùng Trung để độ Thơ” (1)

          Ông Phạm-Tấn-Đãi ra Sài-gòn gặp ông Thơ và trao Thánh giáo cho xem. Ông xem xong nói:“Tôi muốn làm sao hai ông cầu-nguyện cho tôi chấp bút được mới linh!”

Chấp bút, thông công với các Đấng Thiêng-liêng được kết quả và xin tìm biết việc nơi quê nhà ở Vũng liêm để độ Bà Lâm-Ngọc-Thanh và xin độ luôn ông Thầy là Hoà Thượng Như Nhãn. Tất cả đều được mãn nguyện.

3- Thời-kỳ hành Đạo:

Bà Lâm-Ngọc-Thanh được Đức Chí-Tôn độ vào Đạo Cao-Đài. Bà hiến dâng một phần sản nghiệp vĩ đại. Bà in kinh phát không, may cho Đạo phục. Riêng Ông Như Nhãn bằng lòng hiến ngôi Từ Lâm Tự ở Gò Kén Tây Ninh cho Đạo Cao Đài dùng làm Thánh Thất tạm, tổ chức Lễ Khai Đạo. Khi cất ngôi chùa nầy, Ông Bà Thơ đã đóng góp một số tiền lớn, giờ này  tiếp-tục tu bổ và tạo tác thêm

Vào đêm 14 rạng ngày rằm tháng 10 năm Bính-Dần (dl: 18-11-1926) là ngày Đại Lễ Khai Đạo tại Thánh Thất tạm Từ-Lâm-Tự. Bà Lâm-Ngọc-Thanh thọ Thiên Ân Nữ Giáo-Sư,Thánh-danh là Lâm-Hương-Thanh. (TNHT.II./13)
            Trong kỳ Phong Thánh Nữ-phái lần thứ I ngày 14 tháng giêng năm Đinh Mão (dl: 15-2-1927), Đức Chí Tôn thăng phẩm cho Bà lên hàng
Nữ Phối Sư, cầm đầu Nữ phái và phong người con gái của Bà, Cô Huỳnh thị Hồ, vào phẩm Nữ Giáo Sư, Thánh danh Huỳnh Hương-Hồ.
            Ông Bà xuất tiền riêng ra mua thêm một miếng đất rừng nữa, từ ngã ba Ao Hồ vào giáp đất đã mua cất Tòa Thánh để tạo cảnh Cực Lạc Thế giới, gọi là Cực Lạc Cảnh.

Ngày mùng 9-3-Kỷ Tỵ (dl: 16-4-1929) Bà Lâm Hương-Thanh được thăng phẩm Nữ Chánh-Phối-Sư, Chưởng quản Hội-Thánh Nữ phái.    

Năm Đinh Sửu (1937) Đức Hộ Pháp cùng Hội Thánh đi Nam Vang lo Đạo sự, giao cho Bà ở nhà lo ngoại giao với nhà cầm quyền Pháp ở những nơi nào Đạo bị làm khó dễ. Bà đi hầu Tòa, rồi trở về, kế đó lâm trọng bịnh.                     Bà qui Thiên vào ngày mùng 8 tháng 4 năm Đinh Sửu (dl: 17-5-1937) đúng vào ngày Lễ Thánh đản của Đức Phật Thích Ca, tại quê nhà ở Vũng Liêm, hưởng thọ 64 tuổi. Đức Hộ Pháp lúc đó đang hành đạo ở Nam Vang, được tin điện, cấp tốc trở về để cùng Hội Thánh lo Lễ Đạo táng  cho Bà.       

Một điều huyền diệu là khi Bà Lâm Hương Thanh qui Tiên vẫn giáng cơ cho biết Bà sẽ lo tiếp, Bà nói: Để Bà lo việc đó cho và yêu cầu Hội Thánh cử người đến xin nơi chánh phủ, kỳ sau thì được dễ dàng. Quả đúng y như vậy.            Sau khi Bà qui Thiên được 17 ngày, đến ngày 25-4

Đinh Sửu (dl: 3-6-1937), Bà được Đức Chí-Tôn ân tứ lên phẩm Nữ Đầu Sư, vì Bà là người có đại công với Đạo trong buổi sơ khai và là người Chị Cả của Nữ phái, dìu dẫn cả đoàn em Nữ phái. Phẩm này là được Truy thăng.     

Về sau, Hội Thánh đem hài cốt của Bà ở Vũng Liêm về Tòa Thánh, đặt vào Bửu tháp Nữ Đầu Sư, xây ở phía Tây Lang Tòa Thánh và tượng của Bà được tạc ở mặt tiền Đền Thánh, phía bên Nữ phái, trên Lôi Âm Cổ Đài, để nhơn sanh chiêm ngưỡng một bậc Nữ Chức sắc đại công của Đạo.

4- Lời Bà Tự thuật:

a/- Lập Thánh Thất: “Nhắc lại đoạn đầu khi Tôi Nhập môn rồi, khiến lòng Tôi suy-nghĩ cuộc đời không thấy ích gì cho phần linh hồn, nên Tôi không còn luyến tiếc sản nghiệp của Tôi nữa, nếu còn say mê vật-chất hữu hình này thì biết chừng nào mới trở về quê xưa cho được, nên Tôi đem mình quì trước Thiên bàn nguyện rằng: Hiến thân này cho Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ tùng Hội-Thánh Tây-Ninh, ngõ hầu dìu dắt nhơn sanh vào đường đạo-đức. Riêng về Phật-tự, thì khi Tôi chưa gặp Đạo Cao Đài Tôi có lập một kiểng Chùa tại Vũng-Liêm, sau này Tôi hiến cho Đại-Đạo rồi, Tôi hiểu rõ rằng Cao-Đài là Phật giáo chấn hưng đó vậy, nên Tôi sửa Chùa Phật lại làm ngôi Tiểu Thánh-Thất Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ đặng tiện cho việc phổ độ kẻ đồng huyện, đồng lân. Nào kẻ gần, người xa trong thôn quê sằng dã, nào là Tá điền của Tôi đồng lòng đến Nhập môn, cầu Đạo mỗi ngày đến 15, 20 người. hễ có em nào thiếu thốn gì thì Tôi ủng hộ mỗi người một bộ Đạo-phục và một cuốn Kinh Lễ đặng học thuộc Kinh để

Cúng Tứ thời, Tôi dạy thờ, dạy lạy đâu đó đều được xong.

b/- Khai Đàn: Tôi hiệp với Chức sắc và Cô Ngọc Hồ cùng Nguyễn Thị-Hương đi khai đàn Thượng Tượng, rồi Tôi giảng Đạo và đọc Thánh-ngôn cho chư vị mới Nhập môn nghe cho hiểu Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là Chấn hưng Phật Đạo. Bởi vì Tôi biết phần đông thì nhơn sanh còn tín-ngưỡng Đạo Phật, Tôi phải giải nghĩa cho thiện tín nghe rõ rồi họ vô Nhập môn (tôi úp bộ hết tại Vũng Liêm). Đức tin nhơn sanh nơi đây càng ngày càng tăng tiến rất đông, Tôi bèn lập Bàn-trị-sự  phân công cho phái Nữ có phận sự để làm Đạo. Ngày lụn tháng qua đủ công nghiệp, Tôi dạy làm lai lịch dâng lên Hội-thánh xin cầu phong.

c/- Về việc Chùa Gò-kén: Nhờ Thiêng-liêng dùng huyền diệu, trước khi Tôi chưa nhập môn, khiến cho Tôi qui y Phật giáo, Thầy Tôi là ông Hoà-Thượng chùa Giác Hải. Tôi và ông Huyện Thơ cúng một số tiền to để xây dựng chùa Từ-Lâm-Tự. Mỗi năm hai Tôi xuống Chùa Gò-kén thường lắm. Nơi đây là hồi chưa mở Đạo, nhờ cớ ấy được gieo cảm tình Thấy trò nghĩa nặng như phụ tử tình thâm, nên vâng lịnh Đức Chí Tôn họp với Chức sắc Đại Thiên phong Hiệp-Thiên và Cửu-Trùng, Tôi chung lưng đâu cật với Hội-Thánh khai mở Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ tại tỉnh Tây-Ninh, vì thế mà hai Tôi mượn Chùa Gò-kén dễ-dàng. Thầy Tôi thuận cho mượn, thành thử thiêng liêng đã sắp đặt trước nên tôi mới có sẵn một ngôi Từ Lâm-Tự đặng đúng ngày giờ của Chí-Tôn khai Đạo. Vì Chí-Tôn tiền định trước mười ngàn năm

               Thầy có cho thi:     

  Từ đây nòi giống chẳng chia ba.

  Thầy hiệp các con lại một nhà,

  Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc,

  Chủ quyền chơn Đạo một mình TA

            Nhờ bài thơ của Đức Chí-Tôn trên đây, Tôi chung lo với Anh Cả Thượng Đầu-sư Thượng Trung Nhựt cùng Đức Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh mà đi phổ độ cùng Lục tỉnh. Việc phổ độ miền Hậu-giang lối tháng 9 năm Bính Dần đặng cho kịp ngày 14 tháng 10 năm Bính Dần mở Đạo tại Từ-Lâm-Tự (Gò-kén Tây-Ninh). Ông Huyện Thơ và Tôi xuất tiền nhà ra lên cốt chư Phật, đủ Ngũ Chi, Tam Trấn, Tam giáo tức là Đức Phật Tổ, Đức Lão Tử và Đức Khổng-Tử. Mở Đạo tại chùa Từ-Lâm ba tháng thì ông Hoà Thượng chùa Giác-Hải đòi chùa lại, thì hai Tôi (Huyện Thơ) cho Hội-Thánh mượn số tiền 24.000 đồng (hai mươi bốn ngàn đồng) mua đất đặng dời chùa, thỉnh cốt chư Phật về bên đất mới mua (mua đất của ông Kiểm lâm người Pháp). Bởi vì lúc mới phôi thai Hội Thánh chưa có tiền nên mượn của hai Tôi. Mua đất xong rồi Tôi lên xuống thường, không ở luôn nơi đây được vì lo xã giao với Chánh phủ Pháp đặng để cậy nhờ họ.

            Buổi ban sơ khai Đạo (thời Pháp thuộc) Đạo gặp biết bao cảnh gay-go thống khổ cũng vì việc Đạo Đời chưa tương đắc. Chánh phủ Pháp để dạ nghi nan, hăm doạ đủ điều: nào là bắt Đạo-hữu hăm xẻ nhượng, nào là đóng cửa Thánh-Thất ở miền Hậu-giang. Anh Thượng Đầu-sư cho Tôi hay, khi đó Tôi liền tìm kế gần-gũi với Chánh-phủ xin mở cửa Thánh-Thất. Tôi làm đơn xin ngay với chánh phủ Pháp, Tôi đứng bảo lãnh trách nhiệm, Tôi hứa và Tôi nhìn-nhận Đạo Cao-Đài là chánh tông chấn hưng Phật giáo, Tôi nói trước mặt Chánh phủ Pháp rằng: Tất cả Đạo Cao-Đài là bậc chơn tu, không biết làm sái luật chánh phủ, thật là người tu-hành đạo-đức, cả thảy đều có lòng bác-ái, không sát sanh hại vật, chỉ biết tu, ăn chay làm lành mà thôi, thì chánh phủ Pháp cho mở cửa  Thánh-Thất được yên ổn mà sự cúng kiến cũng được đông đảo tự do. Tôi đã nói chắc-chắn trước mặt chánh phủ như vậy Tôi với Anh Thượng Đầu-sư phải thường đi xuống miền Hậu giang để lời khuyến nhủ chư Đạo-hữu tu hành cho chính-chắn và ăn chay làm lành như Tôi đã hứa trên.

d/- Nhắc việc cất Tổ-Đình:

Khi trả chùa Gò Kén lại cho Hoà-Thượng Như Nhãn rồi, Hội-Thánh dọn về đất mới mua, ngày nay là Thánh Địa. Dời chùa thỉnh cốt Phật cũng là khó-khăn hết mức. Chính phủ cứ theo rình mò, làm khổ sở cho Đức Cao Thượng-Phẩm, vì cớ mà bổn Đạo quá sợ, ít ai dám tụ họp đông. Khách lai rai, có ít người đến Cúng thôi. Cũng vì cớ mà eo-hẹp tài chánh,nên phát một ngôi chùa tạm lợp bằng tranh, đốn cây trong rừng làm cột, tranh thì vô rừng cắt khỏi tốn tiền, cắt dây cổ rùa đem về làm lạt. Tuy là chùa tranh, cây gỗ mặc dầu cũng chịu đựng được mười năm dư. Lúc này Đức Cao Thượng-Phẩm đã qui Tiên,  năm 1929.

Khởi đầu đúc nền Toà-Thánh ngày mùng 1 tháng 11 năm Bính-Tý (1936). Còn Đức Hộ-Pháp thì Ngài xuống

Vũng-Liêm thương lượng với Tôi rằng: Chùa lợp tranh hư dột, mối ăn, cây hư hết, nên Đức Hộ-Pháp tính cất chùa cho chắc, làm bằng xi-măng, sắt cho được vĩnh-viễn (Hoạ đồ Đức Lý đã vẽ sẵn, coi theo hoạ đồ của Đức Lý mà cất).

Việc mua đất Cực-Lạc:

Đất Cực-Lạc, hai Tôi đứng mua đất này, sau Ông Huyện để là Đất Cực-Lạc vô vi cảnh giới (ngày nay thành ra Nghĩa địa). Về việc xã-giao, Đời, họ trọng vật chất hơn nên Tôi tìm phương gần-gũi với thượng khách, nói đạo đức cho đời họ hiểu biết rồi mới độ được.

e/- Nhắc lại hồi Tôi mới gặp Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ nhằm ngày mùng 5 tháng 6 năm Bính-Dần (Mardi 15 Juillet 1926) Thầy giáng Cơ kêu hai Tôi quì trước Thiên bàn, Thầy ban ơn cho hai Tôi, Thầy làm phép Hôn-phối đầu tiên hết (Phò loan có Thượng Phẩm, Hộ-Pháp) Thầy cho 4 câu thi cùng dạy Đạo tại nhà ông Nguyễn-Ngọc-Thơ ở Tân Định  (ngày 5-6 Bính Dần):

             Thầy:

“Thơ, con với vợ con quì ngay giữa, nắm tay nhau

Thiên ân thử nhựt tứ thành hôn,

Mãn thế bất ly thể dữ hồn.

Đạo-đức nhất tâm tu đáo cáo.

Chủ trung thị Ngã chí Thiên Tôn

                                       Dạy con hiểu à!”


       (Thủ bút của Ngài Thơ viết ra Hán văn theo lịnh Thầy)

          g/-Tượng Bà tạc trước mặt tiền Đền Thánh

bên lầu trống, tức là Lôi Âm Cổ Đài. Còn bên lầu chuông thì tạc tượng của Đức Quyền Giáo- Tông  Lê  Văn  Trung đối xứng nhau. Khi Đức Hộ Pháp Trấn Thần vào ngày 6 tháng giêng Đinh-Hợi (dl: 27-1- 1947) đến hai bức tượng này, Ngài giải thích rằng:

     “Nhị vị ngự thường xuyên trước Đền Thánh để tiếp rước nhơn sanh tiến bước vào đường Chánh giáo, năng lo dìu dắt con cái Chí-Tôn mỗi khi vào Cầu nguyện và chiêm bái Đức Chí Tôn”..

 

5- Bài thài hiến Lễ cho Bà Lâm Hương-Thanh:

Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh giáng Cơ cho bài

thi để làm Bài Thài tế điện:

Đầy giỏ Hoa Lam chất ái tình,
Y  theo mặt luật của khuôn linh.
Thử căn linh thể nơi phàm tục,
Mới hưởng hồng ân chốn Ngọc đình.
Nam Hải là bờ ao Thất Bửu,
Tây Ninh nền tổ quán Tam Thanh.
Thuyền từ trở lái lìa sông Lệ,
Nhớ bạn chơn mây gởi tấc thành.

 

B- Bà Nữ Đầu Sư Hương Thanh giáng Cơ:

Tại Hộ Pháp Đường, đêm 1-1-1946.

Phò loan: Khai Đạo và Sĩ Tải Lợi.

            “Chào Trí Thanh, cùng mấy em:

LÂM  tuyền đã ẩn mấy thu sang,
HƯƠNG  đượm nhuần trăng đã lố màn.
THANH thủy châu về huờn kiếm báu,
ĐỀ  danh đến buổi đất nhà an”.

             Khai Đạo bạch:… ..           

- Đây hết buổi phong ba, đến hồi an tịnh. Vậy mà không sao. Mình muốn cho yên, trước phải loạn, sau mới yên được. Muốn nước đang đục lóng trong thì phải quậy trộn cho dữ mới lóng bùn được. Đạo có khảo mới cao. Chức sắc bị khảo mà chịu nỗi mới có giá trị. Học trò chịu khảo thí mới lãnh cấp bằng. Nếu từ chối thì rớt. Thế thường học nhiều đậu ít. Còn nơi đây là Trường Công Quả, vậy vị nào muốn xứng đáng Môn-đệ của Đức Chí Tôn thì chẳng bao giờ ngần ngại các việc công quả, cho chung Thánh-Thể Đức Chí-Tôn, cũng do nơi mấy em đào tạo về mặt ngoại giao. Vậy có câu:

                    Ái nhơn, nhơn hành ái chi,

Bất ái nhơn, nhơn hành bất ái chi.

Kỉnh nhơn, nhơn hành kỉnh chi,
Bất kỉnh nhơn, nhơn hành bất kỉnh chi.

            Có cảm mới có ứng. Nên hiểu lọc lừa đi cho khéo, đồ cho trúng thời đắc chí sở nguyện. Tâm vững, cầm lèo lái chạy qua bỉ ngạn. Tuy sóng to gió lớn, lượn sóng xuôi sẽ chạy, miễn rằng ngó phía trước thuyền, tránh cho lẹ những đồ vật ngăn cản.      

Sĩ Tải Lợi bạch:…               

- Sợ không quen sóng gió, buồn mửa. Nếu có mửa thì uống nước chanh.  Mình ăn phủ bì chúng nó mà.      

- Em Thái Khý Thanh, nhờ mới để bộ râu, nên vuốt râu thả mồi câu chúng nó. Nó mảng nghĩ nhìn bộ râu, quên cả sự nghiệp, đành chịu phọt-phe. Ước mong sao mấy vị trong đám cầm cờ chỉ nẻo Cửu Trùng đồng phun râu, chúng nó mới kinh hãi. Qua mừng và khen tặng Chú Khách nầy làm gương cho kẻ Việt.

  Nam Hải Prasey ấy vẫn gần,
  Hai đàng buổi trước lại đồng thân.
  Nhớ nhau khuyên nhủ đôi lời tặng,
  Cùng bạn khi xưa lúc ở trần.
               
 <<<O0O>>>

 

C- Đức Hộ-Pháp Thuyết Đạo nhắc về công nghiệp của Bà Nữ Đầu-Sư Lâm-Hương-Thanh

                      

       1- Lòng tôn sùng Phật của Bà Hương Thanh:

“Đêm nay là Vía Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni mà cũng là ngày Vía Chị Cả của chúng ta là Bà Nữ Đầu Sư Lâm-Hương-Thanh.   

Chẳng biết ngẫu nhiên hay là tiền định mà Bà Nữ Đầu-Sư qui liễu nhằm ngày Vía Đức Phật Thích-Ca. Theo Bần Đạo hiểu biết, tưởng những người ái mộ Đạo Phật nồng nàn hơn hết, chúng ta có thế nói rằng: Bà Nữ Đầu Sư cũng là người đứng đầu sổ của thiên hạ vậy. Trước ngày Đức Chí Tôn mở Đạo, Bà Đầu-Sư duy có biết Đạo Phật mà thôi, chính miệng Bà thuật lại với Bần-Đạo: Từ bé, Bà chỉ để tâm ham mộ Đạo Phật. Không biết có quyền năng lạ-lùng của Đức Chí-Tôn tiền định hay chăng? Mỗi khi niệm câu chú của Phật để tồn tại, thì Đức Chí-Tôn Ngài đứng trong nhà Phật, gọi là Tam thiên Đại Thiên Thế giái. Đức Chí Tôn là Phật vị, nên Bà đã thương lắm, thương một cách nồng nàn. Khi Đức Chí-Tôn mở Đạo Cao Đài, tức nhiên Phật giáo Chấn hưng đó vậy. Chị Nữ Đầu Sư vẫn thương yêu Đức Phật Thích Ca lắm. Tuy vân, Đức Chí-Tôn đến kêu Người phải về cùng Thầy mà sự thật ra tâm Đạo của Chị từ bé tới lớn chỉ theo chơn Đức Phật Thích-Ca mà thôi, nếu xét đoán ra đã biết Đạo thì sự ấy không chi là lạ”.

2- Bà Lâm Hương Thanh hiểu Triết Lý

về Luật Nhân quả của Đức  Phật Thích Ca:

Ngài đã đoạt Đạo đặng rồi, tức nhiên Chị hiểu cái huyền vi bí mật của kiếp sanh con người, Ngài tầm ra căn nguyên bí yếu hơn hết là Luật Nhơn-Quả pháp định (Loi Karmique) Cái Luật Nhơn Quả của Ngài nó trúng trong chơn lý lạ thường, thử ta chối con người không có quả kiếp chi hết cũng như thuyết duy vật đã nói: con người đã sinh ra ở mặt thế nầy là tình cờ mà thôi, sống như vạn vật kia vậy, nếu cái thuyết ấy quả nhiên là chơn lý thì ta thử hỏi vậy chớ duyên cớ nào kẻ sanh ra vừa khỏi lòng Mẹ đã nằm trên đống vàng hay là ngự trên ngai vàng. Còn những kẻ sanh ra đã bị tật nguyền, đui mù, ngu dại, nếu không có định luật thiên nhiên công bình vô đối của Đại Từ Phụ tức nhiên của Đức Chí Tôn thì lẽ bất công ấy chúng ta phải giải nghĩa ra thế nào mà chớ ? Cái triết lý bí yếu ấy, Đức Thích Ca đã tìm đặng tức là Nhơn Quả của ta. “Nhơn nghĩa là ta đã có làm điều chi thì “quả của nó trả lụng lại. Cái Luật Nhơn Quả ấy nó là căn kiếp sống của ta. Có nhiều kẻ cả đời làm lụng nhọc nhằn vợ con đông đúc, cả mọi điều gì muốn thi thố ra đều thất bại, mà cái thất bại ấy chẳng phải dở, cái miệng thường những kẻ ấy trong cơn đau khổ nói số kiếp của tôi nó thế nào, tội tình gì mà làm cho tôi như thế đó, là kẻ bên Đạo Phật. Các Tôn giáo khác không cần luận, ta thấy họ đã quyết định cái quả kiếp là gì, Phật đã nói: Cái kiếp sống đương nhiên của ta, định số phận của ta đương kiếp sống hiện thời là do căn quả của ta đã tạo kiếp trước, bây giờ cái triết lý ấy biểu ta muốn cho nên kiếp tới thì kiếp nầy ta chẳng nên gây nhơn quả nhiều hay nặng nề, vì cớ cho nên những bổn Đạo cùng những người tín ngưỡng theo triết lý của nhà Phật, khi họ thấy căn kiếp của họ đã nhiều bằng cớ không may, hoặc về tình ái, hoặc về sanh kế, hoặc về công danh, hoặc về nghèo giàu, bất kỳ quả kiếp của con người ta thường nương lấy đó mà sống, làm cho cái khổ của con người đã sanh ra chịu khổ rồi quả kiếp nặng nề ấy lại tăng thêm khổ nữa”.

Khi quá sức chịu của trí não người phải làm sao?   - Hễ khi nào bị khổ não quá chừng thì tìm phương pháp an ủi, bởi cớ cho nên nhà Phật là nhà hay an ủi tâm hồn của những kẻ đau khổ hơn hết đặng tự giác lấy mình, hiểu cái quả kiếp mà mình đã đào tạo, vì tại mình vi chủ tạo thành nó ra, bây giờ tìm phương giải nó đi, tức nhiên tránh kiếp tới, nếu ta đã biết kiếp nầy không may để ta trả nó mà thôi, ta đừng gây thêm quả kiếp nữa.”…

3- Lòng mộ Đạo Phật của gia đình

Bà Lâm Hương Thanh

            Đức Hộ Pháp tiếp:”Ngày Vía của Đức Phật Thích Ca và Bà Nữ Đầu Sư trùng ngày với nhau. Nếu như chúng ta tin về đạo đức, chúng ta nói rằng có thể tin về mê tín, thì Bần-Đạo nói rằng: Không có ai thương yêu Đức Phật Thích-Ca trong kiếp sống của mình hơn là Bà Nữ Đầu-Sư. Trong một đời của Bà, Bần Đạo tưởng thiệt là một người giữ Đạo, Bà chỉ giữ Đạo của Đức Phật Thích-Ca mà thôi. Khi Đức Chí Tôn đến mở Đạo, Bà theo chân của Đức Chí Tôn đã đành, không ai dại khờ gì khi người đã có tâm Đạo mà còn mơ hồ e-lệ sự chọn lựa của mình, nhưng Đức Chí Tôn là khác, mà kính trọng thờ phượng Đức Thích-Ca đối với Bà Nữ Đầu-Sư là khác, huống chi trọn cái gia đình từ Mẹ dĩ chí Bà đều thờ phượng một cách rất tôn-nghiêm, dám chắc phần nhiều không có ai thờ phượng được như cả

gia-tộc của Bà đã thờ phượng Đức Thích-Ca.

Luận tới đây Tôi nghĩ ngày này đáng lẽ nếu nói rằng nước Việt-Nam chủng tộc ta có thể thờ Đức Phật Thích-Ca nhiều hơn hết, nhưng đến Đại Lễ này nếu không tưởng niệm đến Đức Thích-Ca đi nữa là cũng còn đoái đến tình của Bà Nữ Đầu-Sư, mà dòm lại Phái Nữ trong Đại Lễ thấy lơ-thơ, có phải vô tình chăng ? Hay là Đạo của Phật Thích-Ca và công nghiệp của Bà Nữ Đầu-Sư bị có cơn mưa rồi lạnh ngắt, đã lạnh trước rồi bị trận mưa nữa nó lạnh luôn ? Bần-Đạo xin nói thật, Đức Phật Thích Ca, dầu sự trị thế của Ngài đã hết, chúng ta chỉ nói là hết thôi. Hai ngàn năm trăm năm (2.500) lập Đạo trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống kia, Môn-đệ của Ngài nhiều lắm, các người đừng tưởng Ông già ăn mày ấy không đủ quyền năng mà các người khi dễ. Nội cái Bình Bát-Vu của Ông đựng cả chơn hồn trong Càn Khôn Vũ Trụ, Ông ăn mày tại thế này vậy mà ngôi vị Cực Lạc Thế Giới của Ông các người xin một phẩm Liên Hoa Ông có thể cho; là một người không nên khi dễ, không nên nguội lạnh với người đó, bởi vì Môn đệ của Ngài trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống nhiều lắm. Bà Nữ Đầu-Sư hồi còn tại thế này cũng vậy, hay về cõi Thiêng-Liêng cũng vậy thương Em lắm, thương phái nữ lắm, Bà binh vực bảo trọng từ khi mới mở Đạo, biết bao phen Đức Lý-Giáo-Tông đã phẫn nộ, chính mình Bần Đạo cũng không thế binh vực được mà còn có thể ghét nữa mà chớ. Duy có một mình Chị binh vực bảo trọng phái nữ còn tồn tại đến ngày nay, bằng không thì bị phế rồi, bị Đức Lý phế rồi đó. Bần-Đạo nói thật mấy chị. Ôi! Không phải kiếp sanh dễ gì ngộ Đạo, Bần-Đạo đã chán biết khó khăn kiếp sống của mình tại thế bao giờ cũng vậy, nó làm cho mình nặng nề khổ não về tinh thần, nhưng chúng ta đem lên mặt cân thiêng liêng, chúng ta lấy trí khôn ngoan để suy đoán cho cùng, chúng ta phải lấy trí khôn ngoan công chánh mà phán đoán, phần nào xác là xác, phần nào hồn là hồn, cái xác thịt nó không phải ở đây cho đến lúc tận thế đa nghe ! Kiếp sống tại thế gian này của mấy người không mấy lát, cao trọng cần yếu hay chăng là phần hồn, đừng sa xuống Địa Ngục, đừng xuống đó là hơn hết. Xuống cửa đó rồi khó giải thoát lắm, khó giải thoát lắm đa nghe ! Còn phần xác thì xác, hồn là hồn, mình lấy cái trí não của mình, lấy cái trung dung của mình làm sao cho Đạo có công chánh, hòa bình, xác cũng vậy, hồn cũng vậy. Chỉnh cầm cân giữ mực thước làm sao cho xác thế nào, thì phần hồn kia cũng vậy, đừng trọng bên này, phụ bên kia, là khôn ngoan hơn hết. Còn một cái trọng yếu hơn nữa là phải nhớ luôn luôn phụng sự Đức Chí-Tôn, công nghiệp ấy không bao giờ mất, bởi Ông già đó chẳng chịu thiếu nợ ai hết, trái lại nếu chúng ta có phương thế lập vị chúng ta rồi mà chúng ta còn dư thừa công nghiệp đối với Ngài. Nhớ lại trong Cửu Huyền Thất Tổ của ta chưa chắc họ đều siêu thoát đặng, để chút của cải ấy đặng độ họ, tội nghiệp biết đâu trong Cửu Huyền Thất Tổ của mỗi đứa ta lại không có người ở dưới Phong Đô, rán tiện tặn chút đỉnh cho có của cải Thiêng Liêng cho họ hưởng mới khỏi uổng kiếp sanh của mình. Đấng đó không biết thiếu nợ ai hết và đã nói chẳng hề khi nào sai lời. Đã ngộ Đạo, đã biết Đạo, đã theo chân Đức Chí-Tôn mà không biết tự mình tìm phương giải thoát, dầu chúng ta không mong mỏi cứu độ Cửu Huyền Thất Tổ đi nữa, cũng mong mỏi tự giải thoát cho mình là trọng yếu hơn hết, biết Đạo mà nguội lạnh tốt hơn hết đừng có ở trong cửa Đạo, tốt hơn đừng ngồi trong cửa Đạo, ngồi nữa thêm tội không ích gì. Thử chúng ta để dấu hỏi chúng ta tu đây trông mong cái gì?

Đừng như kẻ mờ hồ kia mà Đức Chí-Tôn đã để:

    Ngồi lì mà đợi Lý Ngưng Vương,
    Biểu xuống thuyền Tiên nói chẹt lườn.
    Co cẳng muốn vào rồi lại thụt,
    Biểu thương sao đặng buộc người thương?

4- Bà Nữ Đầu Sư Chơn linh Long Nữ.

Long Nữ là ai ?

“Ngày nay là Lễ của Đức Phật Thích Ca và là ngày

Lễ của Chị chúng ta, chúng ta nên để tâm cầu nguyện Chơn linh của Ngài và của Bà, tức nhiên là Long Nữ, cả thảy chúng ta đều biết cái bí mật ấy. Thật ra, là người đòi của Phật Quan Âm Bồ Tát đó vậy. Bần Đạo hiểu về cái thuyết bí mật của Đức Quan Âm Bồ Tát lãnh trách nhiệm trọng yếu, vâng lịnh Đức Di Lạc Vương Phật, chưởng quản điều khiển Bát Nhã Thuyền. Vì cớ cho nên Đức Quan Âm Bồ Tát không thể giáng trần được, chính mình Long Nữ là người hầu của Bà, tình nguyện giáng trần đặng hiệp với các Chơn linh, các Cung các Điện và Hộ Pháp, đặng mở nền Chánh giáo của Đức Chí Tôn, hầu tận độ vạn linh đoạt cơ giải thoát. Nguơn linh của Long-Nữ đã theo hầu Đức Quan Âm Bồ-Tát mấy kiếp đã đến trần thì căn Phật của Người vẫn thế”.

5- Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh được

thờ nơi Nữ Đầu Sư Đường

“Hồi tưởng lại hai mươi mấy năm trước khi Đức Chí Tôn đến cùng chúng ta, cầm cây Linh bút của Ngài tạo nền Chơn giáo. Ông đến với một thân già nghèo của Ông, chính mình Ông khai rằng: Ông là một Ông già nghèo, Ổng nói “Tròi trọi mình không mới thiệt bần”. Ông đến cho ta một danh thể là lập Hội-Thánh cho con cái của Ổng, nhưng Ông còn cỡi được con Bạch hạc ở trên mây trắng, còn Thánh-Thể của Ông ở ngoài mưa nắng cũng không được nữa, nó khó lắm đó vậy. Tình trạng rất khó khăn, Ổng đến với một thân nghèo để tạo dựng Thánh Thể cho con cái Ổng. Mà ôi thôi! Đám Thánh-Thể của Ổng nó cũng nghèo nữa, nhưng mà cái nghèo đó chúng ta có một năng lực cao thượng vô giá không thể tưởng tượng được. Có lẽ cả thảy đều ngó thấy buổi phôi thai, là khi Đền Thánh mới tạo, con cái của Ngài phải chịu biết bao nhiêu khổ hạnh, ăn thì bữa đói bữa no đặng tạo dựng Đền Thánh, đến bây giờ thành tướng làm cho Vạn quốc ngó thấy, trông vào đều khen ngợi, đó là khối muối của sắp nhỏ trở nên hình đó, do sự nhẫn-nại nhọc nhằn của sắp nhỏ mà nên đại nghiệp ngày nay đó vậy. May thay! Đám con chí hiếu của Ngài trước sao sau vậy, liều mảnh thân phàm nầy làm con tế vật cho Đạo. Cả thảy Hội-Thánh tưởng lại coi tạo dựng một dinh thự Nữ Đầu Sư-Đường như vậy chỉ có 250.000$ (hai trăm năm chục ngàn đồng bạc chẵn) có tay thợ nào dám làm không? Tôi dám chắc không dám. Bởi vì giọt mồ hôi nước mắt của sắp nhỏ nó đổ vô trong này bằng ba lần như vậy, đó chỉ có nhờ thiên hạ cho mớ vật liệu hòa với giọt mồ hôi đám sắp nhỏ mà nên hình tượng đó vậy.

Các Con, các Em để ý coi Ông già đó, Ổng không chịu thiếu nợ ai hết, công nghiệp của mấy Em, Ông trả nơi thế nầy không đặng thì về cửa Thiêng Liêng Hằng Sống Ổng cũng trả cho được Ổng mới nghe. Các con đã ngó thấy, những đứa con hiếu hạnh của Ông giờ phút nầy có biết định phận của nó thế nào đối với Thánh Thể. Mấy đứa trong Quân Đội bây giờ là ai ? Là đám công thợ buổi trước tạo dựng nghiệp Đạo rồi nó còn hy sinh xương máu bảo vệ đại nghiệp cho con cái của Ngài nữa, đương đầu với những trở lực oai quyền, hiện giờ nó nuôi lại Em nó, chia từ miếng cơm manh áo cho mặc. Cả đại nghiệp nầy là nhờ đám con chí hiếu của Ngài tạo dựng nên, chớ Tôi không làm gì được hết, chỉ có là đốc thúc vô cho chúng nó làm chớ thân nầy ôm viên gạch cũng không nỗi. Bần-Đạo chỉ mong có một điều là toàn thể con cái của Ngài Nam Nữ mỗi ngày đều tưởng tượng đến công khó nhọc Anh Em nó, khó nhọc của đồng bào toàn thể nước nhà, nòi giống đã tạo dựng nên nghiệp ấy, lấy cả sự nghiệp nầy làm môi giới, giữ đạo đức làm bùa hằng tâm, thương yêu với nhau, giữ nghĩa với nhau cho đến bảy trăm ngàn năm (Thất ức niên) theo lời của Đức Chí-Tôn đã định, dầu Bần-Đạo còn ở đây hay về cõi Hư-Linh. Cung ấy an lạc đi nữa, cũng nhớ đến đại nghiệp con cái của Ngài và Bần-Đạo dám đại ngôn với Ngài rằng: Con cái của Ngài giữ tâm chí hiếu với Ngài và đối với Phật Mẫu cũng vậy”.

  6-Công lao và tài sản của Bà Lâm Hương Thanh

Nhắc lại hai mươi mấy năm trước, hai mươi sáu năm chúng ta hội hiệp với nhau thế nào, ngày hôm nay kẻ còn người mất, dầu ai có gan sắt đá cũng phải não nề. Luật thiên nhiên định vậy, duy có một điều hạnh phúc cho kiếp sống của chúng ta chỉ về Thiêng liêng thấy cả toàn thể em út đã nối chí đặng giữ nghiệp Đạo, nếu có hưởng đặng mảy may hạnh phúc chăng chỉ có bao nhiêu đấy thôi.

            Ôi! Biết bao nhiêu khổ não, truân chuyên thương Em, mà điều chẳng qua liễu Đạo của Chị, cái chết của Chị

trong đầu óc Em biết sao mà nói, tưởng tượng quả quyết rằng vì Chị bị cường quyền khảo quá thế, một người đa tình đa cảm như Chị chúng đã khảo duợt với một phương pháp ấy không thế nào sống đặng. Đương khi bịnh chúng dắt đi hầu Tòa, dẫn ra dẫn vô đến nỗi khi trong Tòa ra rồi Chị nói rằng: Không có chết giấc tại đó mà thôi, về tới nhà bịnh làm cho tới chết, mà chết phải chăng cái việc nghi ngờ của Em không phải là mờ hồ, thì Em dám lộng ngôn nói rằng Chị đã tử vì Đạo là không quá lời!. Em đã làm Hộ-Pháp chỉ ân hận một điều: Chị giàu sang tưởng nơi mặt thế này, người nào có thể nói với thiên hạ rằng: trong kiếp sanh tôi giàu sang, nào ruộng đất, lầu đài ngọc ngà châu báu, không có món gì mà Chị không có, chỉ tiếc một điều là của cải ấy không để nơi nào nó phải để. Nếu giờ phút này Bần-Đạo nói: Người Chị của ta có ân hận chăng là chỉ có bao nhiêu đó mà thôi !.

Bần-Đạo nhớ lại khi khởi cất Đền-Thánh thì đã ba phen thâu của tín-đồ, thâu của nhơn sanh, đặng cất Tòa Thánh cất không nỗi. Tới ngày khởi cất, ngày Bần-Đạo nhất định cất, có 13 ngàn đồng buổi đó không phải dễ, mở trong tủ ra chỉ còn 1$46 (một đồng bốn cc sáu). Cất Toà Thánh trong lúc thời thế nguy ngập, người ta bất-tín nhiệm chạy tiền không ra, không biết làm thế nào khởi đương ra cho mạnh mẽ đặng thâu tín nhiệm thiên hạ lại. Túng tiền, Bần-Đạo phải đến tại Vũng-Liêm, tưởng đâu Chị có dư-dả mới đến, con người như thế này không đến nước túng thiếu quá lẽ. Xuống tới dưới, tới chừng khi hỏi Chị đặng mượn số tiền về khởi công cất Tòa Thánh, Chị dắt đi xuống chỉ mấy kho lúa đầy nhóc hết, mà lúa 0$20 (hai cắc) một giạ, hồi đời đương khuẩn bách từ Á tới Âu. No thì no triệu, bán lúa nếu có thể với giá bây giờ dầu 10 triệu trả cũng được. Một giạ có 0$20 tiền Chị đó Em !.

Ôi ! Lúa có 0$20 có chết được không, Qua nói thiệt với Em trong mình Qua không còn gì hết. Ngồi suy nghĩ một hồi, vô mở tủ sắt lấy ra một hòm sắt lớn đầy vàng hết, từ Bà Cụ dĩ chí gia đình đều để đồ kỹ-niệm trong ấy, hột xoàn nhiều hơn hết, đem hòm ấy đưa cho Em đi cầm, thời buổi khuẩn-bách này ngoài 90 ngàn tới 100 ngàn đặng khởi công cất Tòa Thánh thì được rồi, nhưng một ngày kia tới chừng trả rồi mới làm sao; lấy cầm thì được tới chừng chuộc thì tiền đâu, biết chuộc đặng hay không? Nói như vậy rồi cười với nhau mà thôi !. Chị nói trên có huyền linh của Đức Chí-Tôn dưới có cả đức-tin con cái của Ngài, Nam cũng thế, Nữ cũng thế, đâu Em về cất bướng coi, không cần lấy đồ này, cứ tin Đức Chí-Tôn, Em làm lúng cái coi được hay không. Bần-Đạo về với hai bàn tay trắng làm đến thành…”.

7- Nơi cửa Thiêng Liêng không phải giàu mà lập nghiệp được, còn nghèo mà không đâu !

“T ngày Khai Đạo năm Bính-Dần cho đến ngày hôm nay…Một người Chị hồi đó đã chịu cả khó nhọc cùng toàn thể Thánh Thể Đức Chí Tôn tạo cho nên nghiệp Đạo, ngày giờ qui liễu của Chị, Chị chưa ngó thấy cái tướng diện cơ nghiệp của Đạo sẽ thành hình như thế nào. Bần Đạo tưởng, nếu giờ phút chót của Chị, Chị còn có một điều ân hận, khi xuất hồn ra khỏi xác, có thể Chị để dấu hỏi (?) chẳng biết tương lai của Đạo nó sẽ ra thế nào ? Chẳng biết mấy Em của tôi có đủ cương quyết, đủ nghị lực, đủ tài đức đặng tạo cho thành tướng hay chăng ? Đó là một điều Chị lo ngại hơn hết. Bần-Đạo nhớ lại lời của Đức Chí-Tôn đã có nói trước rằng: “Nếu Đạo không thành thì chính mình Thầy sẽ đến”.

Tôi tưởng chẳng phải một mình Chị mà thôi, mà cả mấy Anh đã qua đời, dĩ vãng rồi, giờ chót họ còn một điều ái ngại trọng hệ hơn hết là đây…”.

�&�

 

 

02 - Ông Lê-Văn-Trung (1876 - 1934)

Thánh danh

QUYỀN GIÁO TÔNG LÊ VĂN TRUNG

 

 

              Ðêm 30 tháng chạp Ất Sửu (dl: 12-02-1926)

      THẦY cho ông Lê Văn Trung thi:

Ðã thấy ven mây lố mặt dương,
Cùng nhau xúm xích dẫn lên đường.
Ðạo cao phó có tay cao độ,
Gần gũi sao ra vạn dặm trường.

(Thăng)

 

A- Phần Đời: Thượng Nghị Viện
I-Tiểu sử Ðức Quyền Giáo Tông (
Diệp Văn Kỳ viết)

 Ông LÊ VĂN TRUNG, người hạt Chợ-lớn, con ông Lê-văn-Thanh và bà Văn Thị Xuân, sanh tại làng Phước Lâm, tổng Phước Ðiền Trung, trong năm 1875, sanh ra được vài tháng, thì ông thân của Ngài tạ thế. Tuy là sớm phải gặp cảnh mồ côi cha, song cũng nhờ nghĩa phương của một bà Từ mẫu nên việc học vấn của ông cũng tuần tự theo trình độ trí thức mà thăng tiến.

Năm 18 tuổi, nhằm ngày 14 Juillet 1893, thì ông đã được bổ vào ngạch thơ ký Chánh phủ Nam Kỳ. Sau lại từ chức, ra tranh cử Hội đồng Quản Hạt quận nhì (Gia Ðịnh, Chợlớn, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Bà Rịa, Cap-St-Jacques) Ông thường nhắc việc nầy mà nói: Cái ma lực buộc người hay có xa vọng về chánh trị nó mạnh lạ thường. Tranh cử lúc đó còn phải tốn tiền hơn bây giờ xấp trăm, xấp ngàn. Vậy mà tiền không, thế lực nỏ có, thì tranh cử cái gì, mà Tôi cũng xin thôi việc quan đặng ra tranh cử ?".

"Người ta là con vật chánh trị!" Văn sĩ xưa nào đã nói như vậy ! Ông đắc cử Nghị viên Quản Hạt lần I năm 1906. Thế thường Hội Ðồng Quản Hạt là cái máy ghi chép “đít-cua” thì đáng lẽ ông cũng theo thường “quì quì, dạ dạ” để xin "mày đai" Huyện hàm, khẩn đất mà thủ lợi. Thế mà không, sau khi đắc cử, Hội Ðồng mới nhóm một kỳ đầu tiên, thì đã gặp ngay bản dự thảo thuộc về “Lục hạng điền” của ông Outrey, quyền Thống Ðốc Nam Kỳ, trình xin Hội Ðồng phải thảo luận và thừa nhận. Ông và ông Diệp Văn Cương, Hội Ðồng Bến Tre, đứng ra cầm đầu cho tất cả sáu ông Quản Hạt An-Nam phản kháng lại bản dự thảo của Chánh phủ. Song, số Nghị-Viên  An-Nam

lúc bấy giờ chỉ bằng phân nửa số Nghị Viên Lang-sa, thì dầu cho có phản kháng kịch liệt thế nào, cứu cánh rồi cũng chẳng có kết quả. Tình thế chính trị như vậy mặc dầu, ông cùng các người đồng chí cũng chẳng chịu thua  Hội Ðồng  Quản Hạt, với mười mấy lá thăm Langsa, vừa thừa nhận khoản thuế “Lục hạng điền” thì bên nầy, tất cả sáu ông Hội Ðồng Quản Hạt An Nam đều gởi đơn từ chức. Ðối với thái độ ấy, có lẽ ngày nay chúng ta chẳng lấy chi làm lạ. Song, nếu chúng ta thử tưởng tượng lại cái hoàn cảnh chánh trị cách 30 năm nay, thì dám làm như thế, dám phản kháng Chánh phủ một cách công nhiên như họ đã làm, thật là một việc đáng khen và không phải là không có chi nguy hiểm cho những người xướng xuất. Từ chức xong, tất cả sáu ông đều ra ứng cử lại và thảy đều được tái đắc cử. Trừ duy ông Hội Ðồng Hoài, bị ông Bùi Quang Chiêu a-phụ với ông Outrey xúi người bà con là ông Bùi Thế Khâm ra phá nên thất cử.

Hội Ðồng Quản Hạt mà được trở nên một Nghị trường có nhiều ít thanh thế một đôi vẻ chánh trị có lẽ cũng là nhờ vụ “Lục hạng điền” làm nước bước đầu tiên. Trong bước đầu tiên ấy, ông Lê Văn Trung lại là một người hướng đạo rất khẳng khái. Thế lực chánh trị của ông  từ đó về sau mỗi ngày càng lớn thêm. Ðối với cử tri, bây giờ tức là các Hương chức, ông là một người đã bảo thủ quyền lợi của nông dân điền chủ; đối với Chánh phủ, thì ông là một người trong những người mà các nhà đương đạo khó khinh thường. Nhờ thế lực ấy, nên trong năm 1911 ông mới hiệp sức với một vài nhà trí thức, quyền bính Sàigòn, Chợ-lớn mà khởi xướng được một vài việc rất mới mẻ có quan hệ mật thiết, ảnh hưởng lớn ở  xã hội Việt Nam ngày nay.

 

 Chú thích: (1) An-Nam là chỉ người Việt Nam.

   Phân biệt người Pháp gọi là Lang-sa tức là Francais)

2-Tôi muốn nói về việc lập Nữ Học Ðường:

Ðương giữa buổi mà sự giáo dục của con trai, đàn ông, hãy còn phôi thai, cậu nào đậu được bằng cấp Thành chung là đã tự Thánh, tự Thần, xách đi cùng Lục tỉnh đặng kiếm vợ giàu; đương giữa buổi mà những anh chàng du học đem về được cái bằng cấp Tú tài, thì đã hô lớn lên một cách rất vinh diệu, tự đắc rằng mình quên hết tiếng An Nam; đương giữa buổi mà khắp cả cha mẹ trong nước đều công nhận rằng: Cho con gái có nhiều ít học thức là một mối hại lớn cho gia đình, cho xã hội; đương giữa buổi như thế mà đứng ra đề xướng Nữ học, xin lập trường Nữ học để dạy bên gái bằng như bên trai, có phải là một việc quá bạo gan chăng ? Những người đề xướng có phải là những bực tiên kiến chăng ?

Bạo gan thật, tiên kiến thật, vì Chánh phủ lúc bấy giờ, như tuồng cũng cho việc ấy là một việc chưa hợp thời, lại trái với phong tục cũ kỹ của An-nam, nên chi tuy là không ngăn cấm, song cũng chẳng chịu xuất công nho ra làm chi phí, mà chỉ để cho những người xướng xuất mở cuộc lạc quyên, góp của công chúng, cất lên được mấy tòa nhà đồ sộ mà chúng ta còn thấy ở đường Le Grand de la Liraye; tòa nhà ấy đã đào tạo ra biết bao nhiêu nhơn tài trong nữ giới. Vậy mà nếu ai chịu khó lật cuốn sổ lạc quyên năm nọ ra xem, thì sẽ thấy ở dưới mấy lời tuyên bố có tên của ông Lê Văn Trung là người khởi xướng đứng kế phương danh bà cụ Tổng Ðốc Ðỗ-Hữu. Trong một cái phạm vi chánh trị eo hẹp, dưới chế độ chẳng phải khinh thường mà đã làm được những việc tôi vừa nhắc lại trên đây, thời tuy nó chưa phải là những sự nghiệp của anh hùng, vĩ nhơn, song thế cũng đủ gọi rằng khỏi mang tiếng “quì quì, dạ dạ” là cái danh hiệu của phần đông trong mấy ông Hội Ðồng, từ xưa đến nay, ở xứ này. Ðó là sự  nghiệp.

Còn công danh, nếu lấy theo nghĩa hẹp của nó và theo thế tình, thì ông Lê Văn Trung, Hội Ðồng Quản Hạt, Nghị viên Thượng Nghị Viện, thưởng thọ  Bắc  Ðẩu  Bửu Tinh, sanh tiền cũng đã từng có đủ công danh.

Nhưng, than ôi! Dầu cho những điều đó mà có thể gọi là công danh, sự nghiệp đi nữa, đối với người đã lấy lòng tín ngưỡng làm phương châm cho sự hành vi, lấy đức bác ái, phổ độ làm mục đích cho cái đời sống, thì công danh, sự nghiệp cũng chẳng nên nhắc lại làm chi. Vả, trước khi đem thân phàm tục để nhờ “Con Mắt huyền diệu của Thầy” soi thấu, thì Ông Lê Văn Trung cũng đã lãnh đạm với công danh sự nghiệp ấy. Ba bốn tháng trước khi nhập Ðạo, Ông Lê Văn Trung đã gởi đơn đề ngày 6 Octobre 1925 cho Quan Thống Ðốc Nam Kỳ mà xin từ chức Nghị Viên Thượng Nghị Viện.

“Mãi đến ngày mồng năm tháng Chạp năm Ất Sửu (28 Janvier 1926) ở Saigon, Ðức THƯỢNG ÐẾ giáng cơ dạy hai ông Cư và Tắc, đem cơ vô nhà ông Trung (Chợlớn, Quai Testard) cho “Ngài” dạy việc. Hai ông này lấy làm bợ ngợ, vì thuở nay chưa hề quen biết ông Trung"

- Ông Lê-văn-Trung ngộ Đạo:

Tôn chỉ “Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt” Đạo Cao Đài từng giai đoạn bành trướng nền Tân Tôn giáo:

Từ 1920-1926 giai đoạn này cầu cơ thỉnh Tiên để học hỏi về vô hình, các đồng tử được phong là Đạo sĩ hoặc Tiên đồng. Thời kỳ này, Đạo thu hút nhân tài lãnh-đạo Cao Đài về sau. Ông Lê Văn Trung cũng trong trường hợp những người thích nghe tiên tri, lời Thánh mà ngộ Đạo. Ngày 5-12-Ất Sửu (dl: 18-1-1926) Đức Chí-Tôn giáng cơ dạy hai ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc đem Cơ đến nhà ông Lê Văn Trung (ở Quai Testard) độ ông ấy.  

  Đức Hộ Pháp kể lại rằng:

 “Buổi nọ Ông Lê-Văn-Trung đang làm Thượng Nghị Viện. Hội-đồng Thượng Nghị-Viện chẳng khác bây giờ là một vị Tổng-Thống đời Pháp-thuộc. Chức Nghị Viện lớn lắm ! Ông là người Nam làm đến bực đó thôi; mà nghe ra Ông là người quá sức đời, Tôi và Đức Cao Thượng Phẩm không hạp chút nào. Tôi kỵ hơn hết, ý định không làm điều đó đặng. Khi chúng tôi ôm cái Cơ đến nhà Ngài đặng Đức Chí Tôn độ. Mục đích của chúng tôi là Đức Chí Tôn bảo đâu làm đó vậy thôi. Khi vô tới nhà thú thật với Ngài rằng chúng tôi được lịnh Đức Chí Tôn đến nhà Anh phò loan cho Đức Chí Tôn dạy Đạo.  Ông biết Đấng đó hơn chúng tôi (là nhờ Đàn Chợ Gạo đã nói ở trên). Lo sắp đặt bàn ghế sửa soạn buổi phò loan rồi ông nhập môn. Trong nhà có một người con nuôi tên là Thạnh còn nhỏ tuổi. Hai cha con kiếm được cái Cơ, vái cầu Cơ. Khi phò loan thằng nhỏ ngủ, ông thì thức. Cơ chạy hoài. Ông hỏi thì Đức Chí Tôn trả lời, chỉ có hai người biết với nhau thôi. Từ đó ông mới tin Đức Chí Tôn”.[(ĐHP 13-10-Giáp Ngọ (1954) ]

Trong đàn cơ  Đức Chí Tôn phán dạy:

         Ngài đã phân rằng: Ngài đã sai Lý-Bạch dìu dắt ông Trung nơi đàn Chợ-gạo đã lâu rồi. Đến ngày 21-1-1926, Đức Chí Tôn lại dạy rằng:

      “TRUNG, nhứt tâm nghe con. Sống cũng nơi Thầy, thác cũng nơi Thầy, thành cũng nơi Thầy mà đọa cũng nơi Thầy. Con lấy sự sáng mắt  của con mà suy lấy”.

                                  Thầy cho thi:

Một Trời, một Đất, một nhà riêng.

Dạy-dỗ nhơn-sanh đặng dạ hiền,

Cầm mối Thiên-Thơ lo cứu chúng.

Đạo người vẹn-vẻ mới thành Tiên (AĂÂ)

Ghi chú: Giấy Căn Cước của ông thời 1876,  trong Bằng cấp Bắc Ðẩu Bửu Tinh lại là 1875. Ông tuổi Tý, 1875 đúng hơn.

            Từ đó cho đến lúc qua đời, ông Lê Văn Trung được

sáng mắt lại. Con nuôi tên Thạnh khỏi dẫn dắt nữa. Sau đó

ông Ca Bảo Đạo cũng được Đức Chí Tôn cho sáng mắt.

Ông Trung cũng nhận được nhiều bài thi kế tiếp:

Mặt Nhựt hồi mô thấy xẻ hai ?
Có thương mới biết Đấng Cao Đài
Cũng con cũng cái đồng Môn đệ,
Bụng muốn phân chia hỏi bởi ai ?

Chuyện trên đây tôi do ở cuốn sách "Ðại Ðạo Căn Nguyên" của Ðạo Cao Ðài mà chép ra và chỉ để ghi lấy ngày nhập Ðạo cho tiện sự chia đời của ông làm hai đoạn:

- Ðoạn trước, ở thế gian: từ ngày 14 Juillet 1893, ông được bổ ra làm Thơ ký, cho đến 6 Octobre 1925 là ngày ông từ chức Nghị viên Thượng Nghị Viện.

- Ðoạn sau, thuộc về đời hành đạo: đời tu niệm của Ông, từ 28 Janvier 1926 cho đến 19 Novembre 1934.

Bước đường ở ngoài thế gian trong khoản 32 năm được hanh thông chừng nào, thì 9 năm trong Ðạo lại càng mắc phải nhiều khổ hạnh chừng nấy. Sau khi nhập Ðạo chưa đầy một năm, Ông với các Ðạo hữu đi thuyết đạo khắp cùng Lục Tỉnh và nội trong mấy tháng mà số người theo Ðạo Cao Ðài tính hơn một triệu, thì ông cùng Bà Lâm Hương Thanh, Chánh Phối Sư, với 247 người Ðạo hữu đứng vào một lá đơn trình với Chánh phủ xin phép KHAI ÐẠO..

3- Lá đơn ấy đề ngày 29 Septembre 1926:

nó là tấm Giấy Khai Sanh của Ðạo vậy.

Lúc bấy giờ, Ðàn cầu cơ đã có khắp cả mọi nơi: Cầu Kho, Chợ-lớn, Tân Kim, Lộc Giang, Tân Ðịnh, Thủ Ðức…mỗi chỗ đều có người chủ trương riêng. Vì Ðạo Cao Ðài là do ở Cơ Bút phát sanh; điều đó ai cũng biết. Tuy nhiên, chí kinh dinh kiến tạo của Ông ở ngoài đời Ông vẫn đem nó theo để đạt một mục đích khác. Vì Ông nóng lòng về sự lo cho nền Ðạo được thống nhứt, nên trong năm đó, ngày 19 Novembre, đêm 14 rạng Rằm tháng mười năm Bính Dần, thì làm lễ Khánh Thành Thánh-Thất ở Từ Lâm Tự và lễ chánh thức Khai Ðạo. Tính từng ngày một thì cộng là 8 năm, không thiếu không dư một bữa:

 - 19 Novembre 1926  khai Đạo

            - 19 Novembre 1934  ông mất.

Trong điều đó có chi huyền diệu chăng ?

Huyền diệu hay không, tôi tưởng ai là Tín đồ Cao Ðài, thời cũng phải lấy ngày đó làm một ngày kỷ niệm rất quí hóa, kỷ niệm lễ chánh thức KHAI ÐẠO, kỷ niệm húy nhựt của Ông Quyền Giáo Tông và kỷ niệm cho nhớ rằng hành đạo là một việc khó, Cơ Bút thường hay có những điều lưu tệ. Vì chánh ngay đêm đó, có hai Tín đồ nam và nữ tự xưng là Tề Thiên Ðại Thánh và Quan Âm Bố Tát nhảy lên làm cho công chúng thất vọng. Và cũng vì việc rắc rối ấy mà làm cho ai nấy đều ngã lòng, thối chí, thành thử nổi lên một cuộc công kích rất kịch liệt do những người hoặc vì thiển kiến, hoặc vì tư lợi mà sanh ra.

Có một điều lạ chẳng ai ngờ, là cái hiệu quả của cuộc công kích ấy chỉ làm cho số Tín đồ Cao Ðài mỗi ngày mỗi đông thêm.

Cách đó chẳng bao lâu, Thánh Thất Cao Ðài lại phải dời về nơi sở rừng 140 mẫu, tọa lạc tại làng Long Thành Tây Ninh  cho đến bây giờ. Trong khoảng thời gian từ ngày lập Ðạo cho đến lúc dời Thánh Thất về làng Long Thành, ông Lê Văn Trung đã trải biết bao nhiêu công khó mới gầy dựng nên được cơ sở vững chắc như ngày nay. Song Ông thường hay nói với tất cả mọi người:

- Công khó ấy đều nhờ ở lòng tín ngưỡng thành kính của anh em, chị em trong Ðạo. Công  của  tôi  chẳng

bao giờ lớn hơn công của một “Tiểu Giáo Nhi” nào !

Tuy nhiên, trong lúc vừa dời Tòa Thánh về làng Long Thành Tây Ninh, thì các Chức Sắc, các Giáo Hữu, các Tín đồ đều đã rõ thấu công lao của Ông đối với nền Ðạo, nên ai nấy đều vui mừng về việc ông được tôn lên Quyền Giáo Tông nhằm ngày mồng 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (1930). Vả lúc ấy, là lúc Ðạo đương trải qua thời kỳ toàn thạnh mà chủ quyền lại được thống nhứt về trong tay của một người nhiều kinh lịch, đủ nghị lực như ông LÊ VĂN TRUNG thì ai cũng tưởng nền Ðạo từ đó về sau sẽ được vững chải hơn.

Ai ngờ hai chữ “GÍAO TÔNG” lại thành ra cái cớ để khiến những tay cầm quyền Ðạo đương thời họ đã làm cho nảy sanh chẳng biết bao nhiêu việc chia lìa, oán khích. Chẳng những là ở trong Ðạo thì họ đã buộc tội, viết tờ Châu Tri để thống mạ, mà ngoài đời, thì họ lại còn xúi giục Tín đồ lầm lạc đem những việc phi lý, vô bằng cớ đến Tòa mà kiện và vu cáo với các nhà đương quyền rằng để cho Ông Lê Văn Trung cầm quyền Ðạo tức Cao Ðài là dung dưỡng cho một ổ cách mạng, họ đã làm cho đến nỗi lúc bấy giờ chẳng có ngày nào mà Ông Lê Văn Trung chẳng bị ông Thẩm-án nầy đòi hay là Tòa kia đem ra xử. Còn những Chức Sắc nào trong Ðạo mà ái mộ Ông Giáo Tông, thì họ lại kiếm phương nầy thế khác mà làm cho bị tù bị tội. Ðương giữa buổi nguy nan như thế, Ông Lê Văn Trung vẫn cứ điềm tĩnh, ngồi lo sắp đặt công việc bên Nữ phái trong Ðạo, mong sao cho Nam, Nữ được bình quyền mà nói rằng: “Ðiều ấy là một cái xa vọng của tôi đã có từ khi đương còn ở ngoài đời, cho đến ngày nhập Ðạo. Lúc trước tôi đã giúp bà cụ Tổng Ðốc Ðỗ Hữu lập trường Nữ Học, bây giờ tôi hiệp sức với Bà Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh tổ chức các Nữ Viện, cũng đồng một ý nghĩa. Tôi chỉ ước ao sao cho Nam-Nữ bất bình đẳng ở ngoài đời chẳng còn trong Ðạo nữa”.

Có nhiều người thấy Ông điềm nhiên như vậy, thì tức mà hỏi: Ngài không dùng phương pháp chi để đối phó với mấy kẻ tiểu nhơn kia sao?

- Sao mà lại được kêu những kẻ ấy là tiểu nhơn ? Nếu may mà mình phải, thời tự nhiên một ngày kia người ta sẽ biết quấy, lo ngại chi sự ấy. Song, than ôi ! Lời nói đó chỉ là đúng với lý tưởng của người lương thiện, tu hành. Chớ thật tế ở đời nầy có đâu được như thế !.

Sau khi đối với Ðạo, Ðạo biết Ông vô tội; đối với Tòa, Tòa biết Ông vô tội; cái danh hành Ðạo của Ông được trắng như tuyết.

Ông Lê Văn Trung, nguyên Thượng Nghị Viện thưởng thọ Bắc Ðẩu Bửu Tinh, Quyền GIÁO TÔNG CAO ÐÀI, lại do hai cái án “tuần cảnh” phạt hai tên đánh xe bò của Tòa Thánh về tội không thắp đèn và bò thiếu dây buộc ách mà phải bị bắt vô chịu tù ở khám đường Tây Ninh. Ngày Ông vô khám nhằm lễ Khai  hạ, mồng bảy  Tết  năm

Giáp Tuất (1934) trước Vía Trời vài ba bữa.

Tôi còn nhớ khi sơn-đầm đem hai bổn sao lục của hai cái án nói trên đây vô Giáo Tông Ðường đặng bắt Ông ra Tòa Bố Tây-Ninh, thì ông chậm rãi, khăn áo chỉnh tề, mang Bắc Ðẩu Bửu Tinh và huy hiệu Giáo Tông vào rồi đi theo sai-nha không nói một tiếng chi khác hơn là dặn các Giáo Hữu, các Tín đồ hãy yên lặng mà lo việc cúng Vía.

Mấy ngày Ông ngồi trong khám, ngoài Tòa Thánh từ các Chức Sắc cho đến Tín đồ họ đều nhịn đói chờ Ông. Mãn hạn ba ngày, Ông về Tòa Thánh, Chức Sắc, Tín đồ người khóc, kẻ ôm tay Ông hun, Ông xem cũng như tuồng có ý cảm động nhiều hơn trong những dịp khác.

Làm Lễ Vía Trời vừa xong thì  Ông  liền  viết  một

bức thơ gởi cho Chánh phủ mà xin trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh lại. Thơ ấy có nhiều câu ý vị sâu xa. Song tôi không muốn thuật ra đây, vì sau khi Quan Toàn Quyền ROBIN qua trấn nhậm, Ông đã có vào diện yết Ngài và hai đàng cũng đã điều đình công việc “Tự do tín ngưỡng” của Ðạo, thì nhắc lại chuyện cũ sợ e có hại đến hòa khí của Ông đã đào tạo ra. Tôi chỉ muốn thêm rằng trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh là một “việc làm” sau hết của cái đời sống của ông và nhắc lại lời của ông đã cắt nghĩa “việc làm” ấy:

- “Ðừng tưởng tôi trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh mà còn có

ý chi phiền Chánh phủ, trách những nhà đương quyền lúc bấy giờ. Danh giá thể thống của Viện Bửu Tinh buộc tôi phải làm như vậy. Tôi mà nói đây chẳng phải vì nghi sợ điều chi mà chỉ vì ước ao ai nấy đều hiểu rằng tôn chỉ, mục đích của Ðạo chúng tôi là Hòa bình, thân ái khắp cả chúng sanh “nhứt thị đồng nhơn” thì chúng tôi đâu được phép phiền trách hờn giận. Huống chi, theo thiển kiến của tôi đối với vấn đề thực dân, thì dầu cho lúc ban sơ nó là “việc làm do ở cường quyền” song dần dần bên cai trị và bên bị cai trị cùng nhau tiếp xúc, rồi biết rõ nhau mà yêu nhau, thì chúng ta lại có thể hy vọng rằng cái “việc làm do ở cường quyền” kia  sẽ  thành  ra  một  mối  dây  đoàn  thể, thân thiện của dân tộc nầy đối với dân tộc khác”.

Ðã nói đến thân thế sự nghiệp của Ông LÊ VĂN TRUNG tất nhiên là phải bàn đến ÐẠO CAO ÐÀI. Vì ông là một người sáng lập, lại là một ông Giáo Chủ. Ðạo Cao Ðài, thì ông là công Thủ, Ðạo Cao Ðài mà quấy, thì ông lại là tội Khôi. Song tôi còn nhớ Chương Thái Viêm,  nhà Bác học Tàu mỗi khi thảo luận đến các vấn đề Tôn giáo đều nói:

- “Thiên trung điểu tích, họa giả giai nan” nghĩa là

dấu chơn của con chim bay trên không, thợ  vẽ  nào  cũng

phải chịu là khó. Thật thế, người ta mà muốn tìm ra cội rễ của Tôn-giáo thời chẳng khác nào chú thợ vẽ muốn vẽ dấu chơn của chim bay trên không.

Huống chi, ÐẠO CAO ÐÀI mới phát hiện ra ở xứ nầy chưa đầy chín năm, bao nhiêu những lý thuyết hình thức của ÐẠO hiện đương còn ở thời kỳ phôi thai và do Cơ Bút mà có, thì chẳng thế chi nghị luận cho được xác đáng. Người tín ngưỡng do sự thần bí mà tín ngưỡng đã đành; chí như những kẻ công kích mà cũng đem sự thần bí ra đặng công kích thì thật là lạ. Song dầu chi đi nữa, tôi cũng nhớ rằng cái “biết” của loài người ngày nay chưa có thể chi giải quyết được những chỗ khuyết nghi ấy và ở trong khoản vài chục trương giấy viết ra cho kịp ngày Điếu tang, thì tôi đâu dám đem một vấn đề trọng đại như vấn đề Tôn giáo mà nghị luận. Tuy nhiên, trước khi ngừng bút, tôi còn muốn đứng về phương diện xã hội mà Ông Lê Văn Trung sanh tiền thường gọi là Nhơn Ðạo, mà kết luận:

Sự hành động của Ðạo Cao Ðài, từ khi sáng lập đến nay, không phải là mỗi mỗi đều được tận thiện tận mỹ. Ở trong đời, có chi là tận thiện tận mỹ? - Song nếu xét ra cho thật công bình, thì Ðạo Cao Ðài chưa hề làm điều chi có hại đến nhân quần xã hội. Trái lại, Ðạo Cao Ðài đã nhờ truyền bá giỏi, tổ chức hay mà gây nên tình thân ái, đoàn thể trong một triệu mấy dân Nam Kỳ là một việc đáng làm cho ai cũng nên kính phục. Ðó là tôi chưa nói đến cái đức tin rất mạnh mẽ của Tín đồ. Tôi chưa nói, là vì trước khi tôi muốn nhắc cho các Thiên Phong Chức Sắc trong Ðạo có trách nhậm kế chí của Ông Giáo Tông, đều nhớ rằng: Ðức tin là một con dao hai lưỡi. Nếu dùng nó phải, thì chẳng chi lợi bằng, nếu dùng nó quấy, thì chẳng hại nào hơn. Và chỗ đó là tội là công của Ông Lê Văn Trung vậy.

DIỆP VĂN KỲ (Viết tại Saigon ngày 28 Novembre 1934)

  II- Sứ mạng Cao-Đài-giáo nay phải làm gì?

            “Thầy dặn rằng: Thầy đến chẳng phải lập một nền Đạo mới mà đến đặng nhắc các con rằng: Ngày tận tuyệt đã hầu gần, Quỉ Vương sắp đến, Thánh ngôn các Đạo đã khai từ thuở tạo thiên không đủ kềm thúc nhơn sanh đặng trọn lành. Đời càng ngày càng trở nên hung bạo, nhơn loại giết lẫn nhau, cả hoàn cầu giặc giã, bịnh chướng biến sanh, thiên tai rắp đến. Ấy là các điều Thầy đã nói tiên tri rằng: Ngày tận thế đã đến!”

            Thầy  đã tạo thành đủ cả Pháp luật.

            Thầy đến chỉ độ kẻ vô Đạo chớ không phải sửa Đạo. Các con hiểu à!” (23-11 Bính Dần – 1926)

-Thọ Thiên Ân Đầu Sư Thượng Trung Nhựt:

Vào 30 Tết (Thứ Sáu: 12-02-1926), theo lịnh Đức Chí Tôn các Môn-đệ đầu tiên đi thăm và chúc Tết gia đình các Đạo-hữu. Đêm đó, phò loan là hai ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc. Mỗi ông đều được Đức Chí Tôn cho một bài Tứ tuyệt mà bài của ông Lê Văn Trung là một lời tiên tri về cơ Phổ độ sẽ phát triển :

Đã thấy ven mây lố mặt Dương,
Cùng nhau xúm xít dẫn lên đường.
Đạo cao phó có tay cao độ,
Gần gũi sau ra vạn dặm trường.

Đây là ý muốn của Ông Ngô văn Chiêu xin Đức Chí Tôn điểm danh các vị Môn đệ đầu tiên. Thầy liền giáng, là chiều theo ý muốn của Người. Cơ liền gõ:

Chiêu, Kỳ, Trung độ dẫn Hoài sanh
Bản Đạo khai  Sang, Qúi, Giảng thành
Hậu, Đức, Tắc, Cư thiên địa cảnh
Huờn, Minh, Mân đáo thủ đài danh.

Mười hai tên nhưng 13 Đệ tử, vì hai ông Võ Văn Sang và Cao Hoài Sang điểm chung một tên. Huờn, Minh, Mân là ba người khách của ông Vương Quan Kỳ đến hầu đàn.

*Đàn Phố Hàng Dừa (chợ Thái Bình) lập tại nhà ông Cao Quỳnh Cư không đủ cung ứng cho cơ Đạo ngày càng phát triển nên mở thêm các Đàn khác ở nhiều nơi.

* Đàn Cầu Kho.

* Đàn Lộc Giang tại chùa Phước Long (Chợ Lớn)

* Đàn Tân Định tại nhà ông Nguyễn Ngọc Thơ,

* Đàn Thủ Đức

* Đàn Tân Kiêm (Cần Giuộc).

            Theo chính quyền Pháp, ở Nam Kỳ đã xuất hiện hai mươi mốt địa điểm là nơi lập đàn của Đạo Cao Đài  (Gouvernement Général de I' Indochine, Contribution à I'Histoire des Mouverment Politique de I' Indochine  Francaise, VII- Le Caodaisme - Hà nội 1934, trang 81 ).

Việc lập Đàn Cơ phổ độ lúc đầu đem lại nhiều kết quả tốt. Nhiều người có địa vị và giàu sang theo Đạo như Đốc phủ Lê Bá Trang, Tri phủ Nguyễn Ngọc Tường, Lê Văn Hoá, Ông Bà Huyện Nguyễn-Ngọc-Thơ và Lâm Thị Thanh. Các bậc chân tu như Lê-Văn-Lịch, Trần Đạo Quang, Nguyễn-Văn-Kinh, Hoà Thượng Như Nhãn, Yết Ma Luật, Yết-Ma Nhung ...

Người nhập môn ngày càng đông, các ông Trung, Kỳ, Bản lập đàn giảng đạo, ông Cao Quỳnh Diêu lo việc Lễ Nhạc, Bà Mỹ Ngọc lập Đồng nhi, Bà Nguyễn-Thị-Hiếu may áo mão cho kịp kỳ Thiên-phong.

Để chuẩn bị Thiên-phong tại nhà ông Lê Văn Trung, Đức Cao-Đài dạy ông Trung sắp đặt bốn cái ghế để tạm thay một Ngai Rồng (Giáo Tông) và ba Ngai Lân (3 vị Đầu Sư).

Bàn thờ Ngũ Lôi đặt phía trước Thiên Bàn, có  bài  vị “Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hoá Thiên Tôn” và lá bùa Kim Quang Tiên. Đối diện với Thiên Bàn lập bàn Vi Hộ-Pháp (Vi-Đà Hộ-Pháp, một trong Tứ Thiên Vương, viết bằng chữ V. Hai bàn thờ này cho Đạo hữu (Đạo hữu là bạn đạo. Chức sắc và Tín đồ mới là cấp bực người theo Đạo) lập thệ khi được phong Chức sắc hay khi mới nhập môn.

Đêm 13-3-Bính Dần (dl: 24-4-1926), Đức Chí Tôn dạy vì sao phải lập các phẩm Chức sắc như vầy:

            "Thầy nhứt định chính mình Thầy đến mà độ rỗi các con, chẳng chịu giao Thánh giáo cho tay phàm. Nhưng mà buộc phải lập Chánh thể có lớn nhỏ đặng dễ bề cho các con dìu dắt lẫn nhau. Anh trước em sau mà đến nơi Bồng Đảo".

            Tuy vậy, Đức Chí Tôn nhấn mạnh:

“Chẳng một ai dưới thế này còn đặng phép nói rằng thế quyền của Thầy mà trị phần hồn cho nhân loại”.

Ngày 14-3 (dl: 25-4), Đức Chí Tôn dạy cách hành lễ Thiên phong, về sau coi đó mà noi theo.

Trước bàn Ngũ Lôi, hai tay chấp trên trán, cúi xuống lá bùa Kim Quang Tiên và thề.

       Ðức Chí Tôn giáng cơ tại nhà Ngài Trung và thực hiện cuộc Thiên phong tại đây, vào ngày: 14-3-Bính Dần, (Chúa nhựt: 25-4-1926). Phò loan: Cư - Tắc.

Thầy dạy: “Biểu hai vị Ðầu Sư xuống ngai, đến quì trước mặt Ngũ Lôi, hai tay chấp trên  đầu,  quì  ngay bùa Kim Quang Tiên mà thề như vầy:

"Tôi là Lê Văn Trung tự Thiên ân là Thượng Trung Nhựt và Lê Văn Lịch tự Thiên ân là Ngọc Lịch Nguyệt, Thề Hoàng Thiên Hậu Thổ trước bửu pháp Ngũ Lôi rằng làm trọn Thiên đạo mà dìu dắt cả mấy em chúng tôi đều là Môn đệ của Cao Ðài Ngọc Ðế, nhứt nhứt do lịnh Thầy phân định, chẳng dám chuyên quyền mà lập thành Tả đạo, như ngày sau hữu tội thì thề có Ngũ Lôi tru diệt."

Ðến bàn Vi Hộ Pháp cũng quì xuống, vái y vậy, điều câu sau  thì  như vầy: "Như  ngày  sau  phạm  Thiên

điều, thề có Hộ Pháp đọa tam đồ bất năng thoát tục."

  ĐỌA TAM ĐỒ BẤT NĂNG THOÁT TỤC

            E: To be pumished three tours of metempsychosis, without going out from world

F: Être puni à trois tours de métempsycose, sans pouvoir sortir de monde 

            Ðọa Tam đồ bất năng thoát tục là Ðọa đày ba vòng luân hồi không thể thoát khỏi cõi trần, tức là bị luân hồi từ phẩm kim thạch cho đến phẩm nhơn loại, rồi trở lại kim thạch, luân hồi ba vòng như vậy thì mới xong hình phạt.

Câu thề “Tận đoạ tam  đồ  bất  năng  thoát  tục” để thấy sự nhiệm mầu của Đạo pháp: Chơn linh nào bị “Tận đoạ Tam đồ” thì bị ngăn cản, không hiệp được với Chơn thần (tức đệ Nhị xác thân) phải chuyển kiếp trở lại từ Kim thạch cho tới con người, như thế ba vòng. Nói cách khác: là ai phạm thệ thì bị đoạ xuống cấp chót là vật chất rồi tiến lên thảo mộc, thú cầm mới tới nhơn phẩm. Đây là một vòng. Mỗi vòng tiến hoá như thế gọi là “Đồ” (nghiã là con đường) khoảng ngàn (1.000) năm. Ba vòng cộng lại là ba ngàn năm (3.000 năm)

“Bất năng thoát tục” là lẩn quẩn trong cõi đoạ đày, không trở về với Đức Chí-Tôn được. Tại sao vậy ? Bởi vì trong ba ngàn năm “Tam đồ” Chơn linh lỗi thệ phải trả quả nghiệp, không rảnh rang lập công mà về Thiên Đàng.

Thể hiện lời thề này là sau khi  tốt  nghiệp  Luật  sự

Pháp  Chánh Hiệp-Thiên Đài, các Tân khoa phải thề trước

Cung Đạo Bát-Quái Đài, câu này:

            “Chúng tôi là Luật sự Pháp Chánh thề luôn luôn trung thành với Đạo và giữ dạ vô tư hành sự, nếu phạm lời Minh Thệ này sẽ bị các Đấng Thiêng liêng hành pháp “Tận đoạ Tam đồ bất năng thoát tục”.

Như thế, chìa khóa "Đại ân xá, tận độ chúng sanh" được mở ra, nếu ta biết ăn năn và tu luyện kiếp sanh trở nên tốt đẹp.

Đến thời Tý, ngày 15-3-Bính Dần (dl: 26-4-1926) Đức Chí Tôn ân phong:

- Đầu Sư Thượng Trung Nhựt  (Lê Văn Trung)
- Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt      (Lê Văn Lịch)
- Thượng Sanh Cao Hoài Sang
- Thượng Phẩm, Tá Cơ Tiên Hạc Đạo Sĩ Cao Quỳnh Cư.

- Hộ Pháp Hộ giá Tiên Đồng Tá Cơ Đạo Sĩ Phạm Công Tắc.
- Tiên Hạc phò cơ Đạo Sĩ : Trương Hữu Đức và  Nguyễn                                                                        Trung Hậu.
- Tiên Sắc Lang Quân Nhậm Thuyết Đạo Giáo Sư:

                                             Vương  Quan Kỳ.
- Tiên Đạo Công Thần Thuyết Đạo Sư : Đoàn Văn Bản.

Từ Xây bàn đến đây chưa tròn một năm mà cơ chế Hội Thánh đã manh nha hình thành hai Đài: Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài. Đó là niềm vui lớn cho nhân sanh, nhưng là nỗi lo cho chính quyền bảo hộ. Vì thế, Ngài Lê Văn Trung phải sắp xếp mọi thủ tục để khai Tịch Đạo hầu  tránh mọi khó khăn sau này.

 Khai tịch Đạo với chính quyền Pháp:

Tập trung nhiều người mà không có giấp phép hội họp là nỗi lo lớn của Ngài Lê Văn Trung. Các Đàn cơ đâu thể nào tránh khỏi sự theo dõi của Mật thám Pháp. Ông phủ Chiêu, Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang biết Luật pháp chính quyền đô hộ hơn ai hết. Dù được điểm đạo là Môn đệ của Đức Cao Đài, các Ông vẫn lánh xa các cuộc tụ tập đông đảo. Trong tập Le Caodaisme, Thanh tra Lalaurette đã nhắc đến các văn kiện lập qui thời đó về Tín ngưỡng dân gian:

- Điều 144 Hình luật, Quyển 6, Đoạn 6 bắt nạn nhân phải chịu xử giảo.

- Nghị định ngày 22-4-1873 cho phép truy nã những Tín đồ. Đô đốc La Font cho mật thám trà trộn theo dõi các nơi đáng nghi ngờ. (Lalaurette et Vilmont, Le Caodaisme,Sàigòn 1933, tr.91).

- Pháp cho Thông dịch viên Nguyễn Văn Tường, cảnh sát Trần Văn Tạ, quản Báo, trà trộn để theo dõi Đạo nhưng rốt lại các người này lại theo Đạo và thọ Thiên ân.

1- ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG ĐĂNG TIÊN

            Người Đệ tử Đức Cao Đài đầu tiên là Ngài Ngô Văn Chiêu. Trong đàn cơ 14-10-1926, Đức Chí Tôn dự kiến phong cho Ngài làm Giáo Tông nên dạy rằng :

"Trung, Cư, Tắc ba con lập tức lên Chiêu, biểu nó sắm liền một bộ Thiên phục màu trắng, có các quẻ của Bát Quái y theo Thầy vẽ, thêu bằng chữ vàng. Dặn nó mua thứ hàng thiệt tốt, mão cũng vậy".

            Vốn là "Chiêu minh linh giác"  (ngộ  đạo  thấy  rõ),

Ngài biết Đức Cao Đài thử lòng đệ tử vì áo Giáo Tông chỉ vẽ là áo Tiểu phục dành cho Ngài Lê Văn Trung sau này. Đến khi ban hành Pháp Chánh Truyền, toàn đạo mới biết:

"Bộ Đại phục Giáo Tông thì toàn trắng, có thêu bông sen vàng từ trên tới dưới, hai bên cổ áo, mỗi phía có ba cổ pháp là Long Tu phiến, Thư Hùng kiếm và Phất Chủ. Đầu đội mão vàng năm từng Bát Quái".

Đức Hộ Pháp đã thuyết Đạo (1948) rằng:

       "Mỗi vị tín đồ đều có cái mão Giáo Tông và Hộ Pháp,

không lấy được là lỗi ở mấy em, chẳng lẽ Đạo chỉ có một người cầm đầu mà người đó chết thì diệt tiêu nền Đạo".

            Nhưng phải lên ngôi Giáo Tông, Hộ Pháp thế nào cho phù hợp với luật lệ Đạo. Khi Ngài Ngô không tới thọ phong tại nhà Ngài Lê Văn Trung, mãi đến ngày 29-10-1926 Đức Chí Tôn mới giao “quyền thưởng phạt đã vào tay Lý Thái Bạch". Sau đó Đức Lý thấy không thể giải quyết mọi việc phàm trần nhanh chóng nên "ban quyền cho Thượng Đầu Sư thay mặt cho Lão mà thi hành các phận sự Quyền Giáo Tông về phần xác, còn về phần Thiêng Liêng có Lão".  

  Lưu ý mấy chữ "Quyền Giáo Tông về phần xác", tức là Ngài Lê-văn-Trung chỉ được nửa quyền Giáo Tông.

Đây phải thấy rõ không ai phủ nhận rằng Thầy đã ban quyền Giáo Tông cho Ông Ngô văn Chiêu trong 10 ngày, nhưng ông Chiêu không được vinh-hạnh hưởng phẩm ấy vì bị quỉ khảo nên ông bị rớt ngôi Ngôi Tông.

   Tuy nhiên con số 3 chỉ ngôi Giáo Tông vẫn tròn đầy:

- Đức Lý là Giáo Tông vô vi, thuộc về Thần

-Đức Quyền Giáo Tông, trung gian giữa vô và hữu là Khí.

- Ngài Ngô văn Chiêu có công kêu gọi thuộc về Tinh.

Tinh-  Khí-  Thần đã hiệp thành Tam Bửu vậy.

Kết luận: Trong thời Tịch đạo Thanh Hương, nơi cửa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ này, ngòai ba vị Giáo Tông kể trên thì không một ai được xứng danh là Giáo Tông cả.

2. Châu tri báo tang của Hội Thánh:

Đức Quyền Giáo Tông bị chói nước mang bịnh sốt rét rừng phải nằm nhà thương. Chẳng ngờ bịnh trở nặng, nóng nhiều, uống thuốc vô ói ra hết, không ăn, rồi qui Tiên. Toà Thánh báo tin như sau:

“Hội Thánh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ rất đau đớn

mà cho chư Hiền huynh, Hiền tỷ hay tin buồn: Đức Quyền

Giáo Tông đã qui Tiên tại Giáo-Tông-Đường ngày 13-10-Giáp Tuất (19-11-1934) hồi 3 giờ chiều hưởng thọ 59 tuổi.

           Lễ tống chung định ngày 26-10-Giáp Tuất đúng 9 giờ sớm mai”.

>>>o0o<<<

 

03 - Ông Lê-văn-Lịch (1890-1947)

Thánh danh Ngọc Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt

 

 

Thánh ngôn Thầy dạy:

Ngọc Ðàn Vĩnh Nguyên Tự  (Cần Giuộc)
Thứ bảy ngày 17-7-1926  (âl 8-6-Bính Dần)

Thầy,

“Hỉ chư môn đệ, chư ái nữ. Ðại hỉ! Ðại hỉ!

Ngọc Ðầu Sư khả tu truyền pháp, thuyết đạo.

Kẻ nào trai giới đặng 10 ngày đổ lên, thọ bửu pháp đặng.

Chư môn đệ phải trai giới. Vì tại sao?

Chẳng phải Thầy còn buộc theo Cựu luật, song luật ấy rất nên quí báu, không giữ chẳng hề thành Tiên Phật đặng. Thầy cắt nghĩa: Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel, mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng.

Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh- Khí- Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra thì lấy hình ảnh xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh, Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng. Còn có Thần không có Tinh, Khí thì khó huờn đặng Nhị xác thân.

Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng.

Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái Chơn thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn khôn đặng.

Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng.

Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết.

Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng.

Như rủi bị huờn, thì đến khi đắc Đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d'électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt.

Còn như biết khôn thì ẩn núp  tại  thế  mà  làm  một

 bậc Nhân Tiên thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn.

Vì vậy, Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo.”

Ông Lê văn Lịch là Thầy Tu làng Long-An Chợ Lớn.  Ngọc Lịch Nguyệt là Thánh danh của  Ngài  Lê  Văn

Lịch,  Đức Chí Tôn phong Ngài làm  Đầu  Sư  phái  Ngọc.

Ngài Ngọc Lịch Nguyệt, hiệu là Thạch Ẩn Tử, sanh ngày mùng 1 tháng 9 năm Canh Dần (dl: 14-10-1890) tại làng Long An, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn.

Thân sinh của Ngài là Cụ Lê Văn Tiểng, tu theo Đạo Minh Sư đến bực Thái Lão Sư, hiệu Lê Đạo Long, là người sáng lập ngôi chùa Vĩnh Nguyên Tự ở Cần Giuộc. Cụ Tiểng tu đắc đạo, sau khi qui liễu, đắc quả Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn. Cụ có lời di chúc:

"Lập Vĩnh Nguyên Tự để sau nầy có Thập Nhị Khai Thiên đến mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ."

Thân mẫu của Ngài Lê Văn Lịch là Cụ Bà Trần Thị Đắc, hiền nội của Ngài là Bà Trần Thị Khá, con gái của Ngài Trần Văn Thụ (Ngọc Chưởng Pháp). Ngài Lê Văn Lịch có người con gái là Cô Lê Ngọc Trang, Đạo hiệu Bạch Tuyết.

Ngài Lê Văn Lịch thọ nhận từ phụ thân bí thuật huyền môn của Đạo Lão (Tiên giáo) và Y thuật. Sau khi nhập môn vào Đạo Cao Đài, Ngài không dùng bí thuật huyền môn nữa, chỉ truyền lại cho con gái Lê Ngọc Trang về Y học cổ truyền.

Đầu năm Bính Dần 1926, quí Ngài Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc được lịnh Cơ Bút dạy xuống Vĩnh Nguyên Tự lập đàn cầu Cơ, Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn (Cụ Lê Văn Tiểng, đạo hiệu Lê Đạo Long, thân sinh của Ngài Lịch) giáng cơ dạy Ngài Lịch, lúc bấy giờ đã tu tới bực Dẫn Ân (Minh Đường), phải hiệp với quí Ngài CƯ

TẮC để mở Đạo Cao Đài.

Trong thời gian nầy, Ngài Đốc phủ Nguyễn Ngọc Tương đang làm Chủ quận Cần Giuộc đã gia nhập Đạo Cao Đài, nên cũng khuyên Ngài Lê Văn Lịch nhập môn vào Đạo Cao-Đài.

Đêm 12-3-Bính Dần (dl: 23-4-1926), Ngài Lê Văn Lịch được Đức Chí Tôn giáng cơ ân phong Ngọc Đầu Sư, Thánh danh Ngọc Lịch Nguyệt, cùng một lượt với Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, trong cuộc Lễ Thiên phong đầu tiên tại nhà Ngài Lê Văn Trung (Chợ Lớn).

Trong TNHT, Đức Chí Tôn có giáng cơ dạy Ngài Ngọc Lịch Nguyệt như sau: TNHT. I.14:

"Cao Đài. Lịch! Con nghe Phật Như Lai nói chưa?

Tam Kỳ Phổ Độ là gì ? - Là phổ độ lần thứ ba.

Sao gọi là phổ độ? Phổ độ nghĩa là gì?

- Phổ là bày ra, độ là cứu chúng sanh.

Muốn trọn hai chữ Phổ độ, phải làm thế nào? Chúng sanh là gì ?

- Chúng sanh là toàn cả nhơn loại, chớ không phải là lựa chọn một phần người, như ý phàm các con tính rối.

Muốn trọn hai chữ Phổ độ, phải làm thế nào? Thầy hỏi?-  Phải bày bửu pháp chớ không đặng giấu nữa. Con phải luyện lại cho thành, nội trong tháng năm nầy về theo Trung đi truyền đạo. Nghe và tuân theo...

Phải mặc y phục như Trung, mà màu hồng."

TNHT. I. 22:

"Thích Ca Như Lai thị Ngã, dục cứu chúng sanh, tá danh Cao Đài Đại Bồ Tát. Nhữ tri hồ?

Hữu Ngã đồ Thái Đầu Sư tại thử, nhĩ vô thức luyện đạo, Ngã phái Ngọc Đầu Sư chỉ giáo thọ bửu pháp.

            Tam thập tứ vị chúng sơn bất tri Chơn lý luyện thành. Ngã vi Chủ khảo giáo hóa. Khả tuân Ngã mạng.

Nhữ đẳng tu thọ pháp, tu thọ pháp. Khâm tai!".

Diễn nôm:

Thích Ca Như Lai là Thầy (TA), muốn cứu chúng sanh, tá danh Cao Đài Đại Bồ Tát. Con biết không?

Có học trò của Thầy là Thái Đầu Sư tại  đây,  nó  không

biết luyện đạo. Thầy phái Ngọc Đầu Sư chỉ giáo thọ bửu  pháp.

34 vị tăng không biết Chơn lý luyện thành. Thầy là Chủ khảo giáo hóa. Khá tuân lịnh Thầy.

Các con tu thọ pháp, tu thọ pháp. Kính vậy thay!

            Quyển "TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH:

Những ngày đầu Khai Đạo, Ngài Ngọc Lịch Nguyệt đóng vai trò quan trọng không kém Ngài Thượng Trung Nhựt.

Ngài được lịnh Đức Chí Tôn sưu tập ba bài Kinh Tam giáo trong Kinh Tam Thánh Đại  Động để  làm  Kinh

của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ. Ngài cùng với Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt phụng soạn và ban hành quyển "TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH", trong đó các bài Kinh Nhựt Tụng của Đạo Cao Đài được viết bằng chữ Nho, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, cùng là giải thích ý nghĩa tổng quát của mỗi câu kinh, có phần phụ thêm giải về Nghi tiết phụng thờ của Đạo Cao Đài, in và ban hành vào năm Mậu Thìn (1928).

Khi hai Ông Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang rút khỏi Toà Thánh Tây Ninh lập Ban Chỉnh Đạo ở Bến Tre, thì Ngài Ngọc Lịch Nguyệt cũng rời Tòa Thánh, trở về Vĩnh Nguyên Tự tu hành.

Năm 1943, trong công cuộc nhà cầm quyền Pháp khủng bố Đạo Cao Đài, Ngài bị họ bắt đày đi Côn Đảo, đến năm 1945, Ngài mới được trả tự do trở về.

         Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt bị sát hại trong cuộc

chiến chống Pháp xâm lược của phong trào Việt Minh, Ngài qui tại Chợ Lớn ngày 2-9-Đinh Hợi (dl: 15-10-1947) thọ 58 tuổi. Mộ của Ngài đặt tại phần đất phía sau Vĩnh Nguyên Tự, gần mộ của thân phụ Ngài là Cụ Lê Văn Tiểng. Ngài Ngọc Lịch Nguyệt thỉnh thoảng có giáng cơ tại đàn cơ ở Vĩnh Nguyên Tự. Ngày 7-1-Ất Tỵ (1965),

                     THI
NGỌC  chiếu khai xuân đã vẹn tròn,
LỊCH  trình quí giá đáng vàng son.
NGUYỆT  lai sẽ rõ cơ mầu nhiệm,
MỪNG
 thấy đệ huynh chí chẳng mòn.

Hỡi chư Hiền Đệ, Hiền Muội!

                       THI
Bần Đạo thấy khắp trong huynh đệ,
Gối đã dùn, chẳng nệ mỏi xương.
Bạc màu tóc đã điểm sương,
Mà không nệ nhọc trên đường quả công.

 

Thiệt quí giá phúc hồng hiếm có,
Bước dặm trường đi đó đi đây.
Phổ thông giáo lý Đạo Thầy,
Thiêng liêng nương đó giải bày thiệt hơn.

 

Dầu nóng bức chẳng sờn cực nhọc,
Dẫu ngày đêm lăn lóc phụng hành.
Hiệp hòa lớn nhỏ em anh,
Rày đây mai đó chẳng canh cải lời.

 

Bần Đạo thấy nghĩ thôi quá tiếc!
Mảnh thân phàm bị diệt tiêu tan.
Lấy đâu làm một con thoàn,
Để cùng huynh đệ một đàng thi đua.

 

Còn ở tục dễ thừa hành đạo,
Nương cõi đời giả, tạo cái Chân.
Có nhiều phương tiện xa gần,
Để mà khuyến thiện dìu nhân trở về.

 

Như Bần Đạo lỡ bề thoát tục,
Cõi vô hình mấy lúc tiếc thương.
Tùng chung Tiên Phật một đường,
Muốn dìu sanh chúng phải nương cơ huyền.

 

Vì lẽ đó lời khuyên hơn thiệt,
Để đệ huynh nghiệm biết gần xa.
Ráng mà khắc kỷ xông pha,
Ráng mà giữ tánh để ra giúp đời.

 

Đừng bê trễ than ôi uổng bấy!
Đời mỏi mòn chẳng phải còn xa.
Trước tiên gìn giữ chữ Hòa,
Tuy rằng số ít mà ra muôn phần.

 

Đến Chùa, Thất, rửa lần tội lỗi,
Nghe kệ kinh tắm gội linh hồn.
Mau chân mà tiến bước dồn,
Quả đầy công đủ bảo tồn nguyên căn.

                     THI
Căn lành gìn giữ chớ buông lơi,
Dù mấy năm qua cũng một đời.
Mải miết mặc, ăn cùng chỗ ở,
Hơi tàn vạn sự thảy buông trôi.

 

Ðêm 22 rạng 23-4-1926 (âl 11/ 12-3-Bính Dần

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
Giáo Đạo Nam phương

I. Ba con nghe dạy cuộc sắp Thiên phong:

“Các con vui không?

Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh. Thầy nôn nóng nhưng mà Thiên cơ chẳng nghịch đặng, nên phổ thông trắc trở.

Vậy thì ba con (Trung, Cư, Tắc) cứ sắp đặt thế nầy: Trung nghe! Con dời bài vị của Lý Bạch để dưới tượng Thầy, con dọn dẹp trong hết, để một cái ghế kế một bên tran thờ, rồi để lên một cái ghế lớn đặng làm ngôi Giáo Tông, ba cái nữa để sắp hàng theo ở dưới đặng làm ngôi cho ba vị Ðầu Sư. Con phải bao bốn cái ghế ấy cho tinh khiết. Con đem Thiên phục Giáo Tông để nơi ghế ở trên, còn bộ Thượng Thanh thì để giữa, bộ Ngọc Thanh bên hữu, còn ghế bên tả, con phải viết một miếng giấy để chữ "Thái" cho lớn mà dán lên chỗ dựa.

Ngay chỗ bàn ngự của Thầy, phải để một cái ghế trước ngôi ba vị Ðầu Sư, vọng một bài vị, biểu Lịch viết như vầy:

CỬU THIÊN CẢM ỨNG LÔI THINH PHỔ HÓA THIÊN TÔN" lại vẽ thêm một lá bùa "KIM QUANG TIÊN" để thòng ngay giữa, ai ai ngó vào cũng đều thấy đặng. Bàn Thầy giáng cơ thì để trước bàn vọng Ngũ Lôi, khi giáng cơ rồi thì dời đi cho trống chỗ, đặng nhị Ðầu Sư quì mà thề.

Con lại để thêm một cái bàn giữa bên cửa sổ, đằng trước ngó vô.

II. Cư! Nghe dặn. Con biểu Tắc tắm rửa sạch sẽ (xông hương cho nó), biểu nó lựa một bộ quần áo Tây cho sạch sẽ, ăn mặc như thường, đội nón. Cười....

Ðáng lẽ nó phải sắm khôi giáp như hát bội, mà mắc

nó nghèo, Thầy không biểu. Bắt nó lên đứng trên, ngó mặt ngay vô ngôi Giáo Tông, lấy chín tấc vải điều đắp mặt lại. Lịch! Con viết một lá phù "GIÁNG MA XỬ"  đưa nó  cầm.

Các con phải thanh tịnh, kể từ ngày nay diệt tận phàm tâm, chớ nhơ một điểm thì ngày ấy thề mới đặng.

Cư! Khi đem ba bộ Thiên phục đến vọng trên ba cái ngai thì con phải chấp bút bằng nhang như mọi lần, đặng Thầy trấn Thần trong ba bộ Thiên phục và ba ngai ấy, rồi mới kêu hai vị Ðầu Sư đến quì trước bửu ngai của nó, đặng Thầy vẽ phù vào mình.

Khi hai vị Ðầu Sư vái rồi, phải đến trước Bửu điện Thầy mà làm lễ (12 lạy) và trước ngôi Giáo Tông (9 lạy), rồi biểu Giảng xướng lên: "Phục vị", thì hai người leo lên ngồi. Cả thảy môn đệ phân làm ba ban, đều quì xuống.

Biểu Tắc leo lên bàn, con chấp bút bằng nhang, đến bàn Ngũ Lôi đặng Thầy triệu nó đến, rồi mới tới trước mặt Tắc đặng Thầy trục xuất Chơn thần của nó ra, nhớ biểu Hậu, Ðức, xông hương tay của chúng nó, như em có giựt mình té thì đỡ.

Rồi biểu hai vị Ðầu Sư xuống ngai, đến quì trước mặt Ngũ Lôi, hai tay chấp trên đầu, quì ngay bùa Kim Quang Tiên mà thề.

Tới phiên các Môn đệ, từ người đến bàn Ngũ Lôi mà thề rằng:

"Tên gì? . . . Họ gì? . . . Thề rằng: Từ đây biết một Ðạo Cao Ðài Ngọc Ðế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Ðài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Ðịa lục." (36 chữ)

Tới trước bàn Hộ Pháp cũng thề như vậy, rồi mới đến lạy nhị vị Ðầu Sư.

Bài Thánh Ngôn trên được chia làm hai phần: I và II.

      -PhầnI có trong ÐS.I.108 và Phần II có trong ÐS.I.112.

*Phần I: Ðức Chí Tôn giáng cơ tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư, vào đêm 22 rạng 23-4-1926, Phò loan: Cư - Tắc, hầu đàn có mặt hai Ngài Trung và Lịch. Ðức Chí Tôn dạy hai Ngài Trung và Lịch sắp đặt cuộc Thiên phong nơi nhà Ngài Trung ở đường "Quai Testard", Chợ Lớn.

*Phần II: Ðức Chí Tôn giáng cơ tại nhà Ngài Trung và thực hiện cuộc Thiên phong tại đây, vào ngày Chúa nhựt 25-4-1926 (âl: 14-3-Bính Dần), Phò loan: Cư - Tắc.

Trong ngày nầy, Ðức Chí Tôn trục xuất Chơn thần của Ngài Phạm Công Tắc để Chơn thần của Vi Hộ Pháp nơi cõi thiêng liêng nhập vào, mượn xác Phạm Công Tắc chứng thệ cho nhị vị Ðầu Sư và các môn đệ Ðức Chí Tôn.

Xong rồi, Ðức Chí Tôn lập Minh Thệ cho hai vị Ðầu Sư: Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt.

Sau, Ðức Chí Tôn lập Minh Thệ cho các môn đệ. Ðức Chí Tôn nói: "Bộ Ngọc Thanh bên hữu, còn ghế bên tả để chữ Thái." Nếu tả hữu nầy là bên hữu và bên tả của Ðức Chí Tôn.

            Thơ, con đã ngoan đạo, mà sự ngoan đạo của con đó còn độ lắm kẻ. Thầy khen con!.

Bính, Thầy thưởng công con, cho lên chức Phối Sư. Thầy cám cảnh lòng yêu mến của con, Thầy cám ơn lòng đạo đức của con. Sanh linh còn nhờ công con mà thoát qua khổ hải.

Bản, Thầy thăng chức Giáo Sư.

Trò, Thầy cho lên chức Giáo Hữu.

Nhiều đứa khác nữa, ngày mùng 9, Thầy biểu đòi về cho Thái Bạch phong thưởng.

Thầy ban ơn trọn cả các con, dầu không có mặt tại đây cũng vậy.

Thầy giở cơ lên, các con đều chun ngang qua cho Thầy ban Phép Lành.

Thầy cầu cho các con đặng ngoan đạo như Thơ vậy, sửa mình cho nên Chí Thánh, vì Ðạo năm nay sẽ rõ thấu hoàn cầu, môn đệ tăng thêm hằng hà sa số, phận sự các con lại càng nặng nề hơn nữa, nhưng các con nhớ biết thương Thầy, mà hễ thương Thầy thì ắt thương Ðạo, mà hễ thương Ðạo thì thương hết chúng sanh. Các con biết Thầy là trọng thì biết trọng Ðạo, mà hễ trọng Ðạo thì cũng phải trọng cả chúng sanh.

Trong tháng Giêng nầy, Thái Bạch sẽ hội Nữ phái đặng lập cho hoàn toàn. Thầy trông công các con lắm đó.

Thầy ban ơn cho các con một lần nữa. Thầy thăng”

          2- ĐẦU SƯ NGỌC LỊCH NGUYỆT

            Ngày 28-02-Bính Dần (dl: 10-04-1926) Đức Chí Tôn khai đàn cho ông Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt:

          Đức Cao-Đài dạy: Trung, sau khi cho chư Nhu cầu Đạo rồi, phải khai đàn cho Lịch nội ngày nay. (sau khi khai đàn tại Vĩnh Nguyên Tự xong, chư vị lập đàn Cơ, Đức Chí-Tôn giáng ban cho Ngài Lê-văn-Lịch 4 câu thi):

Đầu Sư phái Ngọc hiệp quần Nho,

Tam Giáo Qui Nguyên dẫn ngã đồ,

Vạn tải vô tư đương hội ngộ,

Đạo thành chí khởi lập Da-Tô.

Ngày 14-07-Bính Dần (dl: 21-08-1926) Thầy dạy về trường hợp Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt. Bài này có in trong Thánh Ng ôn Hiệp Tuyển, xin trích ra một đoạn:

“…Nhưng có điều là Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ nên tu nhiều mà thành ít. Vì vậy các con coi thử lại, từ 2000 năm nay bên Á-Đông này đã đặng bao nhiêu Tiên Phật. Các con duy biết có một mình Huệ Mạng Kim Tiên mà thôi”.

(Phần bổ sung) “Các con nghĩ sự tu hành khổ hạnh

dường nào. Đời mạt kiếp này dữ nhiều lành  ít.  Nếu  Thầy

không chuyển Pháp lại thì chưa ai tu đặng trọn Đạo nên Thầy lựa Ngọc Đầu Sư trong hạng thiếu  niên  mới  có  đủ

công phổ độ.

Trong phần nhiều các con chưa vừa lòng cho Lịch ngồi địa vị ấy cho nên có điều cản trở trong sự truyền đạo. Thầy cũng nhìn như vậy, song vì tiền kiếp của Lịch và nhơn đức của Tiểng nên Thầy mới phú thác cái trách nhiệm tối đại ấy cho nó. Các con đều có Chức sắc lớn,  nhỏ; đều thọ Thiên phong nơi Thầy. Cứ giữ phẩm vị các con nhưng có một điều yếu thiết là cầu các con lập nhiều công quả nơi trường Thầy sáng tạo cho khỏi phế hủy nửa chừng. Các con khá gìn luật lệ cho tới ngày Thầy lập thành Tân Luật. Thành cùng chẳng thành cũng do nơi Thầy. Đương lúc đầu Thầy khai Đạo thì Luật pháp rẻ rúng đặng dụ kẻ biếng  nhác. Các con đừng phế phận”

�&�

 

 

 

   04- ÔNG TRẦN-ĐẠO-QUANG

(1870-1946)

Thầy Tu làng Hạnh-Thông-Tây

 

 

 

Thánh danh Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang
Ngài Trần Ðạo Quang, thế danh là Trần Văn Quang (có tài liệu chép là Trần Thanh Nhàn) sanh ngày 10-11-Canh Ngọ (dl: 31-12-1870) tại Ban Dầy, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho.

  Ngài là con trai duy nhứt của ông Trần Chí Hiếu và bà Dương Mỹ Hậu. Hai ông bà làm nghề nông và tu theo đạo Minh Sư, tông Phổ Tế. Ngài có lòng mộ đạo từ nhỏ: năm 12 tuổi, Ngài noi theo cha mẹ, phát tâm tu theo Minh Sư. Ngài chí quyết tu hành. Năm 16 tuổi, Ngài bắt đầu ăn chay trường.21 tuổi, Ngài  xuất gia  tu  hành,  bắt  đầu  tu  Nhứt  

Thừa: Nhứt bộ rồi Nhị bộ và Tam bộ, sau tiến lên tu Nhị Thừa qua bốn bậc: Thiên Ân, Chứng Ân, Dẫn Ân, Bảo Ân, rồi Ngài tiếp tục tu lên Tam Thừa, qua hai bậc:

Ðảnh Hàng: lấy đạo hiệu Trần Vận Quang.

 Thập Ðịa là Thái Lão Sư: lấy đạo hiệu là Trần Ðạo Quang. Thái Lão-Sư Trần Ðạo Cửu nhận làm thầy đứng ra khai thị cho Ngài. Việc tu tiến dần lên đến bậc cuối Thái Lão Sư, đạo hiệu phẩm này là Trần Đạo Quang (năm Ngài 45 tuổi). Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang, được sự tín nhiệm của 12 vị Lão Sư Tông Phổ Tế đạo Minh Sư ở Việt Nam, nên Ngài về trụ trì chùa Linh Quang Tự là Tổ đình của Tông Phổ Tế. Sau đó chuẩn bị nhận Tổ Ấn Tông Phổ Tế từ Tổ Sư Trần Đạo Khánh (Trung Hoa). Người dự định phong cho Ngài Trần Ðạo Quang làm “Việt Nam Ðệ Nhứt Tổ” của Tông Phổ Tế đạo Minh Sư ở Việt Nam. (Tài liệu của Huệ Nhẫn)

Khoảng đầu năm Bính Dần, quí Ngài Lê văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Vương Quan Kỳ, Nguyển văn Kinh…đến Linh Quang Tự (Gò Vấp) là nơi Ngài Trần Đạo Quang đang trụ trì, xin lập Đàn cơ theo lịnh Đức Cao-Đài. Tuy đột ngột nhưng do hiểu đạo lý và tự tin, Thái Lão Sư chấp thuận. Đêm ấy, Đức Cao-Đài đã chuyển tâm được Thái Lão Sư Trần Đạo Quang chịu qui hiệp Cao Đài. Nhiều tín đồ tông Phổ tế Minh Sư lúc ấy theo gương Ngài, trong số đó đặc biệt có chư vị  Nguyễn văn Tương (sau đắc phong Thượng Chưởng Pháp), Nguyễn văn Kinh, Bà Lê Thị Ngân (Đạo Minh), Bà Nguyễn  thị  Quyền ( con g ái  Ngài

Nguyễn văn Tương)..

Ngài Trần Đạo Quang thọ Thiên ân Quyền Thượng Chưởng Pháp ngày 12-12-Bính Dần  (dl: 15-01-1927), sau đó Ngài thọ phong chính thức là Ngọc Chưởng Pháp…

Ngài Trần Đạo Quang khi được Đức Chí-Tôn dạy chuyển về Cao-Đài đang là Thái Lão Sư trụ trì Linh Quang Tự tại Hạnh Thông Tây. Một số Đệ tử lúc ấy cũng theo Ngài qui hiệp .

Thời gian tách ra lập Chi Phái:

Sau cùng rồi Ngài cũng tách rời Toà Thánh bởi Ông Thái Ca Thanh lôi kéo được một số Chức sắc hiệp tác với ông buổi đầu như: Ngài Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang.

Khi Ngài Thượng Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương đăng Tiên tại làng Hữu Ðạo quận Cai Lậy thì khoảng hơn một tháng sau, Ðức Chí Tôn phong Ngài Trần Ðạo Quang làm Quyền Thượng Chưởng Pháp ngày  12-12-Bính  Dần (dl: 15-1-1927). (Theo Ðạo Sử của Bà Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu Q.II/ trang 172 và 192)

Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đăng Tiên ngày 14-5-Ðinh Mão, thì sau đó ít lâu, Ðức Chí Tôn ân phong Ngài Trần Ðạo Quang làm Ngọc Chưởng Pháp chánh vị.

Trong cơ Ðạo phân chia Chi phái, năm 1931 Phối Sư Thái Ca Thanh rút khỏi Toà-Thánh Tây-Ninh về Mỹ Tho lập phái Minh Chơn Lý, Ngài Ngọc Chưởng Pháp hợp tác với Minh Chơn Lý, sau đó thấy ông Ca và ông Phùng sửa đổi hết cách thờ phượng, nên Ngài rút khỏi Minh Chơn Lý, xuống Bạc Liêu hợp với ông Cao Triều Phát mở

ra phái Minh Chơn Ðạo năm 1935.

Năm 1937, Ngài Trần Đạo Quang ra hành đạo ở Ðà Nẵng. Lúc đi ra Trung, Ngài không có giấy thuế thân, nên Ngài lấy giấy thuế thân của người trong làng tên là Hà Văn Thuần để xin làm căn cước thì mới được phép ra Trung. Thế nên khi hành đạo ở Ðà Nẵng, Ngài lấy tên là Hà Văn Thuần. Ngài ủng hộ bổn đạo nơi đây xây dựng được Thánh-Thất Trung-Thành, để làm cơ sở hoạt động của Cơ Quan Truyền Giáo Trung Việt.

Ngày 17-2-Bính Tuất (dl: 20-3-1946), Ngài Trần Ðạo Quang qui Thiên tại chùa Linh Quang Tự ở Gò Vấp, Gia Ðịnh, hưởng thọ 77 tuổi.

Thi hài của Ngài được an táng tại nghĩa trang Minh

Sư gần Linh Quang Tự. Sau nầy, do nhu cầu mở rộng sân bay Tân Sơn Nhứt, Linh Quang Tự và nghĩa trang đều bị giải tỏa, bổn đạo cải táng Ngài về phần đất ở phía sau Thánh Tịnh Minh Kiến Ðài vào ngày 15-8-Kỷ Mùi (1956) thuộc xã Thông Tây Hội, cũng thuộc quận Gò Vấp.

Phái nầy do ba Ngài:

1- Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang,

2- Cao Triều Phát, và

3- Nguyễn Ngọc Thiệu.

Tách khỏi phái Minh Chơn Lý (vì thấy hai ông Ca và Phùng biến cải theo Tà đạo), qui tụ về Giá Rai tỉnh Bạc

Liêu, lập ra phái Minh Chơn Ðạo vào năm 1935. Lúc đầu trụ sở đặt tại Chùa Minh Sư của Ngài Trần Ðạo Quang tại Giá Rai, sau mới lập Tòa Thánh Ngọc Minh ở Giồng Bướm Giá Rai, cũng gọi là Tòa Thánh Hậu Giang. Gần Tòa Thánh nầy có Ngũ Hành Tòa để làm Hiệp-Thiên-Ðài. Phái nầy hoạt động khá mạnh, lên tới tỉnh Vĩnh Long.

           Phái Minh Chơn Ðạo giữ đúng theo Tân Luật, Pháp

Chánh Truyền và lễ nghi của Ðạo buổi sơ khai. Phái nầy không luyện đạo, mặc dầu Ngài Trần Ðạo Quang, trước khi gia nhập Ðạo Cao Ðài, Ngài là Thái Lão Sư cầm đầu Chi Minh Sư ở Việt-Nam. Ngài Trần Ðạo Quang được phong chức Chưởng quản Vô Vi Chưởng quản Cửu-Trùng Ðài, Ngài Cao Triều Phát chức Thái Chưởng Pháp Chưởng quản Hiệp Thiên Ðài, Ngài Nguyễn Ngọc Thiệu chức Ðầu Sư Ngọc Thiệu Nhựt. Sau nầy, Ngài Cao Triều Phát lại tách ra, ông Nguyễn Văn Kiện tự Huân được phong chức Hộ Pháp Thiên Ấn Tinh Quân, chưởng quản Hiệp Thiên Ðài. Cơ bút của phái Minh Chơn Ðạo phong gần đủ các phẩm Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Đài, như: Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh, 9 vị Thời Quân, 2 vị Chưởng Pháp, 7 vị Ðầu Sư, 3 Chánh Phối Sư (không có phẩm Giáo Tông, bên Cửu Trùng Đài thì chức Chưởng quản Vô Vi là cao nhứt). Sau cuộc đảo chánh của Nhựt Bổn, quân đội Pháp trở lại dùng phi cơ dội bom, trúng Tòa Thánh Ngọc Minh tan tành. Ngài Cao Triều Phát hợp tác với Việt Minh để bảo vệ tín đồ. Sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, Ngài Cao Triều Phát tập kết ra Bắc và qui liễu tại đó trong năm sau.

 

05 - ÔNG NGUYỄN-NGOC-TƯƠNG

 (1881-1951)

Tri phủ chủ Quận Cần-Giuộc

 

1- Phần đời: Ông Nguyễn Ngọc Tương sanh ngày 26-5-Tân Tỵ (dl: 22-6-1881) tại làng An Hội, tỉnh Bến Tre, thuở nhỏ học tại Collège Mỹ Tho, rồi lên Sài Gòn học ở Lycée Chasseloup Laubat, đậu bằng Thành Chung năm 1902, xin làm Thơ ký phòng Thượng Thơ. Làm nơi đây được một  năm thì xin về làm Thơ ký nơi Tòa Bố tỉnh Bến Tre suốt 17 năm liền.

Năm 1919, thi đậu ngạch Tri Huyện, được bổ làm Chủ Quận Châu Thành Cần Thơ, rồi Chủ Quận Hòn Chông (Hà Tiên), đến năm 1924 thì đổi về làm Chủ Quận Cần Giuộc, qua năm 1927 đổi ra làm Chủ Quận Xuyên Mộc (Bà Rịa).

2- Phần Đạo: Ngày 19 tháng Chạp năm Ất-Sửu (dl: 1-2-1926) Quí Ngài Lê văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc bạch xin Thầy xuống Cần Giuộc độ Ngài Nguyễn Ngọc Tương, lúc ấy đang làm Chủ Quận. Do trước đó, trong thời gian công vụ tại Hòn Chông  Hà Tiên (1920-1924), Ngài Nguyễn Ngọc Tương có tìm học Đạo Minh Sư, có ăn chay và tập tu thiền, nên con đường nhập môn của Ngài được nhiều thuận lợi. Ngày rằm tháng Giêng Bính Dần (dl: 27-02-1926) tại nhà Ngài (Dinh Quận Cần Giuộc) chư vị lập Đàn Cơ. Thầy giáng rằng:

“Tương, từ đây con trấn nhậm nơi nào thì là hồng phúc của nơi ấy, con nghe!

Con trị ai Thầy cũng trị ai,

Một lòng đạo đức chớ đơn sai.

Năm năm công quả tua bền chí,

Chỉ dẫn nhơn sanh bước lạc loài.

            Ông nhập môn theo Ðạo Cao-Ðài vào tháng 2  năm

Bính-Dần (1926), thọ phong Thượng Chánh Phối Sư ngày 17-5-Bính Dần (dl: 26-6-1926).

Năm 1930, thăng lên Quyền Ðầu Sư.

Cũng năm này, tuân lời dạy của Đức Chí-Tôn, Ngài

Tương xin từ quan.(lúc ấy Ngài 50 tuổi)  để  trọn  lo  hành

Đạo, ứng với lời Thánh truyền “Năm năm công quả tua bền chí” trước  kia.

3- Ngài Tương tách khỏi Toà Thánh Tây Ninh:

Ðầu năm 1934, ông Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang tách khỏi Tòa Thánh Tây Ninh, rút về làng An Hội lập Ban Chỉnh Ðạo và sau đó biến thành Chi phái Bến Tre.

Ngày 8-1-Ất Hợi (dl: 11-2-1935), Ðại Hội Vạn Linh của phái Bến Tre bầu ông Tương làm Giáo Tông phái Bến Tre.

Ngày 7-4-Ất Hợi (dl: 9-5-1935) cử hành Lễ Ðăng điện cho Ngài Tương lên ngôi Giáo Tông ở Thánh Thất  An Hội Bến Tre và từ đó, Thánh Thất An Hội được gọi là Tòa Thánh Bến Tre.

Từ năm 1942 đến 1951, ông Tương thường nhập tịnh trong Tịnh Thất riêng, lúc đó ông thường tự xưng là Lý Giáo Tông.

Ngày 14-4-Tân Mão (dl: 19-5-1951), ông Tương qui thiên, tháp được xây dựng ngay trước Thánh Thất An Hội, Bến Tre

Ngày 18-11-Giáp Tuất (Thứ Hai: 24-12-1934)

Hai ông Tương và Trang về Thánh-Thất An-Hội (Bến Tre) phổ biến châu tri 147 mạ lỵ Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung và Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc.

Hai ông tự phong chức là:

-         Tri phủ Lê Bá Trang là CHƯỞNG PHÁP

-         Tri phủ Nguyễn Ngọc Tương làm ĐẦU SƯ của

phái Bến Tre.

          4-  Lập Ban Chỉnh Ðạo (Phái Bến Tre):

Nhớ lại vào đầu năm 1934, khi hai ông rút khỏi Tòa Thánh Tây Ninh về Bến Tre lập Ban Chỉnh Ðạo, với mục đích chấn chỉnh lại nền Ðạo, qui tụ được 85 Thánh Thất theo về với hai ông. Trong lúc đó, toàn Ðạo Cao Ðài chỉ có 128 Thánh Thất, như vậy số Thánh Thất theo hai ông Tương và Trang cùng với số tín đồ chiếm hết 2/3, Tòa Thánh Tây Ninh chỉ còn lại 1/3. Hai ông cố gắng lôi kéo một số vị Thời Quân Hiệp-Thiên-Đài theo về hai ông để cho có đủ hai Ðài: Hiệp-Thiên-Đài và Cửu-Trùng-Đài, nhưng không thành công, vì một số vị Thời Quân, tuy có bất mãn Ðức Hộ Pháp nhưng quí vị ấy muốn giải quyết vấn đề theo chiều hướng khác hơn hai ông kia, nên quí vị ấy không hợp tác với hai ông được.

Thế lực của hai ông rất mạnh, lại được chánh quyền Pháp ủng hộ, nên hai ông tổ chức thuê bao gần chục chiếc xe đò đưa rất đông tín đồ của hai ông về Tây-Ninh dự định sẽ dùng sức mạnh chiếm Nội-Ô Toà-Thánh. Hai ông báo cho Ðức Quyền Giáo-Tông biết ngày 20-1-Giáp Tuất (1934) hai ông sẽ kéo lên Tòa Thánh, vì hai ông nghĩ rằng phần thắng nắm chắc trong tay.

Ðức Quyền Giáo Tông liền thông báo cho Ðức Hộ Pháp. Ðức Hộ Pháp tức cấp huy động tất cả khoảng 500 công quả Phạm Môn chia nhau giữ chặc các cửa vào Nội Ô Toà Thánh. Với sức kháng cự quyết liệt mạnh mẽ của 500 công quả Phạm Môn, lực lượng của hai ông Tương và Trang phải chịu thảm bại, rút lui về Sài Gòn.

Cuối năm 1934, Ðức Quyền Giáo Tông đăng Tiên (ngày 13-10-Giáp Tuất, dl: 19-11-1934). Trong khi đó, tại Thánh Thất An Hội Bến Tre, Ngài Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang tổ chức Ðại Hội toàn thể Chức sắc và tín đồ thuộc Ban Chỉnh Ðạo để bầu cử chức Giáo-Tông:

- Lần bầu cử thứ nhứt: Ngài Lê Bá Trang lên chức Ngọc Chưởng Pháp;

- Lần bầu cử thứ nhì, Ngài Nguyễn Ngọc Tương lên chức Giáo Tông. Ðó là vào năm 1935 (Ất Hợi).

Năm 1938, Ngài Nguyễn Ngọc Tương cử  hành  một

lễ long trọng, tuyên bố nhiệm vụ của Ban Chỉnh Ðạo chấm

dứt. Như vậy là Ngài lập thành Chi phái Bến Tre, xây dựng Thánh Thất An-Hội thành Tòa-Thánh Bến-Tre, tổ chức Cửu Viện, thăng thưởng một số Chức sắc cầm quyền Cửu Viện. Thực lực của phái Bến Tre lúc đầu rất đông và rất mạnh, nhưng vì không có chánh nghĩa nên số người theo ông lần lần rút lui, các hoạt động chỉ cầm chừng, dần dần suy tàn, nhất là sau khi Ngài Lê Bá Trang qui vị. Ngài Nguyễn Ngọc Tương thường nhập tịnh theo cách riêng của ông, càng về sau nầy, Ngài tự xem mình như là một phân thân của Ðức Lý Giáo Tông, nên Ngài tự xưng là Lý Giáo Tông. Năm 1951, Ngài Nguyễn Ngọc Tương qui vị.

Sau đó, phái Bến Tre phân ra làm hai nhóm nhỏ độc lập nhau: Một nhóm tại Tòa Thánh Bến Tre, một nhóm tại Thánh Thất Tân-Túc (Bình Chánh) và Thánh Thất Ðô Thành đường Hậu Giang Chợ Lớn. (Ðức Quyền Giáo Tông giáng cơ tiết lộ cho biết: Ngài Nguyễn Ngọc Tương là chơn linh của Ngô Tôn Quyền tái kiếp, Ngài Lê Bá Trang là chơn  linh  Quan Vân Trường thời Tam quốc)

Trong  thời gian này có 5 bức thư khá quan trọng:

Bc thơ s 1

    Ông Thượng Tương Thanh gởi cho Thái Ca Thanh Ghi lại mấy ý chánh:

- Tôi thấy rõ là một cuộc khảo do nơi Tam-Trấn để cho Tà Thần mượn tên cám dỗ, trong ba cái bịnh lớn của con người là “Tham, Sân, Si” Nếu bậc cầm đuốc dẫn đường mà không trừ hết, còn một hai cũng phải bị vướng.

       Thánh-ngôn Cơ Bút của Hậu-giang từ khi ban sơ đến bây giờ… Có một phần rất ít của Tiên Thánh, còn bao nhiêu đều là Tà mưu chước quỉ của Tà Thần cám dỗ.

…Nếu phăn lại gốc thì Tôi rõ biết, khi ban  sơ  lúc  Anh

thay mặt cho Tôi ở Toà-Thánh, Anh có bất bình về sự hành

động cử chỉ của mấy vị Đại-Thiên-Phong nơi đây đối đãi với Anh.

…Dụ được Anh rồi nó dắt Anh đi lần lần, từ mấy thứ “An Thiên Đại Hội” qua đến lập Toà-Thánh Tam Bình Kiên-giang Thất Sơn, đã nhiều phen tiên tri này nọ đều trôi hết, nay đem Anh trở về lập Toà-Thánh Trung ương Mỹ tho, là chỗ ở của Anh, Tôi xét kỹ thiệt toàn là công cuộc của Cơ cám dỗ Hậu-giang. Do sự bất bình kia mà gầy tạo ra đó ! Anh suy-nghĩ đến thì Anh thấy liền, Cơ ấy lợi dụng cái danh, cái chức của Đạo mà dụ người

 …Sau khi kích bác nhục mạ Tây-Ninh rồi bố cáo mà dán khắp Lục Tỉnh mong Anh và các Chư vị giúp để cho Tà Thần xúi giục mà hăng-hái thọ lãnh gia phong lập riêng một Hội-Thánh Trung-ương tự mình làm chủ, làm cho ai trông vào cũng thấy cái Chủ nghĩa Minh-Chơn-lý của Hậu-giang kết chung lại là một trường háo danh ham chức đó là “Tôi”. Đạo ở nơi nào? Đức ở nơi nào?

  … nên Thầy đã căn dặn: Ngoài Thập Nhị Thời quân của Thầy đã chọn đừng vội tin Thầy có giáng Cơ nơi này nơi nọ, mà phải bị lầm mưu Tà quái cám dỗ.

    …Trong lòng anh thiệt hết giận rồi, thì cái màn bí mật che án sẽ xủ xuống. Anh sẽ thấy tỏ rõ chi cũng có Thầy biết, cũng có chư Phật, Thánh, Tiên hay.

       Thiên-phong Chức sắc nào ở Tây-Ninh thiệt có tội thì bị phạt, không khi nào chạy khỏi.

 Vì Anh sẽ thấy rõ chữ Nhựt trong Đạo-hiệu Thái Ca-Thanh của Anh. Đó là một cái lắt-léo của Cơ để cho Anh biết mà phân biệt chơn giả đó. Trong lòng Anh thiệt hết giận rồi, tự nhiên Anh cũng sẽ thấy rõ-ràng là không có Thần hay Tiên Thánh nào xúi Anh thêm nghịch, dạy Anh chia lìa, đốc Anh truyền rao nhục mạ Tây-Ninh rồi lại gia phong cho Anh và các vị theo giúp Anh, hối đốc lập dựng Thánh Thất Cầu Vỹ mà làm Toà-Thánh để nhóm Hội-Thánh Tây Ninh, mượn nhà Anh mà làm Hiệp-Thiên Đài, Anh sẽ thấy rõ ràng là cơ cám dỗ nương cái hơi phiền-phức của Anh và chư vị kia mà phát hiện những sự ấy đặng giúp cho mấy Anh Em được thoả tình tư tưởng.

….   Nếu Anh và các Anh theo Anh mà còn dụ-dự, tiếc áo-mão thì cái Minh-Chơn-lý của mấy Anh em sẽ bị nơi áo-mão đó mà mất hết chủ-nghĩa hay, rồi cũng vì áo-mão đó trì nặng phải chìm không phương cứu vớt.

       Tây-Ninh 1er Novembre 1932( Thượng Tương Thanh)

            Thầy có dạy rồi: Trời không hai mặt, đất chẳng hai vua. Cũng vì chữ “NHỰT” của Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt mà ông Thái Ca Thanh quá ham muốn nên mích lòng với Ngài Đầu Sư xong rồi tách khỏi Toà Thánh Tây Ninh và xưng đạo hiệu là Thái Ca Nhựt, cũng như ông Ngọc Thiệu cũng lấy đạo hiệu là Ngọc Thiệu Nhựt, rồi nảy sanh chi phái. Thực ra chữ NHỰT đây trước nhứt là phải đủ Tam bửu của Trời là NHỰT- NGUYỆT- TINH do Đức Chí Tôn ban cho thì mới có giá trị, chứ nào phải đâu do ham muốn quá mà tự ban cho mình thì có giá trị gì đâu !

Thầy có dạy rồi:

Đạo Thầy nhiều nhánh các con ôi!

Nhánh có trái bông, nhánh cụt còi.

Thiết nghĩ đây là do Thiêng liêng ban thưởng nào phải do ý phàm mà tính rối, rồi mích lòng mà lập ra chi phái này nọ, nọ kia làm cho cơ Đạo phân chia manh mún, thật là của qúi không biết dùng, lại vội phân chia mà tan tành manh mún. Ôi thương thay Đạo Trời cao vòi vọi, mà trí phàm thì quá hạn chế !

06 - NGUYỄN-NGỌC-THƠ

(1873-1950)

Thánh danh Đầu Sư Thái Thơ Thanh

 

 

1-Phần đời:

Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh, thế danh là Nguyễn Ngọc Thơ, tên thật là Nguyễn Văn Tơ, sanh năm 1873 tại quận Bãi Xàu tỉnh Sóc Trăng, sau lên Sài Gòn lập nghiệp ở Tân Định. Thân sinh là Ông Nguyễn Hưng Học, cháu ruột của Trung Quân Nguyễn Văn Thiền (kêu bằng Chú ruột), vốn dòng trâm anh thế phiệt, trung hưng công thần.

Thuở thiếu thời, Ngài theo Nho học, sau theo Tây học, rất ái mộ Phật giáo, phụng thờ cha mẹ rất hiếu hạnh. Ngài có làm Thơ Ký tại phòng Phiên dịch được ít lâu, sau nghỉ ở nhà, noi theo nghiệp làm thầy hốt thuốc Bắc của ông thân, rồi ra làm thầy hốt thuốc, lại có phụ dịch nhựt trình cho nhựt báo tỉnh.

Sau đó, Ngài bước qua đường buôn bán, mở mang trước nhỏ, sau to, trở nên giàu có, mua được một sở Đại Thương Cuộc tại Sài Gòn. Nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ cử Ngài làm Hội Đồng Thẩm Án tại Tam Tòa Sài Gòn, tất cả trước sau được thưởng 7 Huân chương với 2 tấm Kim Khánh, Kim Tiền.

Chánh thất của Ngài là Bà Bùi Thị Đông, một phụ nữ khôn khéo bề tề gia nội trợ, thuận tùng theo chồng, tạo lập nhà cửa, phố xá tại Tân Định, sự nghiệp càng ngày càng thạnh lợi, bề thế lớn lao.

Về sau, Ngài được ban cho phẩm Hàm Tri Huyện, nên người đời thường gọi Ngài là ông Huyện Thơ.

Ông Nguyễn Liên Phong, trong tập Điếu Cổ Hạ Kim Thi Tập có làm bài thơ khen tặng Ngài Nguyễn Ngọc Thơ:

Làm trai chí khí trước sau bền,
Án viện luận bàn hiển họ tên.
Nề nếp ông thân khuôn những tạc,
Phụng thờ từ mẫu thảo tâm đền.
Dựng nền buôn bán ra đồ sộ,
Cậy sức vợ hiền hiệp giúp nên.
Nẻo lợi thâu vào thành nghiệp cả,
Ơn nhờ che chở hộ hai bên.

Con gái của Ngài Nguyễn Ngọc Thơ là Nguyễn Thị

Hương, có chồng là Trương Văn Tuấn, chủ nhà in Đức Lưu Phương ở Tân Định, sanh người con trai là Bác sĩ Trương Văn Quýnh. Bà Nguyễn Thị Hương cũng theo cha nhập môn vào Đạo Cao Đài, đắc phong phẩm Giáo Hữu ngày 14-Giêng-Đinh Mão (dl: 15-2-1927) đàn cơ Phong Thánh Nữ phái kỳ I.

2- Phần đạo:

Đầu năm Bính Dần (1926), Ông Phạm Tấn Đãi, nhà ở Rạch Kiến, tỉnh Long An, thường chấp bút để học đạo. Ngày nọ, Ông chấp bút thì được lịnh Đức Chí Tôn dạy: "Con hiệp cùng Trung để đi độ Thơ."

Ông Phạm Tấn Đãi (sau đắc phong Khai  Đạo Hiệp  

Thiên-Đài) vâng lịnh Đức Chí Tôn lên Sài Gòn, tìm đến nhà Ông Cao Quỳnh Cư để hỏi thăm nhà Ông Trung.

- Bà Cư đáp: Ông Trung có ra đây, vừa mới đi lên nhà Ông Thơ.

Ông Đãi hỏi thăm địa chỉ của Ông Thơ, liền đi lên Tân Định tìm nhà Ông Thơ, thì gặp Ông Trung tại đó.

Ông Đãi liền trình bày Thánh giáo của Đức Chí Tôn dạy cho hai ông xem. Ông Thơ xem xong nói: Tôi muốn làm sao hai ông cầu nguyện thế nào cho tôi chấp bút được thì tôi mới tin.

Ông Trung liền chịu và bảo Ông Thơ phải trai giới ba ngày, đồng thời hai Ông Trung và Đãi cũng ở đó hiệp nhau cầu nguyện. Ông Thơ chấp bút thông công được với các Đấng một cách tốt đẹp, nên Ông bằng lòng theo Đạo. Ông nói với Ông Trung và Ông Đãi làm thế nào để độ cho vợ của Ông là Bà Lâm Ngọc Thanh đang ở Vũng Liêm theo Đạo luôn cho thuận chiều xuôi gió một đường.

Ông cầu nguyện, Ơn Trên cho biết hiện giờ nầy bà Lâm Ngọc Thanh đang làm gì ở Vũng Liêm, cho biết từng chi tiết để ông ghi chép, rồi hôm sau, ông đánh điện kêu bà lên Sài Gòn. Khi bà lên tới Sài Gòn, ông hỏi các hoạt động của bà trong ngày vừa qua thế nào, thì bà nói đúng như Ơn Trên đã mách bảo, không sai một mảy. Thế là hai ông bà đều tin và theo Đạo.

Hai ông bà Thơ bàn tính làm thế nào để độ Thầy mình là Hòa Thượng Như Nhãn theo Đạo luôn. Ông Trung và ông Thơ cậy ông Đãi ra nhà ông Cao Quỳnh Cư để mời ba ông Cư, Tắc, Sang và Đạo hữu đến nhà ông Thơ để lập đàn cầu cơ. Đàn Cơ được kết quả, Đức Chí Tôn thâu phục được Ngài Như Nhãn.

Tại nhà của Ngài Nguyễn Ngọc Thơ ở Tân Định, Đức Chí Tôn cho phép mở một cái Đàn để thâu nhận những người mộ đạo, Ngài Thơ chứng đàn, phò loan là hai Ngài: Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc.

Ngày 2-7-Bính Dần (dl: 9-8-1926), Đức Chí Tôn phong Ngài Thơ làm Phối Sư phái Thái, cầm quyền Thái Chánh Phối Sư, Thánh danh là Thái Thơ Thanh.

Ngày 17-2-Quí Dậu (dl: 12-3-1933), Ngài Thái Thơ Thanh được thăng lên Quyền Thái Đầu Sư.

Ngài Nguyễn Ngọc Thơ đã chấp nối thành vợ chồng với Bà Lâm Ngọc Thanh ở Vũng Liêm, tục gọi là Bà Huyện Xây. Hai Ông Bà đều được Đức Chí Tôn độ theo Đạo và về sau Bà Lâm Ngọc Thanh đắc phong Nữ Đầu Sư, Thánh danh là Hương Thanh.

Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh và Bà Lâm Hương Thanh, nhờ giàu có sẵn và một lòng tin tưởng vào nền Chánh giáo của Đức Chí Tôn nên đã đem nhiều tiền bạc ra hiến cho Đạo trong buổi sơ khai để xây dựng nền móng cho Đạo, như sau:

-  Khi Hòa Thượng Như Nhãn hiến chùa Từ Lâm Tự tại Gò Kén (Tây Ninh) cho Đạo Cao Đài làm Thánh Thất để tổ chức Lễ Khai Đạo, Ngài Thái Thơ Thanh xuất tiền ra tu bổ, sơn phết, trang trí lại thành một Thánh Thất Cao Đài, làm đường thông ra quốc lộ cho rộng rãi, cất thêm nhà cho bổn đạo ở làm công quả ... Nhờ vậy mới có chỗ rộng rãi tốt đẹp để tổ chức long trọng Đại Lễ Khai Đạo Cao Đài ngày 15-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926).

- Qua đầu năm 1927, Hòa Thượng Như Nhãn đổi ý, đòi chùa Từ Lâm lại, không hiến cho Đạo Cao Đài nữa, Đức Lý Giáo Tông dạy Ngài Thái Thơ Thanh hiệp cùng chư Chức sắc Cửu Trùng Đài và Hiệp-Thiên-Đài đi coi mua 100 mẫu đất rừng tại làng Long Thành với giá 25.000 đồng thuở đó để làm nơi xây dựng Tòa Thánh và các cơ quan Trung ương của Đạo, trả chùa Từ Lâm Tự lại cho Hòa Thượng Như Nhãn. Số tiền 25.000 đồng mua đất do Ngài Thái Thơ Thanh và Bà Lâm Hương Thanh xuất ra cho Hội Thánh mượn..

- Ngài Thái Thơ Thanh xuất tiền in 10.000 tấm Thánh Tượng Thiên Nhãn Ngũ Chi khổ lớn để phát không cho bổn đạo lập Thiên bàn thờ Đức Chí Tôn tại tư gia.

Riêng phần Ngài Thái Thơ Thanh và Bà Lâm Hương Thanh thì xuất tiền ra khai thác một sở rừng hoang để xây dựng Cực Lạc Cảnh, có ý muốn qui tụ các tăng ni Phật giáo qui hiệp về đây tu hành theo Tân pháp Đạo Cao Đài, nên lập ra nhiều cảnh như: Quan Âm Các, Long Nữ Điện, Tây Vức Trì, đặt tên các con đường là: Phước Đức Cù, Di-Lạc Đạo. Tuy là cảnh tạm nơi cõi trần mà nghe qua như là cảnh Phật nơi cõi Cực Lạc Thế giới..

Sau đây là Sớ Văn phúc trình của Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh và Bà Lâm Hương Thanh (lúc cầm quyền Nữ Chánh Phối Sư) dâng lên Hội Thánh và Đức Chí Tôn.

ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ

(Đệ lục niên)

Chánh ngoạt,  sơ  nhị  nhựt,  Tân  Vị,  Khâm  Thiên

Tổng quản Tài Chánh, phụng sắc Chưởng quản tài liệu, Tổng lý Công viện, Lương viện, Hộ viện, Nông viện, Phổ Độ viện.

Quyền Thái Đầu Sư Chủ Tọa Hội Thánh, Quản lý tạo tác Tổ đình, Thái Thơ Thanh kỉnh bút.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đệ lục niên, Chánh ngoạt, sơ tam nhựt, Tân Vị, Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh đề bút.

Tượng mảng Đại Đạo hoằng khai Tam Kỳ Phổ Độ lưu truyền thiên vạn cổ, bủa khắp Ngũ Châu, thì nền Chơn đạo phải to tát mới ra cảnh tượng thể thống Đạo cả.

Vì vậy mà hai tôi nong nã  đêm  ngày  lo  mở  mang

cuộc Thánh địa, chế ra nền Tây Vức, bởi công trường cực nhọc, trên nhờ sức thiêng liêng Đại Từ Phụ ban bố, mới xui khiến mua thêm được 100 mẫu đất rừng, của tư bổn vợ chồng tôi xuất ra mua, liên tiếp Thánh địa, nối dài ra tới Ngã ba Mít Một (Boulevard d'Anglais), bề mặt tiền trên 2000 mét, giáp ranh Bá Huê Viên, nối liền Động Đình Hồ, 1000 mét Thánh địa nữa, cộng chung là 3000 mét.

Cầu nguyện Đức Chí-Tôn ban ơn ngày sau Hội Thánh mở mang ba phía là Đông, Nam, Bắc, mỗi phía 3000 mét, vuông vức cộng là 12.000 mét vuông, đặng xây vách thành cao lớn giáp bốn phía, dựng nên miền Tây Vức, đề hiệu là THÁI CỰC TOÀN ĐỒ.

Trong chia ra hai cuộc: Phía Chánh Bắc, xây cửa thành lớn, đắp nổi cao chữ "ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ", lộ ra bốn chữ to tát là "ĐẾ THIÊN THƯỢNG HOÀNG"; còn phía Chánh Nam, cũng tại cửa thành y kiểu ba mặt như nhau, đề hiệu là "ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ", hiện ra bốn chữ "ĐẾ THÍCH PHẬT TỔ"; phía Chánh Đông, tạo một cuộc Ngũ Quang Môn, nghĩa là Đại Thành Môn, có năm cửa Ngũ  Chi  Đại  Đạo,  hiện  ra  bốn

chữ "THÁI CỰC TOÀN ĐỒ"; còn  Chánh  Tây  Môn   thì

cửa thành y kiểu ba phía đề hiệu là Tây Vức Cảnh.

Trong Thái Cực Toàn Đồ chia ra làm hai cuộc: Bên phía Bắc là BẠCH NGỌC KINH, tạo tác Tổ Đình, có Bá Huê Viên, Động Đình Hồ, Đức Thế Tôn ngự mở cảnh thoát trần, Đức Di-Lạc giáng thế khai Long Hoa Hội. Hai bên là Rừng Thiên Nhiên, phía sau lập Cửu Viện, Thiên Phong Đường, Đầu Sư Đường, Chánh Phối Sư Đường, Hộ Pháp Đường, Thái Y Viện, Dưỡng Lão Ấu, Tịnh Thất Sở, và Học Đường, Dưỡng Đường, với các xưởng Bá công kỹ nghệ. Còn các con đường: 1- Như Lai Đồ.  2- Di-Lạc  Đạo. 3-Phước Đức Cù. 4-Oai Linh Tiên. 5- Bình Đặng Đồ. 

6- Sử Quân Tử.  7- Thái Hòa Lộ,.   8- Bình Dương Đạo.

Còn bên phía Nam thì tạo CỰC LẠC VÔ VI CẢNH GIỚI, là đắp con đường chữ Thập lớn dài từ Nam chí Bắc, từ Đông giáp Tây, gọi là TỨ TƯỢNG ĐỒ biến BÁT QUÁI, chính giữa Ngã Tư biến ra Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Giữa trung tim, un đúc một cảnh Nội Điện Đế Thích, giống in như cuộc cổ tích trên chốn Đế Thiên gần nước Xiêm La vậy.

Phía bên hữu Tây Bắc thì tạo Quan Âm Các, phía bên tả Tây Bắc thì dựng Long Nữ Điện. Phía bên hữu Đông Bắc thì cất Tòa Kinh Viện 15 căn lầu ba từng nóc. Phía bên tả Đông Nam thì xây núi Tô Sơn, trên chót núi có đắp tượng Đức Thế Tôn nằm qui Niết Bàn, bề dài 12 thước tây, trên đảnh trung có Thạch động Phổ Đà Sơn, Đức Từ Hàng Đạo Nhơn thành Phật ấy là năm cuộc to lớn.

Còn các cuộc nhỏ khởi tạo trước là: tạo Thất Bửu Tháp, đào Tây Vức Trì, cất Thưởng Liên Đình, tạo Từ Thiền Lâm. Trong cuộc Từ Thiền có 3 con đường cái:

     1-Bát Nhã Đạo   2- Bồ Đề Lộ.  3- Như Ý Cảnh.

Lựa những bậc chơn tu  trường  trai   khổ  hạnh,  từ

trung thừa sắp lên mới cho vào trong cuộc Từ  Thiền  Lâm

nầy, vuông vức 500 công.

Ấy là bên hướng Nam.

Còn bên hướng Bắc thì Thái Bình Địa, cũng 500 công, cất Chợ Từ Bi, Nhà Thương, Nhà Thí, Nhà Mát, Nhà Nghỉ cho bực tín đồ nhập môn theo Hạ thừa sắp lên thì được phép ở. Ước mong ngày sau, Hội-Thánh mở mang cuộc Thánh Địa nầy cho giáp hết núi Điện Bà đặng ra vẻ nền Chơn đạo.

Trân trọng một bài kính cáo, nguyện cầu  Đạo  mạch

hoàn toàn lưu truyền, trăm họ trước sau an nhàn.

Thái Thơ Thanh, Lâm Hương Thanh kỉnh đề.

Chuyển đạt Thiên Đình, ngưỡng vọng Đại Từ Phụ Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chứng chiếu.

Ngu đệ tử phục thủ bá bái.

              3- Vài nét về: CỰC LẠC CẢNH:

Nguyên nhân tạo Cực lạc Cảnh ? -Vào năm Quí Dậu (1933) Đức Hộ Pháp cho công thợ xây dựng Báo Ân Từ. Kể như Đức Ngài chuẩn bị dành khi di dời tạo Tòa Thánh sẽ làm nơi thờ phượng. Trong giai đoạn nầy ông Quyền Thái Đầu Sư chủ tọa Hội Thánh quản lý tạo tác Tổ đình, Thái Thơ Thanh kỉnh bút:

Ông cùng bà Lâm Hương Thanh, Nữ Chánh Phối Sư mua thêm 100 mẫu đất liên tiếp Thánh Địa, có thượng tấu với Đức Chí Tôn và thông tri toàn Đạo. Đông, Tây, Nam, Bắc mỗi phía ba ngàn thước vuông vức, chu vi là 12 ngàn thước đặng xây vách thành cao lớn bốn phía dựng ra miền Tây Vức đề  bốn chữ nổi THÁI CỰC TÒAN Đ”.

Ông Tạo Bát Bộ Kim Cang có 8 cảnh:

1- Quan Âm Các     2-Long Nữ Điện      3-Tàng Kinh Viện

4- Phổ Đà Sơn        5-Kim Cang Động    6-Bồ Đề Ốc

7-Tây Vức Trì        8- Bát Bửu Tịnh Thất.

Phần trong có Lục Thông Cơ sở:

1-Giảng Đường      2- Tịnh Đường              3-Túc Đường

4-Dưỡng Đường    5-Thiên Ân Đường        6- Học Đường.

            Còn về lộ:

1-Như Lai Đồ          2- Di Lạc Đạo         3-Phước Đức Cù

4-Oai Linh Tiên      5-Bình Đẳng Đồ      6-Sử Quân Tử

7-Thái Hòa Lộ        8- Bình Dương Đạo

9-Tây Qui Trực Chỉ  10- Thượng Hòa Lộ.

Bên ngoài phía Đông trong cuộc từ Thoàn Bát Bộ Kim Cang có 3 con lộ:

         1- Bát-Nhã-Lộ       2- Bồ Đề Lộ        3- Như Ý Cảnh.

Thế nên đêm 01-07-Tân Mùi (1931) tại Bửu Điện

Tòa Thánh Đức Hộ Pháp với Văn Pháp Phò Loan Đức Lý giáng cơ rầy ông Thái-Thơ-Thanh phải bỏ cả hình tướng Thiền-môn thì mới mong tạo thành Cực Lạc Vô Vi cảnh giới, hiểu à ? Muốn tạo Cực Lạc hỏi Hộ Pháp chỉ cho.

Đến 09-12-Tân Mùi, 12 giờ khuya Hộ Pháp chấp bút. Quan Âm giáng điển cho thi như sau:

Đại kế qui nguyên vĩ đình thì,
Hành tàng cụ Pháp chưởng phong lôi.

Thiền môn nhược bất khai môn nội,
Cửu nhị nguyên nhân bất cố hồi.

Rồi đến 15-12-Tân Mùi (dl: 22-1-1932) tại Phạm Nghiệp: Phò Loan Hộ Pháp- Tiếp Đạo. Hầu bút Sĩ Tải Ngọ. Hầu đàn Đức Quyền Giáo Tông và ông Thái Thơ.

Đức Chưởng Đạo về cơ có câu:

Kẻ vì mị đoái hoài giả tạo,
Kẻ hay tin quái giáo gây trò.
Nguyên nhân lỡ bước ai lo?
Đem đường Cực lạc đưa đò mê tân.

Đức Chưởng Đạo nói khó viết nên thăng nhờ Lục Nương tiếp giáng điển toàn bài  cũng  đề  tài  khuyên  ông

Thái Thơ có những từ như sau:

Phải hiểu nghĩa Thiền Lâm cho rõ,
Các thinh âm chẳng có cửa Không.
Bớt điều sắc tướng huờn vong,
Bớt điều hồ mị nhọc lòng phạn hương
Bớt các lễ người đương mê!

Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài Thái Thơ Thanh:

TNHT. II. 6: "THƠ, nghe dạy:

Thời kỳ Mạt pháp nầy khiến mới có Tam Kỳ Phổ Độ, các sự Hữu hình phải hủy phá tiêu diệt.

Thầy đến chuyển Đạo, lập lại Vô Vi, các con coi thử bên nào Chánh lý: Hữu hình thì bị diệt  đặng,  chớ  Vô

Vi chẳng thế nào diệt đặng.

Thơ! Thầy đã khiến con đi Đế Thiên Đế Thích đặng xem cho tạng mặt Hữu hình, nội thế gian nầy ngày nay ai cũng nhìn nhận cho là tối đại, mà con đã thấy nó còn bền vững đặng chăng? Lòng đạo đức của con, Thầy thấy rõ, nhưng thời giả dối đã qua, thời kỳ chân thật đã đến, Thầy không muốn cho con hao tài tốn của mà gìn giữ sự giả dối.

Chẳng cần chi con lập Thánh Thất của Thầy và sùng tu Phật tượng chi hết. Con hiểu bổn nguyên Bảo Sanh là bổn nguyên Thánh chất Thầy. Thầy khuyên con để dạ lo cho nhơn sanh mà thôi, phần hồn về Thầy."...

Các Đấng thiêng liêng giao cho Lục Nương Diêu Trì Cung giáng cơ trả lời Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh về Tờ Sớ xin làm Cực Lạc Cảnh và Thái Cực Đồ.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng mở đầu, sau đó nhượng cơ cho Lục Nương.

   NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN

Mặt nhựt rạng nhờ trời thanh bạch,
Cõi trần may nhờ khách đức dày.
Mùi hương sen Phật đã bay,
Từ bên Đông Á phô bày Tây Âu.
Nước hằng sống rửa bầu thế sự,
Khiến nguyên nhân đổi dữ theo lành.
Vạn bang dẹp cuộc chiến tranh,
Lập cơ thoát khổ độ sanh muôn loài.
Kẻ vì mị đoái hoài giả đạo,
Kẻ hay tin quái giáo gây trò.
Nguyên nhân lỡ bước ai lo,
Đon đường Cực Lạc đưa đò mê tân.
Khá hiểu nghĩa Thiền Lâm cho chóng,
Các nguyên nhân trông ngóng bấy lâu.

Biết thân lại đợi ai cầu,

Tái cầu, Lục Nương tiếp:

Cầm gươm thần huệ soi lầu nguyệt quang.
Dục thế tục an nhàn lấy phận,
Cửa Thiên cơ khỏi vấn vương oan.
Để chân vào cõi Niết Bàn,
Thoát vòng luân chuyển may đàng tầm duyên.
Tu đặng phép nhà Thiền ít kẻ,
Những đam mê theo lẽ dối đời
.
Sa môn chánh pháp đổi dời,
Con buôn cửa Phạm gạt người thiện tâm.
Khá hiểu nghĩa Thiền Lâm cho rõ,
Các thinh âm chẳng có cửa Không.
Bớt điều sắc tướng hoàn vong,
Bớt điều hồ mị nhọc lòng phạn hương.
Bớt những lẽ người đương mê tín,
Nhập Tịnh gia cậy lịnh Thích Ca.
Bớt điều làm sãi bó ma,
Đưa linh lại mượn có nhà minh sanh.
Bớt những lẽ giựt giành bái phước,
Lấy Vu Lan đặng được ấm no,
Bớt kinh bớt xá dâng thơ,
Mã môn con hát giả đò giải khiên.
Bớt cậy Phật lập quyền Địa Ngục,
Bớt đồ mưu lấy phục Di-Đà.
Bớt phương giải nạn tinh ma,
Lập nên danh phận cho nhà quỉ tăng
.

    Thái Thơ thanh,

Anh khá kiếm lời răn của Phật,
Lấy từ bi dìu dắt sa môn.
Phật tăng như xác không hồn,
Lấy câu cứu khổ làm môn độ đời.
Anh khá mở cho rồi Cực Lạc,
Lập đường tu cho các chư sơn.
Tùng theo Tân Pháp Chí Tôn,
Đường tu cửa Phật may huờn như xưa.
EM nói rõ cho vừa ANH hiểu,
Bác Thiền Lâm, tùng kiểu Tam Kỳ.
Phép mầu hai chữ Từ Bi.
                 THĂNG

Đức Chí Tôn giáng cơ tiết lộ cho biết, nguơn linh của Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh là Từ Hàng Bồ Tát, và của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh là Long Nữ, đồ đệ của Đức Quan Âm Bồ Tát và của Ngài Đầu Sư Thái

Nương Tinh là Văn Thù Bồ Tát.

Sau đây xin chép lại bài: Đức Phạm Hộ Pháp xuất vía về Bạch Ngọc Kinh và Cực lạc Thế giới, thấy Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh, Chơn linh của Đức Từ Hàng Bồ Tát giáng trần, vào năm Đinh Mão (1927):

"Lúc mở Đạo ở Nam Vang (Tần quốc), Đức Phạm Hộ Pháp xuất Chơn thần về Thiên đình, qua Bạch Ngọc Kinh và Cực Lạc Thế giới, thấy Cửu phẩm Liên Hoa, nên thuật y câu chuyện lại cho Ngài Thái Thơ Thanh nghe như vầy: Đương lúc mơ màng, Chơn thần liền xuất đi, thấy ngồi trên một cái xe ngựa, day qua thấy cảnh Thất thập nhị Địa, qua đến Tứ Đại Bộ Châu, nhìn thấy Đức Chí Tôn đứng trên Tòa Kim Khuyết, Đức Lý Giáo Tông cũng đứng trên bàn, kế Chức sắc Thiên phong, mấy vị Đạo tâm đứng hầu Ngài….”

Năm 1950, Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh trở về nhà riêng ở Tân Định Sài Gòn để dưỡng bịnh. Ngài bị một bọn cướp ăn mặc giả trang là người thân đến thăm, lọt được vào nhà, chúng ám hại Ngài để cướp bóc tiền của và vàng bạc.

Ngài qui vị ngày  21-7-Canh Dần  (dl: 3-9-1950)

hưởng thọ 77 tuổi.

Hội Thánh hay tin, đem Liên đài xuống Sài Gòn để tẫn liệm thi thể rồi rước về Tòa Thánh Tây Ninh làm lễ Đạo táng rất long trọng. Liên đài nhập Bửu tháp, xây tại Đông Lang Tòa Thánh và đem bửu ảnh thờ nơi Báo Ân Từ

Bài thài hiến lễ Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh:

Tu thân giáo hóa chỉnh đời thanh,
Đồng chúc lê dân hưởng phước lành.
Cõi tục cầu an kinh tụng niệm,
Lời truyền nguyện thấu đến cao xanh.
Mưa nhuần gió thuận Nghiêu - Thang tịnh,
Nắng tốt tuyết hòa Thuấn - Võ thanh.
Đồng hưởng đời đời câu thạnh trị,
Tiêu diêu khoái lạc chí hùng anh.

Bài thài nầy về sau được Hội Thánh dùng làm bài thài hiến lễ chung trong Lễ cúng kỹ niệm và tế lễ  các vị Nam Nữ Đầu Sư quá vãng hằng năm.

Ngày mùng 8-4-Nhâm Dần (dl: 5-8-1962), tại Thánh Tịnh Huỳnh Quang Sắc ở Bình Đông, Chợ Lớn, Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh có giáng cơ cho bài thi ngụ ý cho biết Ngài trở về cõi thiêng liêng được đắc phong là Từ Hàng Đạo Nhơn.

                    THI
TỪ  bi xây dựng lập ban vui,
HÀNG  mặc viết tu bước thẳng xuôi.
ĐẠO  lý sáng soi dìu khách tục,
NHƠN  luân tô điểm tợ hoa tươi.
NGUYỄN  gia gội phước gìn nên một,
NGỌC  quí đượm màu giữ vẹn mười.
THƠ  phú Thần Tiên ngâm hiểu nghĩa,
GÍANG  khuyên ráng học đạo làm người.

Khoán thủ 8 câu thơ trên là: Từ  Hàng  Đạo  Nhơn

Nguyễn Ngọc Thơ giáng.

Tiếp theo, ngày 15-9-Nhâm Dần (dl: 13-10-1962), cũng tại Thánh Tịnh Huỳnh Quang Sắc, Ngài Thái Thơ Thanh giáng cơ ban cho Kinh Nhạc Đạo Hành Ca, giảng giải về Đạo lý:

TỪ   tâm cứu khổ độ quần sanh,
HÀNG  uyển chỉnh tu tạo sống lành.
ĐẠO  lý gieo truyền gầy hạnh lạc,
NHƠN  luân bồi đắp tạc thinh danh.
NGUYỄN  gia phước huệ nêu màu đẹp,
NGỌC  tốt tinh vi rạng sắc thanh.
THƠ  viện sáng soi gìn giác thế,
GIÁNG
 phân lẽ phải gắng thi hành.

Đàn nay, Bần đạo thừa vâng sắc lịnh của Đức Chí Tôn giáng tả Kinh NHẠC ĐẠO HÀNH CA quyển nhứt trên đường khai thông chuyển hóa.

                  TỰA KINH

NHẠC  lòng hòa tấu bản Đường Tu,
ĐẠO  đức sáng soi vẹt ngút mù.
HÀNH  hóa cảm thông khai mạch sống,
CA
 ngâm đúng điệu tỉnh phàm phu.

Nhạc Đạo Hành Ca là những điệu sóng đàn lành mạnh hòa nhịp bản ca đạo đức, là những giọng dịu hiền giác hóa khách trần đi trên khúc quanh mê lộ.

- NHẠC ĐẠO hồn quê gọi kêu người lạc lối,
- HÀNH CA lý tưởng khai triển bước quang vinh.

Câu đối:

-Nhạc ĐạoTam Kỳ giác ngộ trần mê khai tâm chuyển hóa,
-
Hành Ca nhứt lộ xiển dương chánh pháp bỉnh tánh hồi nguyên
 

 07- Ông LÊ-BÁ-TRANG (1879-1936)

Thánh danh Ngọc Trang Thanh

Đốc-phủ-Sứ Chợ-lớn

 

 

Ông Lê Bá Trang sanh năm 1879 tại làng An Qui, tổng An Trung, tỉnh Sa-đéc. Ông theo Tây học, thi đậu ngạch Tri Huyện, được bổ làm Chủ Quận Thủ Ðức, rồi thi đậu Tri phủ, được bổ làm Chủ Quận Chợ Lớn, được thăng Ðốc Phủ Sứ, làm Chủ Quận Vũng Tàu. Ông nhập môn theo Ðạo Cao Ðài vào tháng 5 năm 1926 (Bính Dần), được Thiên phong Ngọc Chánh Phối Sư vào ngày 3-7-Bính Dần (dl: 10-8-1926).

Năm 1929, Ngài Lê Bá Trang xin từ quan và phế đời về Tòa Thánh Tây Ninh hành Ðạo. Năm 1930, Ngài Lê Bá Trang được thăng lên Quyền Ngọc Ðầu Sư, cùng một lượt với Ngài Nguyễn Ngọc Tương.

Thời kỳ ông Trang lập Chi phái:

   Ông Trang cùng với ông Tương rút về Bến Tre lập Ban Chỉnh Ðạo, sau đó biến thành Chi phái Bến Tre. Ông được Ðại Hội Vạn Linh của phái Bến Tre bầu làm Ngọc Chưởng Pháp.

     Ông Trang qui liễu tại Bến Tre ngày 30-5-Bính Tý (dl: 17-7-1936), liên đài được đưa về Tòa Thánh Tây Ninh ngày 21-7-1936, được Toà-Thánh nhận cho vào nhập bửu tháp ở phẩm Quyền Ngọc Ðầu Sư.

            Đức Hộ-Pháp phán định: Những Chức sắc phế phận, bỏ Toà Thánh ra đi, đã bị Hội Thánh ngưng quyền, nay ăn-năn hối cải, muốn trở về tạ tội xin Hội-Thánh khoan hồng, thì khi ra đi mang phẩm tước gì, nay trở về phải mang phẩm tước đó, chứ không thể xưa là một phẩm Quyền Đầu sư nay quay trở lại với một phẩm Giáo-Tông được ! Với những hình thức cờ quạt lộng tàng, tiền hô hậu ủng như thế này không thể chấp nhận cho vào Toà Thánh được" .

Ðàn cơ tại Phạm Nghiệp ngày 11-6-Bính Tý (dl: 28-7-1936), phò loan: Ðức Hộ Pháp và Cao Tiếp Ðạo, Ðức Quyền Giáo Tông giáng cơ nói về chơn linh của Ngài Lê Bá Trang bị đọa nơi Lạc Hồn Trì, ghi lại như sau:

      THƯỢNG TRUNG NHỰT

          Chào mấy em.

“Thượng Phẩm nói với Qua mấy em đợi.

Ôi! Qua nghĩ lại bắt tức mình, mấy em nghĩ lại mà coi, một kiếp sanh đâu mấy lát, cái giả cuộc trần hoàn tuy xem nháy mắt mà ảnh hưởng nó sâu sắc biết là bao, nào là danh, nào là vị, nào là tước, nào là quyền, nào là vinh, nào là trọng, rốt sự rồi cũng không còn mảy mún giá trị chút gì nơi cõi Hư linh Hằng sống, bất quá như còn vui dự đặng một tiệc ngọt ngon của khách phong trần say sưa một lát mà đòi phen chịu thảm cả đời.

Qua đến viếng TRANG nơi Lạc Hồn Trì, nó nằm mê sảng sốt, đau lòng hết sức, như lời Thất Nương và Bát Nương làm chứng, thì dầu cho Qua có đến gần nó lúc  nầy

cũng không bổ ích chút nào cả, phải đợi cho nó từ từ định tỉnh, may ra có tay Thất Nương giải mộng thì thỉnh thoảng định tỉnh tinh thần. Nếu Qua cượng cầu thì chẳng khác nào hầu chuyện với người điên, chọc thêm loạn tánh.

TÁM, Em nên phò loan đặng Qua truyền tin  TRANG

cho Em hiểu. Khi nãy, Qua thấy em có khách nhiều thì phải, thôi Qua đi.” Thăng.

      Hộ Pháp Ðường ngày 17-10-Bính Tý (dl: 30-11-1936), phò loan: Ðức Hộ Pháp và Cao Tiếp Ðạo. Ðức Quyền Giáo Tông giáng cơ nói về chơn linh của ông Trang và ông Tương:

THƯỢNG TRUNG NHỰT

… “TRANG khóc quá bây ơi! Vừa hiểu hiểu chớ còn khi

tỉnh khi say, nhưng Qua theo bên mình ủng hộ, không sao phòng ngại. Em TÁM làm ơn nói với con Hai cho nó biết, kẻo lo rầu tội nghiệp.

Hộ Pháp bạch: - Biết nó nghe không?

- Em cứ nói giùm. Cha chả ! Va oán Em đánh va hôm nọ lắm. Qua an ủi mà hễ tỉnh thì cằn-rằn hoài. Em nên viết cho va một cái thơ an ủi, cậy Qua đưa giùm  đặng

Qua thừa dịp thức tánh va một chút. Em làm ơn giùm.

    ….. Ôi! Thây kệ, đừng giận làm gì nữa. Nếu Em thấy va lúc nầy thế nào Em cũng tội nghiệp. Em làm phước làm giùm cái tháp cho va, hễ tỉnh thì hỏi có bao nhiêu đó hơn hết. Ôi! TƯƠNG là cục nợ báo đời của TRANG, do căn kiếp phải vậy, dầu khi chết cũng còn theo báo hại.

           Em biết TƯƠNG là ai chăng ?

Ðứa nào nói trúng, Qua thưởng một củ mì !.

          - Qua nói nhỏ: NGÔ TÔN QUỜN đó biết không?...

Cái chết của Ông Lê Bá Trang:

Ngày 30-5-Bính Tý (Thứ Sáu: 17-7-1936). Ông Tri phủ Lê Bá Trang, là Ngọc Chưởng Pháp của Ban Chỉnh Đạo (Bến Tre) từ trần. Ban Chỉnh Đạo xin Hội-Thánh Cao-Đài Toà-Thánh Tây Ninh cho ông Trang được an táng nơi nội-ô Toà-Thánh Tây-Ninh. Dù rằng ông Trang đã bị Hội Thánh Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ lập Đạo Nghị định thứ 17 ngưng quyền cả hai Ông: Tương và Trang ngày 26-5-Quí Dậu (Thứ Ba: 18-7-1933) rồi. Nhưng Hội Thánh vẫn rộng quyền ân tứ  như lời cầu xin. Thế là vào ngày 4-6-Bính Tý (Thứ Ba: 21-7-1936) Ban Chỉnh Đạo Bến tre chở liên đài ông Lê Bá Trang về Toà Thánh có cả ông  Nguyễn-Ngọc-Tương mặc phẩm phục Giáo-Tông của  phái  Bến  tre. Đoàn tuỳ tùng là Chức sắc áo mão rực rỡ, rần rần, rộ rộ kéo về Toà-Thánh Tây Ninh. Thực sự đây cũng là một “ý đồ” chiếm Toà  Thánh nữa. Nhưng…

Hội Thánh Cao-Đài Toà Thánh căn cứ vào quyết nghị là: Ban Chỉnh đạo Bến tre đã có Hội-Thánh riêng, giáo điều riêng, giáo lý riêng, Thánh Thất riêng  thì  không           

thể mặc sắc phục này vào Toà Thánh được. Muốn về Toà Thánh thì phải tuân theo Nghị định thứ 8 của Đức Lý Giáo

Tông là phải “mặc áo trắng”.

            Ban Chỉnh Đạo thì cho rằng: “Bằng khoán đất và tất cả giấy tờ của Đạo đều là của ông Tương đứng tên thay

mặt ngày xưa cùng với Bà Nữ Đầu sư Lâm Hương Thanh”  Thì hôm nay đây ông Tương trở về với vị thế một chủ nhà.

Bức thư số 2

Ông Ngọc-Trang-Thanh gởi các Họ Đạo đề cao

cảnh giác Thái-Ca-Thanh.

Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ

(Đệ thất niên)

Toà-Thánh Tây-Ninh, le 3 Novembre 1932.

(Mùng 6 tháng 10 năm Nhâm Thân)

             Ngọc Chánh Phối-sư kiêm Chủ-trưởng Chức-Sắc

Nam-phái.

 Gởi cho chư vị Đầu họ Tỉnh và Quận Đạo.

 

Chú thích: TRANG: Ông Lê Bá Trang. Ðức Quyền Giáo Tông gọi Ðức Hộ Pháp là Em TÁM

               Hiền Hữu, Xin Hiền-Hữu đọc bức thơ sao lục dưới đây của Thượng Tương-Thanh Chánh Phối-sư, gởi khuyên Ông Thái-Ca-Thanh ở Mỹ-Tho hồi tâm đặng trở lại đường Chánh-giáo. Các ý-kiến tỏ ra trong thơ ấy đều hạp với ý-kiến của Tôi nên khuyên Hiền Hữu đọc lại cho rõ, hiểu cho chắc rằng những việc của ông Thái-Ca-Thanh hồi giờ gánh sự rắc-rối cho nền Đạo đều do chuyện hờn giận riêng mà làm cho vừa lòng, nên không nhằm Thánh ý.  Nếu Đạo-hữu nào còn mê-tín theo Người nữa thì sau rồi dầu có ăn-năn cũng muộn và trễ bước đường công  quả.  Xin Hiền Hữu truyền lại cho chư Đạo hữu Nam Nữ rõ biết mà tránh việc lầm lạc ấy, hầu đi cho cùng bước Đạo mà về Thầy. (Ký tên - Ngọc Trang Thanh)

 

<<<o0o.>>>

 

  

 08 - Ông VƯƠNG-QUAN-KỲ (1880 - 1939)

Tri phủ sở thuế thân Sài-gòn

Ðêm 30 tháng chạp Ất Sửu (dl: 12-02-1926)

THẦY cho thi Quan Phủ Vương Quan Kỳ:

Nhựt nhựt tân hề nhựt nhựt tân,
Niên đáo tân hề Ðạo dữ tân.
Vô lao công quả tu đương tác,
Niên quá niên hề Ðạo tối tân
.

             (Đức Cao Đài)

1- Phần đời: Tri phủ Sở thuế thân:           

Ông Vương Quan Kỳ, tự Mỹ lương, người tỉnh Chợ Lớn. Sanh ngày 29-5-1880 (khai sanh ngày 4-7-1880 tại Chợ-Lớn) Ngài là cháu nội của Thống Chế Vương Quan Hạc. Ông ngoại là nhà Nho yêu nước, là Tuần Phủ Huỳnh Mẫn Đạt (1807-1883), đậu cử nhân, làm quan hai triều Minh Mạng và Tự Đức, rồi từ quan khi nhà Nguyễn ký Hòa ước 1862 với Pháp.

Song thân ông Kỳ là Vương Quan Để (1842-1887)

và Bà Huỳnh Thị Bảy (1851-1935). Thuở nhỏ Ông học trường Collège de Mỹ Tho (từ 1894) sau lên  Sài-gòn  học

trường Lycée Chasseloup Laubat (1896) đậu Diplôme. Năm 1898, Ngài đậu ngạch Thư ký sở Hành chánh Nam Kỳ và bắt đầu đi làm việc ngày 18-5-1898 tại Direction de L’Agriculture et du Commerce, cùng làm việc với ông Chiêu ở Dinh Thống Đốc Nam Kỳ, ngạch Tri phủ.

Ngài Vương Quan Kỳ nhập Pháp tịch ngày 16-3-1912 lấy tên là Guillaume.

Ngày 1-2-1906, Ngài Vương Quan-Kỳ phối ngẫu với Bà Huỳnh Ngọc Phan (1878-1949) người tỉnh Sa-đéc. Bà là con của ông Huỳnh Long Huấn và Bà Trần thị Kim. Ông Bà có được hai người con gái: Bà Vương Thanh Chi (Sophie 1908-1980) và Bà Vương Xuân Hà (Anna 1911-1983). Năm 1913 với người thiếp tên là Lê Thị Được, Ngài có một con trai tên là Vương Quan Sen (1915-1985).

Anh trai thứ hai (khác mẹ) của  ngài  Vương  Quan  Kỳ  là 

 

Chú thích: Điều đáng lưu ý là:

- Bức thư của ông Tương khuyên ông Ca đề ngày 1-11-1933

- Văn thư của ông Trang gởi cho các Họ Đạo đề cao cảnh giác Ông Ca đề ngày 3-11-1933. Ngay lúc này, Nhị vị Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang-Thanh cả  hai  là  phẩm  Chánh Phối-sư,  là  Chức  sắc đương quyền.

- Ngày 17-1-Đinh-Dậu (1933) cách nhau trên 10 ngày, hai Vị Tương và Trang được Đức Quyền Giáo-Tông và Hộ pháp đồng ký tên thăng phẩm Quyền Đầu-sư, kế đó không lâu hai vị này bất đồng ý-kiến với Đức Quyền Giáo Tông mà tách ra Chi-phái Bến Tre (Ban Chỉnh Đạo)

ông Vương Quan Trân, còn gọi là Vương Thế Trân (1863-1927) phối ngẫu với Bà Đỗ thị Sang (1866-1931) Bà là con gái lớn của Tổng Đốc Phương, có hai người con là Vương Thị Lễ (1900-1918) và Vương Hiếu Nghĩa (1905-1985)

Cô Vương Thị Lễ sanh ngày 8 tháng giêng năm Canh Tý (1900) học trường Sainte Enfance (thuộc nhà dòng Saint Paul de Chartres) đến Brevet Élémentaire (Trung học pháp). Cô Vương Thị Lễ qui Thiên ngày 25-10-Mậu Ngọ (dl: 28-11-1918) năm ấy Cô 19 tuổi.

2- Phần Đạo: Giáo sư của Tòa-Thánh Tây-Ninh

Đêm giao thừa năm Bính Dần (dl: 12-02-1926) đoàn  người Môn đệ Đức Chí-Tôn đến thăm từng nhà của nhau. Mỗi nơi đến đều có thiết đàn thỉnh Đức Chí-Tôn giáng dạy và mỗi người được một bài thi.

Bài thơ Đức Chí-Tôn cho Ông Vương-Quan-Kỳ:

Nhựt nhựt tân hề nhựt nhựt tân,
Niên đáo tân hề đạo dữ tân.
Vô lao công quả  tu đương tác,
Niên quá niên hề Đạo tối tân.

Ông thọ phong Giáo-Sư ngày 26-4-1926. Ông là Chú của cô Vương Thị Lễ. Cô đến với Tam Kỳ Phổ Độ trong buổi đầu tiên, tá danh là Đoàn Ngọc Quế tức Thất Nương Diêu-Trì-Cung hướng dẫn các ông Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư và Cao-Hoài-Sang học Đạo buổi đầu.

           Ngày 15-3-Bính-Dần ông Vương Quan-Kỳ được phong chức Tiên đắc Lang quân nhậm Thuyết đạo Giáo sư. Rồi ông được Thiên-phong Giáo-sư phái Thượng, tức là Thượng-Kỳ Thanh ngày 14-5-Bính Dần. Đến rằm tháng 10-Bính Dần (dl: 19-11-1926) lại xảy ra việc thử thách: Cô Vương Thanh Chi là ái nữ Ngài Vương Quan Kỳ bị “nhập xác” tạo nên chuyện biến trong ngày Lễ khai Đạo này tại Thánh Thất Gò-Kén. Có lẽ vì vậy thêm một lý do nữa khiến Ngài Vương Quan Kỳ chán nản và lơi dần việc Đạo sự mới ra đến nỗi.

            Nhưng đến ngày 14-11-Bính-Dần (dl:18-12-1926) thì Đức Lý giáng dạy:

           “Thượng-Kỳ-Thanh bị sụt chức làm Giáo Hữu. Như

không tuân lịnh xuất ngoại”.

           Đến ngày 18-11-Bính Dần (dl: 22-12-1926)

            Đức Lý dạy:

          “Thượng-Trung-Nhựt, Hiền-hữu viết thơ cho mấy Thánh-Thất lục tỉnh nói Thượng-Kỳ Thanh bị trục xuất ra khỏi hàng Môn-đệ chẳng quyền-hành truyền Đạo nữa. Như nó chẳng tin nghe lời bị phạt Tả đạo bàng môn thì chịu, nghe à! Đã lập pháp mà nó muốn làm chi thì làm như buổi trước vậy hoài, thì bị phạm Thiên-điều tránh sao

cho khỏi tội. Hộ-Pháp Hiền-hữu khá an lòng.    

           Qua ngày 28-11-Bính Dần (dl: 1-1-1927) thì:

           Đức Lý giáng dạy:

           “Thượng-Trung-Nhựt, Hiền-hữu từ đây coi Thượng Kỳ-Thanh như một Môn-Đệ vậy thôi, chứ chức Giáo-Hữu cũng cất luôn nữa. Thầy để lời xin tha mà pháp-luật đã phạm tha sao cho được”.

Vào năm 1930, Giáo-Sư Thượng Kỳ-Thanh tức là Vương-Quan-Kỳ, không tuân lịnh Toà Thánh Tây-Ninh áp dụng nghi lễ mới, nên tách ra lập phái, lập tại Thánh-Thất Cầu-Kho.

“Qua sự giới thiệu của chơn linh Cô Vương Thị Lễ Ngài Vương Quan Kỳ quen biết và cùng hành Đạo với nhóm của ba Ngài Cư, Tắc, Sang từ 17-11-1925 (ngày này do chính Ngài ghi lại trong sổ).

Trước đó, vào năm 1924 Ngài làm việc chung phòng Thương Mại tại Dinh Thống Đốc với Ngài Ngô văn Chiêu, là bạn đồng song. Nhưng từ khi Ngài Ngô văn Chiêu tách riêng lập phái Chiếu Minh thì Ngài Vương Quan Kỳ buồn bã và lơi đi chuyện Đạo sự nơi chốn Tổ Đình, tức toà Thánh Tây Ninh. Vì lẽ đó mà Đức Lý trục xuất chăng ?

Ngài Vương Quan Kỳ qui Thiên ngày 18-10-Kỷ Mão (1939) an táng tại Tân-Sơn-Nhì. Hôm tang lễ, các Ngài: Nguyễn Ngọc Thơ, Đoàn văn Bản có đọc bài Ai điếu đưa tiễn. Hiện tro phần của Ngài lưu tại Thánh Thất Bình Hoà (Gia Định)

Trong “Con đường Thiêng liêng hằng sống” Đức  Hộ Pháp nói về ông Vương Quan Kỳ  như sau:

“Bần-Đạo may duyên đặng  thấy  hình  trạng  ấy, chúng ta không thể gì định hành-tàng người này hay, người kia dở, người này nên, người kia hư, nhiều điều ta ngó thấy trong cảnh này khác hẳn với khuôn luật vô hình, chúng ta chẳng thể nào đoán trước được. Bần-Đạo thấy người Bạn nhờ ơn Thiêng-Liêng của Đức Chí-Tôn, ơn riêng ban cho người Bạn ấy. Người ấy có Người chí thân là một Đấng cầm quyền trọng hệ trên Hư-Linh tức là Diêu Trì-CungThất-Nương. Bần-Đạo nói rõ, Người ấy là Vương Quan-Kỳ chú ruột của Thất-Nương vậy. Người mở Đạo mà chẳng biết Đạo là gì hết. Đi theo một tư-tưởng của nền Chánh-giáo do Đức Chí-Tôn, định quyết tư-tưởng của Người ấy và cả hành-tàng, nếu chúng ta thấy ta sẽ lên án là Tả-Đạo Bàng-Môn chắc hẳn vậy.

Lạ thay! Khi Bần-Đạo quay lại dòm thấy nhiều Bạn rơi xuống Bích-Hải khóc lóc, còn người đó bận Thiên Phục giống hình đội mão Giáo-Sư, lại áo tốt vắt vai, mão cầm nơi tay, bận quần cụt ở trần đi ngật-ngờ, ngật ngưỡng cười một mình không biết cười cái gì, đi ngang qua Bát Quái-Đài như không vậy.

Ấy các bạn đủ biết, dầu hành tàng của người bề hữu-vi thấy trái hẳn nền chơn-giáo Đức Chí-Tôn mà trọn tâm tín-ngưỡng Ngài, ta đoán không đặng, người thọ Thiên-Phục áo mão dầu không thế gì mặc vô được, duy cầm nơi tay đi ngang vô Bát-Quái-Đài không quyền-lực nào ngăn cản được. Chúng ta nên lấy bài học ấy đặng để trong tâm, đừng phê-bình công kích. Thoảng ta có phận sự dạy-dỗ để dìu-dắt cả các phần-tử Thánh-Thể của Đức Chí Tôn và chúng ta có được quyền lấy oai-nghiêm của mình tìm phương thế nào dạy-dỗ đặng hiểu biết về phần hình thể và phần hồn của toàn con cái Đức Chí-Tôn, ngoài ra không có quyền gì công kích, tự kiêu, mình bất quá là một phần-tử trong Thánh-Thể Ngài mà thôi; không đặng quá tự-tôn tự-trọng, cửa Thiêng-Liêng, chúng ta có những linh hồn, thoảng may duyên tạo nhiều linh hồn nữa, tức nhiên ta có đủ quyền năng, dìu dắt con cái của Đức Chí-Tôn trở về trong đường lối khai phá của Người, ấy là phận sự của chúng ta đó. (Đêm 08 tháng 9 năm Mậu-Tý (10-10-1948)

Đó là nguơn linh của Hàn Tương Tử thích phóng túng tiêu dao.

 

>>>o0o<<< 

 

09 – Ông  NGUYỄN-VĂN-KINH (1890-1945)

Thầy Tu Bình-lý-thôn Gia-Định

Nguyễn văn Kinh thọ Thiên phong Giáo sư

            Ông Nguyễn văn Kinh là con trai thứ ba của ông Nguyễn văn Khá và Bà Thái thị Ban. Ông sanh năm 1890 ở Bình Lý Thôn, Gia Ðịnh, học trò của Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang. Tu theo Minh sư từ lúc 13 tuổi, giỏi chữ Nho, ông cũng thường hốt thuốc trị bịnh tại nhà (làng  Bình Lý, nay là ấp 6A, Bình lý, xã Bình Mỹ - Củ Chi)

Khoảng năm 1920, ông có lập một am nhỏ tại Hữu Đạo, Cai lậy, để học Đạo với Ngài Nguyễn Đạo Tương  được Đức Cao-Đài ân phong vào ngày 08-06-Bính Dần, hàng phẩm Giáo sư phái Ngọc. Ông có soạn hai quyển Giáo lý là: Giảng Đạo yếu ngôn, Hội lý xiển chơn luận…được Toà Thánh ấn hành năm 1928. Đến nay còn được lưu truyền

            Ngày 3-3-Ất Dậu (1945) Ông Nguyễn văn Kinh thọ lịnh đi giảng Đạo miền Trung. Xuống tàu tại bến Nhà Rồng, nhằm một đợt bắn phá của máy bay Đồng Minh chống Nhựt, ông bị thương, đưa về đến Bịnh viện Chợ Rẫy thì qui vị. Ông được an táng tại Ngã ba Đồn (nay thuộc ấp 5, xã Đông Thạnh, Hốc môn).

Năm 1980, cải táng hài cốt về Tây Ninh.

            Phải chăng Thầy biết trước ông Kinh tuy là Chức sắc được ân phong nhưng đức tin không vững, Thầy mới để lời khuyên như sau. Nhưng rốt rồi ông cũng tách ra theo Chi Phái

Thánh Giáo Đức Chí-Tôn ban cho ông Kinh:

            Thầy dạy: ngày 26-5-Bính Dần (dl: 5-7-1926):

CAO ÐÀI:  Đức CAO ÐÀI giáng cơ dạy như vầy:

“K... nghe Thầy dạy con. Người dưới thế nầy muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật, muốn cho đắc đạo phải có công quả. Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo. Vậy đắc đạo cùng chăng, tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn. Thầy nói cho con nghe.  K... ôi! Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.

            K... con ôi! Cửa Bạch Ngọc Kinh ít kẻ, chớ chốn A Tỳ vốn nhiều người. Con liệu mà hành đạo. Thầy thương con chừng nào, ngày sau con càng ăn năn tiếc chừng nấy. Thầy đã hiểu lòng con ăn năn sám hối, nên Thầy đã tha tội trước cho con rồi. Phận sự con rất lớn, tại Ngọc Ðàn con sẽ thọ lịnh”.

            Chúa nhựt, 25-7-1926 (âl 16-6-Bính Dần)

… “Thầy dặn các con, như đàn nội chẳng nghiêm, Thầy không giáng, ba con nhớ nghe !

Tr..., L..., K..., T... nghe: Bốn con đã mang nơi mình mỗi đứa một trách nhậm chẳng phải nhỏ.

Thử nghĩ, lập một nước còn dễ hơn dạy một người dữ đặng hiền, huống chi trong Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, các con phải độ rỗi cả nhơn loại khắp cả Năm Châu, thì trách nhậm ấy lớn lao là bực nào. Cái hạnh và cái đức của các con, nó phải phù hạp với cái trách nhậm mới đặng. Các con là đèn và gương soi của nhơn loại, phải tập mình cho xứng đáng. Các con có đặng hạnh phúc ấy là do học đặng mảy mún nơi Thầy, mà Thầy dạy các con chẳng nghe, Thầy sai các con chẳng tuân.

Tu thân còn chưa xong thì thế nào mong mỏi thành Tiên, Phật đặng?”

Trong Thánh Ngôn chép tay của Bà Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu, trang 53, có chép bài Thánh Ngôn nầy, nhưng phần cuối có thêm một đọan, xin chép bổ sung ra:

 "Tu thân chưa xong thì thế nào mong mỏi trị quốc và  bình thiên hạ đặng. Các con ôi! Dưới thế nầy, biết bao nhiêu là Môn đệ của Thầy mà sao Thầy buộc mình lựa cho đặng: Trung, Lịch, Minh, Kinh, Tương. Các con chưa biết sự quí trọng ấy, mà đến ngày biết lại ăn năn đã muộn. Các con phải gẫm những Thánh ngôn của Thầy cho lắm và liệu lấy mà xét mình.

 

10 - Ông NGÔ-TƯỜNG-VÂN

Thông-phán Sở tạo tác Sài-gòn

 

. . . . . . . . . . . . . .

 

 

- 11- Ông NGUYỄN-VĂN-ĐẠT (1881-1942)

Nghiệp chủ Sai-Gòn

            Tên thật của ông là Trần Phát Đạt, con của ông Trần Đăng Khoa và Bà Võ thị Phú. Người anh thứ ba của ông là Trần Hiển Vinh, nơi Thanh An Tự.

            Khoảng năm 30 tuổi, để tránh né một vấn đề pháp lý, ông đổi sang họ Nguyễn trong khi bốn người con: hai trai hai gái của ông còn giữ họ Trần.

Ông Đạt làm việc tại Sở Thương Chánh đến khoảng năm 1930, ông về quản lý vườn cao su Phú hưng của gia đình, nhưng vẫn thường xuyên hành Đạo tại Thánh Thất Cầu Kho, Minh Tân, tức nhiên ông là người của Chi phái Cầu Kho.


Ông Đạt qui vị vào năm 1942, an táng tại đất nhà (Bình Dương)

 

-  12 –  Ông NGÔ-VĂN-KIM  (1868-1940)

   Điền chủ. Đại-hương cả.  Cần-giuộc

            Kim: Giáo Sư Thượng Kim Thanh (Ngô Văn Kim).

Ngày 02-02-1926 tại Cần Giuộc, Thầy ban cho ông Ngô văn Kim lời dạy:

Một cây, một núi, một phong quang,

Hồng luyện mây xanh vẽ nét nhàn,

Hậu thú lâm tuyền chê thế tục,

Chừng mô phong nguyệt một bầu mang

            Đêm 01-7-Bính  Dần,  Đàn  tại  Vĩnh  Nguyên  Tự

Thầy giáng vào 12 giờ khuya trong lúc tái cầu như vầy:

“Trong Tam Kỳ Phổ Độ và Qui Tam giáo này:

- Phật thì có Quan Âm.

- Tiên thì có Lý Thái Bạch.

- Thánh thì có Quan Thánh Đế Quân khai Đạo Vậy con lập cho đủ ba Trấn chứng Đàn. Con phải lập bàn Ngũ Lôi như Thầy dạy lúc trước, phải có bùa Kim Quang Tiên, còn con viết bùa Giáng Ma Xử để bàn Vọng Hộ Pháp, rồi Cư chấp bút nhang cho Thầy triệu Ngũ Lôi đến. Rồi nó xuống đứng gần bàn Hộ-Pháp với Tắc và Sang, còn mấy đứa phò loan đứng vòng theo đó.

Con biểu Tương, Kim, Thơ thề y như buổi trước.

Chư môn đệ thề như buổi Thiên phong. Con phải nhớ dặn chúng nó tịnh tâm mới đặng, vì có cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật chứng đàn”.

Như vậy, thêm một số vị được ân ban gồm quí Ngài: Nguyễn Ngọc Tương, Nguyễn Ngọc Thơ, Lê Bá Trang, Ngô văn Kim…Vì buổi hầu Đàn đêm ấy  tại Vĩnh Nguyên Tự  không  hiện  diện  đủ  mặt  chư  vị  tuân  theo

Thánh lịnh .

Riêng về ông Ngô văn Kim (1868-1940) người Xã Trường Bình, Cần Giuộc. Vợ của Ngô văn Kim là Bà Chung Thị Tạo (1868-1925). Ông được Đức Cao-Đài thâu nhận vào Đạo Cao-Đài ngày 2-2-1926 tại Cần Giuộc. Ngày Lễ  Thiên phong lần thứ nhì ngày 3-7-Bính Dần, ông Ngô văn Kim được Thiên phong vào phẩm Giáo sư phái

Thượng  (Thượng Kim Thanh).

Trong bài văn đọc vào hôm rước Xá lợi Ngài Hiến Thế Nguyễn văn Mạnh (1894-1970) về Toà Thánh ngày 19-04-1977, Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa có ghi rõ:

“Ngày rằm tháng 3 Bính Dần, cùng một lượt với Ông Phạm Công Tắc được Đức Chí-Tôn phong là Hộ Giá Tiên Đồng Tá Cơ Đạo Sĩ, Ông Cao Quỳnh Cư là Tá cơ Tiên Hạc Đạo Sĩ, chư vị: Đức, Hậu, Nghĩa, Tràng, Tươi, Chương, Kim, Đãi, Mai, Nguyên, Phước, Mạnh đồng được Đức Chí-Tôn phong là Tiên Đạo phò cơ Đạo sĩ.”

Mười hai vị này sẽ thọ phong và sau trở thành Thập Nhị Thời Quân. Tuy nhiên vào ngày lập pháp Hiệp-Thiên Đài ngày 12-01-Đinh Mão (1927) thì ba vị Kim, Mai, Nguyên vắng mặt. Về sau Đức Chí-Tôn ban cho ba vị khác là  Cao-Đức Trọng, Lê Thế Vĩnh và Thái văn Thâu.

Riêng về Ngô văn Kim không biết rõ về ông.   

 

-13- Ông Đoàn văn Bản  (1876-1941)

Thánh danh Thượng Bản Thanh

            Ðêm 30 tháng chạp Ất Sửu (dl: 12-02-1926)

THẦY cho thi ông Ðoàn Văn Bản:

Thương thay trung tín một lòng thành,
Chẳng kể quan mà chẳng kể danh.
Thiệt thòi bấy phận không con nối,
Thấy rứa lòng Ta cũng chẳng đành
.

            1- Phần đời : Đốc học trường Cầu Kho:

Ông Đoàn Văn Bản, tự là Văn Long, người làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hòa. Xuất thân từ một gia đình trung lưu, cha mẹ mất sớm, Ngài sống với người chú họ.

Trước năm 1914, Ngài được cấp học bổng vào Ecole Normale Primaire d’Instituteur  (Sư phạm Gia Định)

(tức  nhiên  học  trường  Tiểu  học  Biên  Hòa  rồi  nội  trú

trường Sư phạm “Sơ Tiểu” tại Gia Định).

Sau khi tốt nghiệp Ngài được phái làm giáo viên nhiều nơi. Năm 1925, sau cùng về trường Tiểu học Cầu Kho (nay là trường Trần Hưng Đạo, đường Trần Hưng Đạo) làm Đốc Học (Hiệu Trưởng), nên còn gọi là Đốc Bản. Ông chỉ có một con gái là Đoàn Thị Quới.

2- Phần đạo : Giáo Sư

Vì không có con trai nối hậu, ông Bản vẫn thường ưu phiền. Khi ông đã vào Đạo Cao Đài, đêm 30 Tết Ất Sửu (Thứ Sáu: 12-2-1926) trong một Đàn cơ tại nhà ông vào trước giờ giao thừa, Đức Cao Đài an ủi bài thơ trên

Gia đình ông Đoàn-Văn-Bản ngụ ở khoảng góc đường Nguyễn Tấn Nghiệm (nay là Phát Diệm) rất gần trường Cầu Kho. Nhà này sau trở thành Thánh Thất Cầu Kho (nay không còn).

Tư gia của Ông khá rộng, ở cạnh trường, số nhà 42 Général Leman (nay là đường Cao Bá Nhạ), được Ðạo mượn dùng làm Thánh Thất thờ Ðức Chí Tôn, lập đàn cầu cơ, thâu nhận Môn đệ. Phò loan tại đây là hai Ngài: Nguyễn Trung Hậu và Trương Hữu Ðức..

Ông Bản đến phố Hàng Dừa vào ngày mùng 1 tháng Chạp Ất Sửu (Thứ Năm: 14-1-1926), Đức Cao Đài dạy ông như sau:

Bút nở mùa hoa đã có chừng,
Chẳng như củi mục hốt mà bưng.
Gắng công ắt đặng công mà chớ,
Buồn bực rồi sau mới có mừng.

Theo bà Hương Hiếu (Đạo Sử, Quyển I, tr.38), vì ông Bản muốn xin lập đàn cơ, Đức Cao Đài trả lời như vậy, ngụ ý ơn Trời cho ai thì mới được hưởng.

 

 

-14 -Ông LÊ VĂN GIẢNG (1883-1932)

Đêm giao thừa năm Bính-Dần (dl: 12-02-1926) Đức Chí Tôn cũng giáng cơ cho ông một bài tứ tuyệt. Khi đoàn người Môn đệ Đức Chí-Tôn đến thăm từng nhà của nhau. Mỗi nơi đến đều có thiết đàn thỉnh Đức Chí-Tôn giáng dạy và mỗi người được một bài thi.

Bài thi cho ông Lê văn Giảng:

Trần tục là nơi chỗ biển buồn,
Nghe nơi Đại Đạo ráng nghe luôn.
Ở trong nhà sẵn Thầy đưa khó,

Ách nạn chi chi cũng chảy tuôn.

                                   (Đức Chí-Tôn)

1- Phần đời: Thư ký hãng Hippolito:            

Lê Văn Giảng sinh năm 1883, người gốc Phong Thới, Vũng Liêm (Vĩnh long). Con thứ 7 của ông Lê văn Thoại và Bà Võ thị Lương. Ông lập gia đình với Bà Huỳnh Thị Chính (1886-1973). Ông Bà có 7 người con: Lê văn Như, Lê thị Ba, (mất sớm), Lê  văn  Năm,  Lê  văn

Sáu, Lê văn Triệu, Lê văn Sạc.

Ngày họp mặt khai tịch Đạo, ông Bà cùng vài người con đồng tham dự. Năm 1926, ông Lê văn Giảng làm thư ký hãng Hippolito (chuyên bán và sửa xe hơi, đường Espagne).

 2- Phần Đạo: Thượng Giáo Sư:

 Ông nhập môn vào Đạo Cao-Đài một thời gian ngắn thì ông nghỉ việc, chuyên lo hành Đạo. Để lo việc mưu sinh cho gia đình ông lập một nhà máy xay lúa nơi quê nhà. Tại Sài-Gòn, ông cư ngụ số 85 La Grandière (nay là Lý Tự Trọng) và công quả tại Thánh Thất Cầu Kho

 Ngày 14-5-Bính Dần ông thọ phong Lễ sanh.

 Ngày 23-6-1926 ông được thăng lên Giáo Hữu, rồi thăng lên Giáo Sư phái Thượng. Ông có nhiều công trong việc xướng lễ buổi đầu.

Khoảng năm 1930, cơ Đạo qua nhiều thử thách, sức khoẻ không tốt, ông Lê văn Giảng trở về Vũng Liêm, hành Đạo tại Ngọc Hoàng Điện (là Thánh Thất do Bà Hương Thanh lập ra, sau này là Thánh Thất Vũng Liêm)

Trong "Tờ khai tịch đạo" 28 người đứng tên xin khai đạo, ông Lê Văn Giảng, thơ ký kế toán, Sài Gòn, đứng hàng thứ 14. Rất tiếc, khi cơ đạo chuyển về chùa mới thuộc đất Long Thành, ông bỏ dở không tiếp tục hành Đạo. Dù vậy, Đức Chí Tôn vẫn hộ trì ông "Ách nạn chi chi cũng chảy tuôn". Mới hay, đường Đạo gập gềnh khó tới, kẻ thiếu đức tin vô đối thường bỏ dở giữa đường. Ô hô ! biết bao người tu như vậy.


Năm 1932, thì ông rời bỏ Toà Thánh và qua Minh Chơn Lý. Ông Lê văn Giảng liễu Đạo tại quê nhà ngày 16-3 Nhâm Thân (1932) an táng tại Quán An Nhơn, Trung Tín Vũng Liêm.

 

- 15 - Ông HUỲNH-VĂN GIỎI (1880-1954)

Thông-phán Sở Tân Đáo Sài-gòn

            Ông Huỳnh văn Giỏi con của ông bà Huỳnh văn Ngôn và nguyễn Thị Được, người gốc Giồng Luông, Thạnh Phú, Bến Tre. Ông có vợ là bà Phạm Thị Thêu (1881-1953) Ông bà có 8 người con (6 trai, 2 gái). Thuở nhỏ ông theo Nho học ở Bến Tre, tiếp đến lên Sài gòn học Ecole Normale d’Instituteurs. Ra trường ông làm việc tại sở Tân Đáo. Thời gian này ông cư ngụ gần bên nhà của ông Cao Quỳnh Cư (đường Bourdais nay là đường Calmette) nên biết Đạo sớm.

            Ngày 14-5-Bính Dần thọ phong Lễ Sanh, đến 23-8-Bính Dần ông được thăng lên Giáo-Hữu tại nhà ông Nguyễn văn Tường.

            Lúc hưu trí ông rời Toà Thánh, trở về Bến Tre hành đạo tại Thánh Thất An Hội. Ông qui vị ngày 20-7-Giáp Ngọ (1954) an táng trên đất của gia đình phía sau nhà (103D Nguyễn văn Tư, thị xã Bến Tre)

 

  - 16- Ông NGUYỄN-VĂN-TƯỜNG (1887-1939)

Thông-phán Sở Tuần cảnh Sai-Gòn

Thánh danh Thượng Tường Thanh

            Ông Nguyễn văn Tường sinh năm 1887 tại Xã Lương Hoà Lạc, Mỹ-Tho. Con của Cụ Nguyễn văn Tịnh và bà Võ thị Quyên (1867-1934).    Cha mất trước khi Ngài chào đời một tháng. Không bao lâu, người mẹ được đưa lên sống với người Cậu thứ tư (đang là công chức), Ông được người Cậu làm giám hộ lo cho đi học. Lúc trưởng thành, ông Tường vào ngành Cảnh sát, làm Thông ngôn tại bót Chaigneau (đường Yersin, quận I). Từ khi đi học đến đi làm ông đều lấy theo họ Võ của mẹ và Cậu, nhưng vẫn dùng họ Nguyễn trong việc tế tự (Các con Ngài cũng vậy).

Ngài Nguyễn văn Tường lập gia đình với bà Đặng thị Kề (1888-1943). Ông bà có hai người con là Nguyễn văn Trị (1910-1984) và Nguyễn thị Phẩm (1912-1947).

Thời gian đầu gia đình Ngài còn tạm trú tại Sở làm (bót Chaigneau). Đến khoảng năm 1921, Ngài mới mua được mảnh đất trong hẽm đường Galliéni (nay là Trần Hưng Đạo) làm nhà riêng.

Ngài Nguyễn văn Tường nhập môn vào Đạo Cao Đài ngày 14-5-Bính Dần, thọ Thiên phong Lễ Sanh phái Thượng. Đến 26-10-Bính Dần, thăng phẩm Giáo Hữu. Ngài tổ chức họp Khai Tịch Đạo ngày 23-8-Bính Dần chính tại nhà Ngài. Cả gia đình năm người đều có mặt. Từ đó về sau  nơi đây đều tổ chức lễ kỹ niệm Khai Tịch Đạo.

         Ngày Lễ kỹ niệm Ngài Thượng Trung Nhựt nhắc lại:

“Đấng Chí-Tôn giáng kêu Tôi, dạy phải lo cho Môn Đệ của Thầy tối 23-8 tựu tại nhà Đạo hữu Tường đây. Tôi vâng mạng, cho chư Đạo hữu hay lời Thánh truyền. Tới bữa 23 tháng 8 năm Bính Dần, là ngày 29 Septembre 1926, chư Đạo hữu tựu tại đây. Đấng Chí-Tôn giáng  dạy Tôi phải biên tên hết nam nữ lưỡng phái đặng đứng TỜ KHAI ĐẠO cho Chánh phủ. Khi ấy đã có mặt nơi đàn hết thảy 247 vị Đạo hữu. Ấy là sự tích ngày kỹ niệm hôm nay

Ngài Nguyễn văn Tường vẫn thường xuyên hành Đạo tại Thánh Thất Cầu Kho, tách rời khỏi Toà Thánh Tây Ninh bởi qua nhiều cuộc biến chuyển. Ngài qui lúc 18 giờ ngày 26-9-Kỷ Mão (dl: 7-11-1939) an táng nơi Gò Xoài (Trường Thọ- Xã Phước Long Thủ Đức)

 

 

 

- 17 - Ông CAO-QUỲNH-CƯ (1887-1929)

Thánh danh Thượng phẩm Cao-Quỳnh-Cư

 

 

Đêm giao thừa năm Bính Dần (dl: 12-02-1926) đoàn  người Môn đệ của Đức Chí-Tôn đến thăm từng nhà của nhau. Mỗi nơi đến có thiết đàn thỉnh Đức Chí-Tôn.

Bài thơ Đức Chí-Tôn cho Ông  Cao Quỳnh Cư:

Sắp út thương hơn cũng thế thường,

Cái yêu cái dại mới  là thương,

Thương không nghiêm trị là thương dối

Dối dạ vì chưng yếu dạ thương.

Cư, Tắc, Sang! Trong năm mới này Thầy trông mong

ba con rõ thấu đạo đức hơn nữa, gắng chí nghe!

 

 

KHỔ TÂM HÀNH ÐẠO CỦA ÐỨC  THƯỢNG PHẨM

            “Kể từ Rằm tháng 10 Bính Dần (1926) tới Rằm tháng Giêng Ðinh Mão (1927) là đúng kỳ hứa trả chùa Từ Lâm Tự (Gò Kén) là ba tháng, nhưng tới tháng hai năm Ðinh Mão, đã quá hạn kỳ một tháng mà Hội Thánh chưa trả chùa lại được, vì chưa kiếm được đất để mua, còn ông Hoà Thượng Giác Hải thì cứ đòi chùa lại hoài. Vì sự đòi chùa ấy nên Ðức Lý Giáo Tông giáng dạy quí ông Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài đi kiếm đất mua đặng dời chùa.

Ðức Lý dạy: “Mai này chư Hiền Hữu lên đường trên gọi là ường dây thép (là đường từ Mít Một chạy tới cửa Hòa Viện bây giờ) nhắm địa thế dài theo cho tới ngã ba Ao Hồ, coi Hiền Hữu có thấy đặng chăng cho biết. Lão đã nói rằng mỗi sự chi chi đều bày trước mắt nhơn sanh hết".

Qua ngày sau, quí ông đi tìm đất. Ông Thái Thơ Thanh cho mượn một chiếc xe, Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh cho mượn một chiếc.

Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng ngồi trên hai chiếc xe hơi, có Ðức Hộ Pháp, Ðức Thượng Phẩm, Anh Thượng Trung Nhựt, Anh Thái Thơ Thanh, Anh Thượng Tương Thanh, Anh Ngọc Trang Thanh.

Khi xe chạy tới Cửa số hai, hồi trước còn rừng rậm cạnh góc ngã ba có cây vừng, Ðức Cao Thượng Phẩm ngó thấy nơi cây vừng có tấm bảng treo đề tên Cao Văn Ðiện. Ông nầy là bạn học của Ðức Thượng Phẩm hồi thuở nhỏ.

Trong lúc bối rối kiếm đất không được, bất ngờ thấy tên bạn mình đứng tên trên miếng đất nầy nên Ðức Cao Thượng Phẩm nói với Hội Thánh rằng: Ðể tôi đi tìm ông Cao Văn Ðiện nhờ bạn tôi điềm chỉ giùm chủ đất nầy. Ông chủ đất nầy là ông Kiểm lâm người Pháp tên Aspar. Tối lại quí ông cầu Ðức Lý về dạy coi Hội Thánh đi kiếm đất như vậy có trúng không. Ðức Lý giáng dạy như vầy:

"Lão khen Thái Thơ Thanh, phải đó đa ! Tưởng chư

Hiền Hữu không thấy nữa. Lão cắt nghĩa vì sao cuộc đất ấy là Thánh Ðịa. Sâu hơn ba trăm thước như con sông, giữa trung tim đất giáp lại trúng giữa sáu nguồn làm như 6 con Rồng đoanh nhau. Nguồn nước ấy trúng ngay đỉnh núi gọi là Lục Long Phò Ấn. Ngay miếng đất đó đặng ba đầu; một đầu ra Giếng Mạch Ao Hồ; hai đầu nữa bên cụm rừng bên kia. Người Lang Sa chỉ đòi có hai mươi lăm ngàn đồng".

Khi phá đám rừng nầy thì Ðàn Thổ (*1) xuống cả ngàn người để phá rừng, làm cho ông Chánh Tham Biện người Pháp nghi-ngờ mời Ðức Cao Thượng Phẩm ra Tòa Bố. Ông hỏi Thượng-Phẩm chớ làm cái gì mà đông đảo như vậy. Ðức Thượng-Phẩm trả lời rằng: Tôi mua miếng đất đó đặng trồng cao su. Ông Tham Biện hỏi trồng mấy mẫu ? Ðức Thượng Phẩm trả lời: Tôi trồng hết sở đất tôi mua, phá tới đâu tôi trồng tới đó, nên ngày nay trong Nội Ô có cây cao su là do nơi đó.

Khổ tâm hơn hết là Ðức Thượng-Phẩm bị người Pháp cật vấn đủ điều cho đến đỗi tới giờ cúng cũng không vô Chánh Ðiện cúng được, buộc phải rào song ly ngăn lại. Trong Chánh Ðiện chỉ có một mình ông Lễ Sanh Thượng Xường Thanh cúng mà thôi, còn ở ngoài thì vài ba ông thợ mộc quì trên dăm bào lạy vô Bửu Ðiện; vì lúc nầy Chánh Phủ Pháp nghi ngờ bắt Ðạo và bó buộc không cho tụ họp đông, như vậy mà ông Tham Biện người Pháp còn mời Ðức Thượng Phẩm ra Tòa Bố ngày một.”

GIAI ÐOẠN DI CỐT PHẬT TỔ

Cốt Phật Tổ vì nặng quá, bởi con ngựa Kiền Trắc

của Ðức Phật Tổ cỡi lớn và dài nên Ðức Thượng Phẩm phải kết hai chiếc xe bò lại để thỉnh cốt Phật lên.

Trong lúc sửa soạn thỉnh cốt  Phật  thì  ông  Chánh Tham Biện người Pháp cho một toán lính mặc đồ thâm (đen) núp dưới đường mương, ngoài chong súng lên đặng bắn Ðức Thượng Phẩm.Tới chừng thấy rõ là thỉnh cốt Phật mới rút lui. Hội Thánh từ từ di cốt Phật về đất mới mua.

Ðức Thượng Phẩm đứng trên xe bò vịn Ðức Phật Tổ, thấy nghiêng bên nào thì hô lên để sửa lại ngay; đi từ 6 giờ chiều tới 2 giờ khuya mới đến Thánh Ðịa (ngay cửa Hòa Viện bây giờ). Trước cửa Hòa Viện có cây vên vên, đến đây di cốt Phật Tổ vào không được vì bị một cái đường mương lớn quá; Ðức Thượng Phẩm phải lập kế kiếm ván đặng lót xe vô mới được. Khi xe qua đường mương rồi thì tạm để cốt Phật Tổ nơi đây, vì Ðức Thượng Phẩm mệt đuối, nhào xuống đống lá khô trong rừng nằm nghỉ; tất cả Chức Sắc cũng nằm xuống đó nghỉ theo.

Xin nhắc lại khi mua đất nầy thì chưa tạo được cái nhà nào hết, chỉ có cái nhà bò của ông Aspar bán đất để lại (dãy nhà chỗ chợ Từ Bi, gần nhà Ðức Quyền Giáo Tông bây giờ) nhờ đó mà tạm dùng nhà bò nầy để làm trù phòng cho công quả ăn phá rừng, nên khi Ðức Cao Thượng Phẩm thỉnh cốt Phật về tới đây mệt lả thì Bà Chánh Phối Sư Hương Hiếu đã chuẩn bị nấu cháo sẵn rồi. Nữ phái khiêng cháo và nước qua cụm rừng để ăn cho đỡ dạ.

Nền Phật Tổ đã được Ðức Thượng Phẩm an vị giữa hai cụm rừng gần cây ba nhánh.

Lúc bấy giờ, Ðạo phải trải qua nhiều lối chông gai, nhiều đường khổ hạnh, nhưng người chủ trương việc Ðạo nhứt là ông Cao Quỳnh Cư đem hết dạ nhiệt thành, hết bầu tâm huyết mà sắp đặt trật tự bên trong và chống trả với phản động lực bên ngoài (thời Pháp thuộc).

Ðức Cao Thượng Phẩm vâng lịnh Ðức Chí Tôn phá rừng xong, xây cất Tòa Thánh tạm, Hậu Ðiện, Ðông Lang, Tây Lang, Trường Học, Trù Phòng (đều bằng tranh) và đào giếng (mà hiện giờ còn di tích mấy cái giếng gần Tòa Nội Chánh đó).

Thảm thay!  Trời đương thanh,
                    Biển đương lặng,
                    Gió đương êm.

Bỗng đâu đất bằng sóng dậy, nước lã khuấy nên hồ đem đến gieo ác cảm cho Ðức Thượng Phẩm, làm cho Ðức Ngài phải về Thảo Xá Hiền Cung. Ðức Ngài quá buồn, vì vâng lịnh Ðức Chí Tôn về Tây Ninh mở Ðạo, Ngài phải bỏ sở làm chưa hưu trí, con còn đang du học tại Paris (Pháp). Nhớ lại lúc bỏ sở làm thì anh em bạn nói :

- Thầy Tư, sao Thầy quá tin dị đoan; con còn đang học bên Pháp mà Thầy đi như vậy thì việc học của con phải dở dang sao ? Nhưng Ngài nhứt quyết nghe lời Ðức Chí Tôn dạy mà thôi, nên Ngài thu xếp gia đình, bỏ sở làm về Tây Ninh lo Ðạo, chịu biết bao nhiêu cảnh gian nguy vì xưa đến đây đầy những bụi cây, thú dữ phải ăn vác nằm sương mới tạo thành Tòa Thánh tạm và xây cất đủ mọi nơi thành khoảnh thì lại bị thiên hạ đuổi đi !

Ðức Ngài về Thảo Xá, vì buồn rầu, vì xấu hổ với anh em bạn, mặt mũi nào trở về sở làm được nữa, thế nên Ngài thất chí, ước nguyện của Ngài không thành.

Vì khi ra đi Ngài quyết chí đem thân này làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn sai khiến, nhưng cơ đời rất nên cay nghiệt, xảy đến nhiều nỗi tang thương cho gia đình Ngài. Ðức Ngài quá đau khổ có làm một bài thi tự thán như vầy:

     THI

Công trình gầy dựng Thất Tây Ninh,
Bằng địa sóng xao khiến rập rình.
Tà mị phàm rung rinh chất Thánh,
Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh.
Xưa Tòa Thánh dập dìu lai vãng,
Nay Bửu Ðình hiu quạnh lụy nhìn.
Thương Ðạo mến Thầy xin sớm liệu,
Cộng tâm chung trí chớ làm thinh.

 THẤT NƯƠNG

Cho Ðức Thượng Phẩm một bài thi như dưới đây:

Nghĩ giận mà ra bắt nực cười,
Nhờ ai an vị lại an nơi.
Trăm năm chưa giữ bền thân sống,
Một kiếp đã gây lắm tội đời.
Phẩm Phật ngôi Tiên ai dẫn nẻo,
Ngai Thần vị Thánh kẻ toan dời.
Nhắn lời nói với phường đen bạc,
Ðến cửa Thiêng liêng ngó mặt Trời.

Ðức Chí Tôn dạy Phép Tuyệt Thực trị bệnh cho Ðức Cao Thượng Phẩm.

            Năm Mậu Thìn (1928) Ðức Chí Tôn dạy Phép tuyệt thực trị bệnh cho Ðức Cao Thượng Phẩm.

            Phò loan: Hộ Pháp - Thượng Phẩm

                   THẦY

Các con, Hiếu ! Con ra kêu Nhiều.

Cư! Con có hiểu chưa con? Cư con giải bày Thánh ngôn trước phải, nếu con không rét thì có yếu như vậy đâu. Ừ, con rán nhịn cơm chừng ba bốn bữa nữa đặng Thầy dùng Huyền-diệu-pháp mà trị bịnh cho con thiệt mạnh, lần nầy từ đây mới dứt bịnh (1) miễn đừng ăn món chi nó phạt tỳ thôi.

Thầy dạy nối phép tuyệt thực.

Cơ khí của châu thân, nhờ tỳ bổ vật  chất  thực, còn

phổi bổ huyền vi thực, hễ tỳ hưởng nhiều vật chất thực thì còn ít phần cho phổi hưởng huyền vi vật thực, thì phần tinh ba của vật chất mà châu thân hưởng đặng gìn giữ sự sống đều định có phân tách.

Ít cũng không đặng, trong hình vật chất thực có tinh ba đặng bao nhiêu, còn lại bao nhiêu huyền vi vật thực cho đủ số đặng hưởng của châu thân con người có chất Thánh gìn giữ  thường ngày bền vững đặng.

Thầy trước khi ngưng phận sự, thì Thầy dạy phổi phải thọ vật thực hình chất. Thầy lại ngưng không cho nó hao mòn nữa, nên ngày nào tuyệt thực thì ngũ tạng lục phủ giữ nguyên mỡ thịt nó. Hễ buổi tuyệt thực mà xác thân ốm phải chịu ốm, thì như mập cũng tự nhiên mập; ấy là đổi cơ thể hình chất tức là phàm chất ra Thánh chất.”

(Trích Đạo Sử của Bà Hương Hiếu. Q.I năm 1928)

      Ấy là Ðức Cao Thượng Phẩm đau bao tử, Thầy dùng Huyền-diệu-pháp đặng trị bịnh cho Ngài. Mới thấy cái thâm tình của ông Cha Trời để hết lòng mà lo cho những người con chí hiếu. Thầy lại còn dặn dò:

THẦY

Các con, Thơ, con dìu dắt em Cư của con xuống nhà con đặng dưỡng bịnh, tìm chánh y, phục dược cho nó, chẳng đặng rước danh y khác sắc da với các con nghe.

Bịnh nó là tâm bịnh, nhờ các con lai vãng, khuyên lơn nhiều hơn là nhờ phương chước, nhọc cũng rán làm trọn theo nhơn tình cho được trọn niềm Ðạo Hữu với nhau. Thầy phú thác việc ấy cho con phải gắng dạ, Hiệp Thiên Ðài các con phải trải qua một lối buồn nữa, nhưng gắng tưởng Thầy và thương yêu nhau thì qua khỏi lối khó khăn đặng, nên nhớ nghe.!

Trung! Trang! Hồn Ðạo chưa qui tựu, xác Ðạo còn phân vân khá lấy đức tánh mà điều đình việc Ðạo trong lúc nầy. Ngưng sự phổ độ lại mà chờ cho Lễ Nhạc bàn tính sắp đặt cho yên. Thầy cũng phải khổ tâm mà chịu

            Phải chăng đây là lời Thầy đã tiên tri giờ phút qui Thiên của Đức Cao-Thượng-phẩm rằng:“Hiệp Thiên Ðài các con phải trải qua một lối buồn nữa…”

 

Phò loan: Hộ Pháp - Thượng Phẩm

THẦY

Các con, Cười ... Cư! Con có sợ không con, cười.  Phải con có bệnh vậy đặng trừ bớt thử của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đương lo lập vị cho mỗi đứa.

Than ôi! Trong phần đông của các con nếu đặng mảy mún hồng phước như con vậy thì Thầy chưa phải thương tâm đổ lụy, chúng nó có hiểu thấu đâu.

Nhiều đứa đã bị Thái Bạch dĩ sổ bôi tên nơi chốn Thiên-Thơ mà Thầy không phương chi giải cứu cho đặng; phải chi Thầy không sợ mất phép công bình thưởng phạt thiêng liêng dầu cho chúng nó phải chết đi nữa Thầy cũng mừng thầm, song chẳng đặng vậy, con coi cái bịnh con đó, nó ra giá quí báu cho con dường nào.!

Thầy thấy con bịnh phổi và bao tử, nên cho Huyền diệu-pháp cho con khỏi ăn đôi lúc cho thiệt mạnh. Hai cơ khí ấy vốn là hình chất nên khó lấy Huyền-diệu mà trị nó theo lẽ thường. Thầy buộc ngưng phận sự nó đặng tiếp dưỡng huờn nguyên, con hiểu.?

Ðọc lại con Hiếu.

Cư, Tắc ! Hai con muốn Thầy giải phép tiếp dưỡng Huyền-diệu ấy thế nào chăng?

Cười ... giải nghĩa biết chăng?

Không ăn mà sống ... hỏi ? Con ngu lắm há,  nghe!

Trong không khí tuy phàm nhãn không thấy đặng, mà không khí ấy chứa đầy vật chất tiếp dưỡng "Matières Nutritives" của xác trần, vì nhờ nó biến hóa chúng sanh đặng. Thầy nói chúng sanh là nói toàn cả vật loại hữu sanh: nghĩa là vật chất hữu sanh, thảo mộc hữu sanh, vật loại hữu sanh, thú cầm hữu sanh, nhơn kiếp hữu sanh, hiểu à.? Vật chất phải tiêu, mà khí phách vẫn còn, tỷ như đá núi có thể xay tiêu ra bột làm ciment mà khí phách đá cũng còn giữ tánh cứng của nó; trộn nước cho đóng khối lại thì nó trở lại huờn đá như thường mà cái mùi đá cũng giữ mùi đá. Thảo mộc dầu phải chặt rả ra thì khí phách cũng vậy. Con tưởng xác chôn rồi trong xác ấy cho huờn nguyên khí phách mà hiệp lại cùng không khí chăng?

Ðọc con Hiếu.

Không khí "Air respiratoire" chứa đầy khí phách tiếp dưỡng mà nuôi nấng lại chúng sanh, nếu các con thấy đặng thì chẳng khác nào ly nước lạnh mà đổ đường vào trong đó có màu lợn cợn. Sự nuôi nấng chúng sanh thì chẳng chi hơn là nước đường, tuy vân không thấy đường mà uống rõ ràng có ra mùi ngọt.

Ðọc con Hiếu.

“Cái khí con hớp hằng ngày ấy thì như bữa cơm con ăn đó vậy, Thầy chỉ có sửa cơ khí phàm các con, nhứt là bao tử cho nó có Huyền-diệu-pháp mà tiếp cho đặng cái khí phách mà làm vật thực nuôi nấng lấy mình; vì vậy nhiều đứa phàm xác vẫn còn mà đắc Ðạo tại thế, tuyệt cốc xác thân chẳng hại chút nào.

Ðọc con Hiếu.

“Coi rồi kiếm hiểu, nói lại cho Thầy nghe rồi Thầy mới dạy nữa.”

        TÌNH TRẠNG ÐỨC CAO THƯỢNG PHẨM

Ðức Cao Thượng Phẩm từ ngày về Thảo Xá Hiền Cung xem Ngài hình thể hao mòn, sức  yếu  thân  gầy,  sắc

diện âu sầu buồn bã.

Sự nhận thức có lẽ Ngài thọ bịnh thất chí, vì hành Ðạo không được y theo sở nguyện trong nền Ðạo buổi sơ khai lo truyền giáo phổ độ nhơn sanh, mà Ngài lại an ổn tại tư gia, nên Ngài bực tức, vì Ðạo vì Thầy mà bị họ ngăn trở  bước đường hành Ðạo.

Thiết tưởng những người có đủ đức tin nơi Chí Tôn thì dầu có sản nghiệp triệu phú cũng không thể ngồi an hưởng riêng cho được, huống chi Ðức Thượng Phẩm là Môn Ðệ trọn lòng tin tưởng nơi Ðức Chí-Tôn và Ðức Phật-Mẫu ngay từ buổi đầu tiên..

Khi Ðức Chí Tôn giáng trần khai Ðạo, giáng huyền

diệu Cơ Bút thâu Môn Ðệ dạy thờ Thiên-Nhãn trước hết cũng tại nhà của Ngài, nên lòng thành kính Ðạo thật là đầy đủ. Các Ðấng Thiêng liêng giáng cơ dạy Ðạo, thì Ðức Thượng Phẩm cùng Ðức Hộ Pháp phò loan, hai Ngài lãnh hội giáo lý nhiều hơn hết.

Ðức Thượng Phẩm là người cương quyết thi hành trọn Ðạo phế Ðời, thu xếp gia đình nghỉ làm việc Cò Mi, không màng danh lợi, trọn tin theo lời Thánh giáo của Chí Tôn về ở chùa Gò Kén thường xuyên hành Ðạo. Khi dời về Tòa-Thánh thì Ngài cũng trọn tâm lo xây dựng cơ nghiệp Ðạo.

Ðến khi gặp cơn khảo đảo, bị nhơn sanh bạc đãi buộc lòng lui về tư gia, thì dầu đủ nghị lực tinh thần cũng phải buồn lòng thất chí, nên lâm bịnh, lương y khó phương điều trị cho lành mạnh. Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài lo cuộc lễ tiếp rước Ðức Thượng Phẩm về Tòa Thánh và tạo lập Tịnh Thất cho Thượng Phẩm nhập tịnh. Cả Chức Sắc Hội Thánh đồng tâm tuân lịnh Ðức Chí Tôn tức cấp lo tạo Tịnh Thất tại nơi cụm rừng (chỗ Báo Ân Từ hiện nay).

            Ngày 15 tháng 10 năm Mậu-Thìn (1928):

Bảy giờ sáng một đoàn xe hơi Chức Sắc Ðại Thiên Phong Hiệp-Thiên-Đài và Cửu-Trùng-Đài đến Thảo Xá Hiền Cung rước Ðức Thượng Phẩm, thì Ngài cũng vui lòng lên xe về Tòa Thánh nhập Tịnh Thất. Hội Thánh có chọn Chức Sắc phụng sự mọi việc thường thức cho Ngài.

Ðức Thượng Phẩm nhập Tịnh Thất một thời gian, bịnh tình cũng chưa thuyên giảm, hằng ngày kém ăn thiếu ngủ, Thánh Thể xem đã gầy mòn.

            Ngày 26 tháng Chạp năm Mậu-Thìn (1928)

Ngài tỏ với người bạn thân là Bà Giáo Sư Hương Hiếu lo sắp đặt 6 giờ chiều trở về  Thảo-Xá,  Ngài  không cho Chức Sắc hay trước.

6 giờ chiều, Giáo Hữu Thượng Trí Thanh kêu một cổ xe ngựa lót nệm để Ngài nằm, đi theo xe hộ vệ chỉ có người bạn thân của Ngài và Giáo Hữu Thượng Trí Thanh, đưa Ngài về Thảo Xá.

7 giờ rưỡi, tới nơi đỡ vào phòng nghỉ ngơi, xem được khỏe như lúc mới lên xe. Từ đây, ở yên nơi Thảo Xá.

            Ngày 01-03-Kỷ Tỵ (dl: 10-04-1929) Ðức Thượng Phẩm Ðăng Tiên.

ÐỨC THƯỢNG PHẨM ÐĂNG TIÊN

                     Ngày 01 tháng 03 Kỷ Tỵ (1929)

11 giờ trưa, Ðức Thượng Phẩm cho mời Ðức Hộ Pháp cùng ông Bảo Văn Pháp Quân, bà Giáo Sư Hương Hiếu, Giáo Hữu Thượng Trí Thanh, Giáo Hữu Thượng Kỳ Thanh, Lễ Sanh Thượng Nguơn Thanh.

Ðức Thượng Phẩm nhìn Ðức Hộ Pháp trối rằng: “Nay Qua về chầu Ðức Chí Tôn, em ở lại hiệp với Chức Sắc chung lo nền Ðạo của Thầy cho được vẹn toàn mọi sự.

Anh dầu có nhắm mắt thì sự mất cũng như còn.”

Nói rồi tuôn hai hàng nước mắt, kế day qua nói với bạn thân của Ngài căn dặn để trọn tâm lo tròn phận sự; nói dứt lời thì Ngài xuất linh hồn êm ái, gương mặt cũng như người đương ngủ. Có một điều phi thường là lời trối Ngài nói có hàng, có chấm, cũng như lúc mạnh khỏe. Cả Chức Sắc có mặt đều cảm động ngùi ngùi thương tiếc.

Khi Ngài dứt hơi thì đỡ ngồi dậy thúc xác ngồi kiết tường, trước mặt lập bàn hương án chưng bông hoa trà quả. Ðức Hộ Pháp ra kiểu cho thợ mộc đóng Liên Ðài hình Bát Quái; thời Tý 12 giờ đại liệm, rồi thành phục tế lễ theo nghi tiết. Hội Thánh thông tri cho toàn Ðạo các tỉnh đều hay đặng hành lễ cầu nguyện cho Ðức Thượng Phẩm được tiêu diêu nơi miền Tiên cảnh.

Quàn tại Thảo Xá ba ngày, Chức Sắc và Ðạo Hữu nam nữ điếu tế rất đông. Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài cầu Cơ Bút, Ðức Thượng Phẩm giáng Cơ tỏ vẻ vui mừng, được về bái mạng Ðức Chí Tôn cùng Phật Mẫu nơi Bạch Ngọc Kinh và Diêu Trì Cung, đều ban ơn công nghiệp buổi khai Ðạo tròn sứ mạng, Ngài tiếp cho một bài thi tứ tuyệt:

                       THI

CAO  thanh miệng thế mặc chê khen,
THƯỢNG  trí màng chi tiếng thấp hèn.
PHẨM  cũ ngôi xưa dầu rõ giá,
Từ bi tập tánh được thường quen.

Ngài tỏ vẻ vui mừng nay đã thoát khỏi biển trần, về cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống.

            Thợ hồ lo xây Tháp cho Ngài, có gắn cẩm thạch mạ chữ vàng nơi Bửu Tháp Bát Giác; sau lưng có khắc bài kỹ niệm để tỏ dấu cảm hoài và roi truyền hậu thế.

Sau đấy, Ðức Cao Thượng Phẩm có giáng cho hai bài thi khi di Liên Ðài ra Bửu Tháp:

Xủ áo trần hoàn đã rảnh tay,
Thung dung nhờ núp bóng Cao Ðài.
Rừng tòng nhựt rọi khi mờ tỏ,
Sớm lạc trăng lồng kẻ tỉnh say.
Phi thị mặc đời nơi quán tục,
An nhàn rảnh dạ khách Thiên Thai.
Ngậm cười nêu quạt chờ sanh chúng,
Biển khổ ngày qua đếm một ngày
.

                            ***

Ngảnh lại mà đau cảnh đoạn tràng,
Cõi Thiên mừng đặng dứt giây oan.
Nợ trần đã phủi lòng son sắt,
Ngôi vị nay vinh nghĩa đá vàng.
Cỗi tấm chơn thành lòa nhựt nguyệt,
Phơi gan chí sĩ nhuộm giang san.
Bốn mươi hai tuổi sanh chưa phỉ,
Ðể mắt xanh coi nước khải hoàn.

                 ( Cao Thượng Phẩm)

 

Thầy đã nói rõ rằng:

Thượng Phẩm  phải về Thầy trước

Tòa Thánh Tây Ninh, Le 16 Avril 1929
Ngày 7 tháng 3 Kỷ Tỵ (giờ Tý)

THẦY

Các con, Mỹ Ngọc! Kêu mấy anh con, kêu Nữ phái vì chúng nó vái ở dưới tội nghiệp.

Thầy đã nói rõ rằng: Thượng Phẩm phải về Thầy trước các con nhưng mà hại thay ! Vì biếng nhác các con không đọc Thánh ngôn của Thầy mà kiếm hiểu.

Tắc! Con có nhớ Thầy nói với các  con  rằng:  Ðạo

vốn vô vi, nếu Thượng Phẩm không trở lại Thiêng Liêng chi vị, thì ai đem các chơn hồn các con vào cửa Thiên giùm đó con, lại nữa các con vốn là kẻ dẫn đường cho cả chúng sanh thay mặt cho Thầy nơi thế nầy về phần Ðời còn phần Ðạo cũng có đôi đứa con mới đặng cho, cười.... Con đừng phiền mà trách mấy anh con, nhứt là đừng nói rằng: Chúng nó giết Thượng Phẩm nghe, vì Thiên cơ đã định các con biết chi mà hờn trách lẫn nhau.

Thơ! Con phải xây cái Tháp của Thượng Phẩm phía trước cây ba nhánh, phải day mặt về Ðông, giống như ngó vào Ðiện mà hầu Thầy vậy. Song, ba từng phải lợp ngói như nóc chùa của Ðường Nhơn vậy nghe.

Ðừng làm như cái Tháp của Bảo Ðạo, vì hai đứa phẩm vị khác nhau, chung quanh Bát Quái, phải làm như hình có cột tại chính giữa Tháp (1) phải có lỗ cho nhựt quang giọi tới Liên Ðài.

Các con sẽ bị Thái Bạch quở phạt liệu lấy mà sửa mình, phải tùy theo lịnh dạy của nó, đặng nó giảm nộ chút ít nghe.”  Thầy thăng.

 

Lòng Đại Từ Phụ  thương con:

“Cười.... Thầy tưởng khi các con còn cứng lòng hơn nữa chớ... Cười....

Các con chỉ biết rằng có xác thịt trần của các con đó

là hữu hình, biết có mình các con mà thôi, chớ còn Lão già nầy thì chẳng cần chi kể đến há?

 Nầy, Thầy nói cho các con biết rằng: Chẳng giờ phút nào mà mắt Thầy không chăm nom gìn giữ các con, Thầy đợi xem cho rõ coi cách các con lập vị mình dường nào. Thầy lại nghĩ mà cười thầm hoài. Mỗi phen Thầy thử thách các con thì các con rối rắm, Thầy chẳng biết tới chừng nào các con mới  đoạt  đặng  Thánh  đức  của  Thầy

dành để cho các con. Trước mặt chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, Thầy lấy làm hổ thẹn, oan gia là oan gia lắm hử!”…

[Rằm tháng 3 năm Mậu Thìn (4-5-1928)]

  … “Chí Tôn không đến là có ý cho chư Ðạo Hữu điều đình thử coi có làm kham phận sự cùng chăng?

Trước khác, nay thì khác, đã mang Thiên mạng nơi mình phải so quyền liệu sức mà hành chánh, cả chúng sanh đương lao nhao lố nhố trông cậy nơi chư Hiền Hữu, phải làm sao cho xứng phận thì làm.

Thiếp xin khuyên một điều là khi minh thệ Chức Sắc đừng lòng tư vị; những vị chẳng có minh thệ khá tỷ như Chức Sắc Hàm mà thôi, chẳng nên giao Pháp Chánh của Ðạo ấy là cơ thể để trừ tuyệt sự rối loạn của Ðạo. Thiếp xin nên nghe lời Thiếp.” (Quan Âm Như Lai)

Tiểu Sử Ngài Cao Quỳnh Cư:

            Thiết nghĩ khi muốn viết Tiểu sử của các Đấng Tiền khai Đại Đạo như Đức Cao Thượng-Phẩm đây, khả năng chúng tôi không làm sao tỏ hết tấc lòng ái mộ với một Đấng dày công với Đạo, cũng không làm sao diễn hết sự đau thương với những vị Bát Tiên đã xuống thế như các Ngài. Nhưng chán ngán nỗi “Đạo khai Tà khởi” mà cái tà nó dai dẳng, dày dặn như lớp bụi trần ai không bao giờ lau sạch. Nó hiển hiện như những đống rác bên đường trong cái thời mạt pháp này. Điển hình là hình ảnh Đức Cao Thượng P hẩm, những nỗi chán chường của cuộc đời đã đưa Ngài về nhanh nơi cõi tịnh mà chẳng chút lưu luyến cảnh trần ai gió bụi này.

            Thế nên những bài Thuyết đạo của Đức Hộ-Pháp và của Ngài Tiếp pháp mới diễn hết những nét chân dung của Đức Ngài hầu làm ngọn hải đăng soi giữa đêm trường cho người muốn vượt trùng dương mênh mông, mênh mông. Xin hãy nhìn ngọn đèn trời luôn soi tỏ lối đi cho hậu thế: Ðức Hộ-pháp thuyết trong lễ kỷ niệm Ðức Cao Thượng Phẩm, ngày  1- 3-Canh Ngọ (1930)

            Mỗi  một  năm  ngày  Vía  của  Ðức  Cao  Thượng Phẩm, Bần Ðạo lấy làm vui thấy con cái của Chí Tôn Nam Nữ cũng vậy, trọn tâm yêu ái, nhứt là cái mừng của Bần Ðạo hơn hết là ngày Vía của Ngài, cả con cái của Chí Tôn còn gìn giữ và thương yêu ấy như buổi sanh tiền kia vậy.

Sự thật, từ cổ chí kim, Bần Ðạo tưởng không có nền Tôn Giáo nào mà được hưởng một đặc ân thiêng liêng của Ðức Chí Tôn như nền Ðạo Cao Ðài; Bần Ðạo đoán lại những sứ mạng thiêng liêng của Ngài, những đặc sứ sai đến thế nầy đặng thay thế hình ảnh của Ngài hầu chia đau sớt khổ cùng con cái khổ não của Ngài như thế nầy.

Chúng ta có thể nói, các Ðấng Thiêng Liêng đã làm

bạn với các sắc dân, nhứt là Huỳnh tộc của chúng ta tưởng cả thảy con cái Ðức Chí Tôn đều biết danh giá của Bát Tiên là thế nào ? Ngộ nghĩnh thay ! Ðức Chí Tôn làm thế nào mà chư vị Ðại Tiên ấy ra đảm nhiệm sứ mạng Thiêng Liêng đến đặng tạo dựng cái nền Tôn Giáo của Ngài. Ðức Hớn Chung Ly tức nhiên là nguơn linh của Ðức Cao Thượng Phẩm đó vậy. Nên giờ phút nầy Bần Ðạo nhớ đến có mảy may ân hận cơ huyền diệu của Ngài cầm trong tay tạo Ðạo không còn nữa, thành thử không có cây Cơ thứ nhì. Nói thật ra, cái cơ phong Thánh, cơ lập Thánh, cơ Truyền giáo Ngài đã đem theo, nên ngày giờ nầy thảng có cơ phong Thánh thì Ngài cậy mượn Cao Tiếp Ðạo nâng loan có Ngài trợ lực, chớ cây cơ phong Thánh hiển nhiên giờ phút nầy không còn tồn tại, cái tiếc của Bần Ðạo hay chăng là điều đó”.

Tuy hành Đạo ngắn ngủi có 4 năm nhưng công nghiệp Đức Ngài đáng nêu vào Đạo sử, người sau noi dấu:

1- Nhà Đức Ngài là nơi phát tích xây bàn vào đêm 25-12-1925 Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế phán rằng:

 "Nhà này (nhà Ngài) sẽ đầy ơn Ta, giờ ngày gần đến đợi lịnh. Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa".

Lễ Hội Yến đầu tiên, lập đàn  ở tại nhà Đức Ngài.

2- Đức Ngài phế thân hành Đạo trước nhứt và vững niềm tin hơn cả. Chính Đức Hộ Pháp đã thố lộ trong bài thuyết Đạo đêm 17-8-Quí Tỵ như vầy:

"Bần Đạo không có đức tin gì hết, nghe nói Tiên giáng đi theo nghe thi chơi".

Đức Thượng Sanh ít đi hầu đàn vì không tin. Một hôm xây bàn, Ngài Cao Quỳnh Diêu thưa với chơn linh cụ

Cao Hoài Ân (thân sinh Ngài Cao Hoài Sang) rằng: "Anh đề thi mà khuyên dạy nó (ông Diêu là chú ông Sang) và lấy vận voi, mòi, còi, roi, thoi của bài Tứ Thứ qui Tào mà họa lại". Chơn linh cụ Ân cho thi:

                    THI
Thuyền khơi gió ngược khá nương voi,
Vận thới hầu nên đã thấy
mòi.
Vườn cúc hôm nay muôn cụm nở,
Rừng tòng buổi trước một cây
còi.
Hồng nương dặm gió chi sờn cánh,
Ngựa ruỗi đường hòa khá nhọc
roi.
Nín nẵm chờ qua cơn bỉ cực
Thìn lòng chứng có lượn đôi
thoi.

3- Kiểu mẫu áo mão đầu tiên làm tại nhà Đức Ngài do bà Nữ Đầu sư Hương Hiếu (bạn đời của Ngài cắt may).

4- Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung cũng nhập môn theo Đạo tại nhà Ngài vào 11-1-1926.

5- Đức Chí Tôn mượn đôi tay của Ngài chấp nhang

để trục thần của Ngài Phạm Công Tắc ra để chơn linh Hộ Pháp nhập vào đêm 13-5-Bính Dần tại nhà Ngài Lê Văn Trung.

6- Cất Tòa Thánh (tạm) đầu tiên bằng tranh, di cốt Phật Tổ và an vị nơi Đại Đồng Xã.

7- Bàn tay Đức Ngài đã dựng các cơ chế Đạo, Đức Ngài qui là cơ Phong Thánh đã gãy.

"Cái cơ Phong Thánh, cơ lập Thánh, cơ truyền giáo Ngài đã đem theo, nên ngày giờ này, thảng có cơ Phong Thánh thì Ngài cậy mượn Cao Tiếp Đạo nâng loan có Ngài trợ lực, chớ cây cơ Phong Thánh hiển nhiên giờ phút này không còn. Cái tiếc của Bần Đạo có hay chăng là ở điều đó". (Đức  Hộ Pháp ngày 1-3-Canh Ngọ, 1930).

            Đức Hộ Pháp đọc trong buổi chung qui của Đức Cao Thựong Phẩm đã nói lên lòng thương tiếc ấy:

                    THI
Thượng Phẩm ôi, hỡi anh ôi!
Chưa xong trách nhiệm vội về Trời
Bốn năm công quả vun nền Đạo
Mấy đoạn chông gai chịu nước đời
Ngọn bút Thần cơ Trời nỡ đoạn                                                                            
Nắm xương Thánh chất lấp chôn vùi
Mực hòa huyết lệ đề câu điếu,
Thượng Phẩm ôi, hỡi anh ôi!.

8- Trong Bát Tiên, có một vị cầm Long Tu Phiến (quạt) đó là Hớn Chung Ly nguơn linh của Đức Cao Thượng Phẩm. Đức Hộ Pháp giải thích:

            "Nguyên căn của Hớn Võ Đế là Hớn Chung Ly giáng sanh thành lập quốc gia. Kỳ Hạ nguơn này, Đức Cao Thượng Phẩm cũng là chơn linh của Hớn Chung Ly tái thế lập thành Quốc Đạo nên tạc hình Đức Cao Thượng Phẩm thuận hơn".

Đến năm 1945 Đức Ngài có giáng cho một bài thơ :

Đường mây sẵn lối gặp may duyên,
Nặng gánh xa thơ sửa mối giềng
Anh tuấn đất gìn nung khí phách,
Uy linh trời giữ tạc đài liên.
Hồn về nước cũ đời nương thế
Hạc lại tùng xưa đức lập quyền.
Đảnh Việt chờ qua cơn bão tố
Muôn năm tỏ rạng mối chơn truyền.

>>>o0o<<<

 

 

18- Ông  PHẠM CÔNG TẮC
(1890-1959)

Thánh danh Hộ Pháp Phạm Công Tắc

 

 

 

LỄ KỶ NIỆM ÐĂNG TIÊN
CỦA ÐỨC HỘ PHÁP

Đức Thượng Sanh tuyên đọc Diễn-văn ngày 10 tháng 4 Bính-Ngọ (dl: 29-5-1966)

          Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện.
          Kính Trung Tá Tỉnh Trưởng Tây Ninh và Quý Quan Khách, Chư Chức Việc và Ðạo Hữu Lưỡng Phái,

Hôm nay là ngày Lễ kỹ niệm đăng Tiên của Ðức Hộ

Pháp Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ Tòa-Thánh Tây-Ninh. Trước hết tôi để lời cám ơn toàn thể Chức sắc, Chức việc và Ðạo Hữu lưỡng phái đã sẵn lòng đến dự đông đảo làm cho cuộc lễ tăng thêm phần long trọng.

Ðây là một dịp để Hội Thánh nhắc lại công nghiệp


vĩ đại của Ðức Ngài trong nền Ðại-Ðạo và cũng là một dịp để cho các cơ quan Ðạo tỏ lời cảm tưởng đối với một Đấng vĩ nhân đã phí một kiếp sanh, đã dạy dỗ và dìu dắt con em trong Ðạo trên bước đường giải khổ.

Tiểu sử của Ðức Hộ Pháp và sự hy sinh cao cả của Ðức Ngài trong lúc bình thường cũng như trong hồi tai biến của nền Ðạo, chúng tôi đã có dịp nói qua nhiều lần và toàn thể Chức sắc, Ðạo hữu đều rõ biết.

Những lời cảm khái của Chức sắc trong các cơ quan Ðạo vừa mới bày tỏ, chứa đầy sự thương tiếc, bộc lộ xiết bao nỗi tri ân nồng hậu đối với một Ðấng vĩ nhân mà cuộc đời phải trải qua biết bao sóng gió nguy nan, đòi phen thất thổ ly hương, lắm lúc ôm sầu nuốt hận cũng vì chủ nghĩa thương đời. Sự thương tiếc và sự tri  ân  đó  thật

chánh đáng.

Những ai đã từng mang vào mình bộ Thiên phục, đã từng được dự vào hàng Chức sắc Thiên phong, được nói ra những lời đạo-đức thuần túy, ra đối với mặt Ðời được người người kính nễ,  thì cũng đều nhìn  nhận  là  đã

nhờ nơi tay của Ðức Hộ Pháp đỡ nâng lập vị.

- Không có Ðức Hộ Pháp thì không có Ðạo CAO ÐÀI ra đời.

- Không có Ðức Hộ Pháp thì nơi đây vẫn còn là những đám rừng rậm sầm uất.

Ðành rằng tìm ra mối Ðạo là do nơi ba vị Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh. Nhưng nếu không có Ðức Hộ Pháp là người có sứ mạng đặc biệt về mặt Bí pháp và có sẵn kiên tâm trì chí thì ÐẠO CAO ÐÀI cũng không thể lập thành.

Ðấng Chí Tôn đã cho ra đời nhà thông minh xuất chúng đó hầu sáng tạo cho đất nước Việt-Nam một nền Chánh giáo để nâng cao tinh thần của giòng giống Lạc Hồng ngang hàng với các nước trên mặt địa cầu về phương diện tín ngưỡng.

Ðiều đáng chú ý là Ðức Hộ-Pháp được Ðấng Chí Tôn ban cho một ân huệ đặc biệt chưa từng có trong các lịch sử Ðạo Giáo trên toàn cầu. Vì từ xưa những bậc vĩ nhân tạo nên sự nghiệp đồ sộ về tinh thần, nhưng sự nghiệp đó chỉ lưu lại cho đời sau thừa hưởng mà thôi. Ðức Hộ Pháp lại may mắn hơn. Ðức Ngài đã thành công mỹ mãn và dân tộc Việt Nam được hưởng liền sự nghiệp của Ðức Ngài trong khi Ðức Ngài còn tại thế.

Chí hướng làm nên của Ðức Ngài, công phu xây dựng của Ðức Ngài, toàn thể Chức sắc và Ðạo hữu ghi nhớ ơn là một điều quí nhất.

Nhưng chẳng phải tỏ sự biết ơn bằng lời nói  suông

là đủ, phải biết quí mến, giữ gìn sự nghiệp của Ðức Ngài để lại, phải góp công bồi bổ xây dựng thêm cho nó được càng ngày càng thêm vẻ vang tốt đẹp hơn. Phải thận trọng trong cử chỉ cũng như trong việc làm và tự mình coi Ðức Ngài như còn tại thế vậy. Vì tuy Ðức Ngài về Thiêng Liêng vị, nhưng vẫn dùng Huyền diệu Cơ bút đến hội hiệp với chúng ta, khi thì để lời giáo hóa, khi thì an ủi vỗ về và lẽ tất nhiên là Ðức Ngài hằng dòm ngó đến sự nghiệp của Ðức Ngài lưu lại nơi vùng Thánh địa, nơi mà Ðức ngài đã chan rưới biết bao nhiêu giọt mồ hôi, chịu biết bao nhiêu khổ tâm mới tạo thành được như ngày nay.

Chúng ta chẳng những phải giữ gìn và tô điểm thêm sự nghiệp hữu hình của Ðức Ngài, chúng ta còn phải quý trọng cái danh giá của Ðạo, vì Ðức Ngài khi sanh tiền đã phải trải bước từ ÂU sang Á, đem hết tâm trí đặng làm cho danh giá ÐẠO CAO ÐÀI được nêu cao tột bực. Trong các nước văn minh tiên tiến, nơi nào Ðức Ngài có để chân đến thì những bậc thượng lưu trí thức sau khi nghe Ngài thuyết pháp đều để lòng sùng bái Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ Ðộ, nhiều người đã xin nhập môn, xin Ðức Ngài đến nhà khai Đàn thượng Tượng và tôn trọng Ðức Ngài như một Ðấng Cứu Thế.

Ngày nay mặc dầu Ðức Ngài đã khuất bóng nhưng cái danh giá của Ðạo Cao Ðài vẫn còn được nguyên vẹn y như lúc Ðức Ngài còn tại thế.

Chúng ta phải chung sức nhau mười như một, một như mười để bảo tồn cái danh giá quí báu đó và làm thế nào cho nó được càng ngày càng thêm cao vọi, thì chúng ta mới thật là trung thành và thật biết ơn Ðức Ngài vậy.

Nếu vì một lẽ nào, vì một tham vọng hoặc vì tranh giành quyền lợi, người Chức sắc hay Tín hữu có manh tâm làm cho nền Ðạo phải mang tai tiếng, danh giá Ðạo bị tổn thương thì chính đó là hành động cố ý xô ngã công phu gầy dựng của Ðức Ngài. Cái tội đó Ðức Ngài và các Ðấng Thiêng Liêng không thể dung thứ được.

Biết tôn thờ Ðức Ngài, biết ghi nhớ ơn của Ðức Ngài, chúng ta phải noi theo gương  sáng  của  Ðức  Ngài,

cái gương nhẫn nại và vị tha, luôn luôn quên mình, sẵn sàng hy sinh để bảo thủ chơn truyền và giữ trọn hiếu trung đối với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ.

Ngoài ra, chúng ta phải biết thương nhau, giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau, đừng vì một lẽ nào mà chia rẽ ganh ghét nhau. Hầu làm cho vui lòng Ðức Ngài là một bậc tiền bối đã phí một kiếp sanh cho đến hơi thở cuối cùng để thực hành chủ nghĩa Từ- bi  Bác- ái  và  để  phụng  sự  cho

nhân sanh và cho Ðạo.

Ðược vậy thì cuộc Lễ long trọng hôm nay mới có ý nghĩa thực tế.  Mong Thay! Kính Thay!

     (CAO THƯỢNG SANH)

*Phần đời: Thư ký Sở Thương Chánh
*
Phần đạo: Hộ Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài

I- PHẦN ĐỜI:  1- Thuở thiếu thời             

Vào tiết Đoan Ngọ [5-5-Canh Dần (dl: 21-06-1890)] bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, thuộc làng Bình-lập, tại Tỉnh  Tân-an (nay là Long-an), một chơn linh giáng lâm trong gia đình ông Phạm Công Thiện, một công chức. Đó là Phạm Công Tắc..

Ông Phạm Công Thiện kết hôn với bà La Thị Đường, sanh được 8 người con mà Ngài Phạm Công Tắc là người con thứ tám. Song thân Ngài trước ở làng An Hòa, quận Trảng Bàng, Tỉnh Tây Ninh. Vì là công chức, ông Phạm Công Thiện về sau được đổi đến Long An. Thuở thiếu thời Ngài Phạm Công Tắc là một thiếu niên khỏe mạnh, tư chất thông minh đĩnh ngộ. Có điều lạ, thỉnh thoảng Ngài ngủ thiếp đi như người chết,

Phong trào Đông Du (1904-1907) do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Minh chủ và hai nhà cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi xướng để nâng cao dân trí, bằng cách gởi các thanh niên du học ngoại quốc nhất là Nhật Bản. Tại Sài Gòn phong trào Đông Du do hai ông Gilbert Chiếu (tức Trần Chánh Chiếu) và Dương Khắc Ninh lãnh đạo. Các ông thành lập các kinh thương hội như "Minh Tân công nghệ" và khách sạn "Nam Trung" làm nơi lưu trú hội họp cho đảng viên. Ngài Phạm Công Tắc dù đang theo học năm thứ hai trường Chasseloup-Laubat cũng lén bỏ học đến họp với anh em.

Hai ông Gilbert Chiếu và Dương Khắc Ninh tập hợp các đảng viên chia nhiều nhóm để xuất dương. Ba nhóm đã sang tới Nhật, Ngài được ghi tên vào nhóm thứ tư. Lòng Ngài như mở hội.. nhưng thời cuộc, buộc lòng Ngài phải nghỉ học về làng An Hòa (Tây Ninh) tạm tránh sự dòm ngó của mật thám Pháp. Khi tình hình êm dịu, Ngài lại lăn mình vào trường tranh đấu. Lần này Ngài hoạt động cẩn thận hơn, rồi tham gia viết báo như: Công luận, La Cloche fêlée (Chuông rè) của Nguyễn An Ninh, La voielibre … Tiếng nói tự do), Nông cổ Mín-đàm, Lục Tỉnh Tân văn (Tờ Lục Tỉnh Tân văn của ông Pierre Jeantet, ông Gilbert Chiếu làm chủ bút). Ngài cộng tác thường xuyên với tờ này vì là đồng chí. Hơn nữa, ông Chiếu ngấm ngầm làm cơ quan tuyên truyền chống Pháp và kích động lòng yêu nước của nhân dân rất đắc lực. Các bài "Thượng bất chánh, hạ tắc loạn" (đăng ngày 12-12-1907), bài "Dân tộc đoàn kết và thời đàm" (đăng ngày 23-1-1908) là những lời thẳng thắng cảnh cáo nhà cầm quyền Pháp. Khi ông Chiếu bị bắt, tờ báo đình bản, Ngài lại về quê.

Vì ảnh hưởng cách mạng và các Tiên Vương, về sau, Ngài lập Báo Quốc Từ, bôn ba sang Nhật rước tro Cường Để, về Sài Gòn rước linh vị Thành Thái và Duy Tân đem thờ nơi Báo Quốc Từ (gần chợ Long Hoa). Ngoài

ra cơ quan thông tin Cao Đài sưu tầm và phổ biến các hình

ảnh Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học ..

2- Thời trưởng thành:

Năm 1910, vì hoàn cảnh thanh bạch, Ngài vào làm thơ ký Sở Thương chánh (Sài Gòn). Năm sau lên hai mươi mốt tuổi, Ngài vâng lệnh mẫu thân thành lập gia đình với bà Nguyễn Thị Nhiều, hạ sanh được ba người con, hiện còn hai cô Phạm Hồ Cầm và Phạm Tần Tranh. Bà Hương Nhiều (tức Nguyễn Thị Nhiều) đắc vị Chánh Phối sư, chưởng quản Nữ phái Phước Thiện và cô Hương Tranh thọ phong Giáo sư (chức sắc trong Cao Đài giáo)

            Đời sống công chức không làm cho Ngài thích thú, còn nếp sống gia đình đều đều buồn chán không trói buộc được Ngài. Ngài đem ra mê lý tưởng hướng Đạo, "làm những việc thiện hằng ngày để giúp đỡ những kẻ cô đơn xung quanh. Đang làm công chức Sở Thương Chánh, đồng tiền chẳng được dồi dào chi lắm, vậy mà Ngài dám vay nợ đặng giải phóng một đoàn nhi nữ ra khỏi chốn thanh lâu, (Theo tiểu sử Hộ Pháp Phạm-Công-Tắc ấn hành 1954).

            Người Pháp thấy Ngài có hành động khác thường, họ liệt Ngài vào hàng có tâm huyết nên họ tìm cách đổi Ngài đi Cái Nhum (Hậu Giang) sau đó đổi ra Qui Nhơn (Trung phần), sau cùng lại đổi về Sài Gòn, để rồi những ngày sẽ tới, Ngài hiến trọn cuộc đời cho Đạo Pháp.

3- Ngộ Đạo:

Vào năm Ất-Sửu (1925) để tìm hiểu huyền vi và bí mật Thiêng liêng, Đức Ngài cùng quý ông Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Diêu họp  nhau "XÂY BÀN". Trong các chơn linh giáng xuống cho thi phú, có một vị không chịu xưng tên mà chỉ cho ba chữ AĂÂ,

II- PHẦN ĐẠO-

1- Thọ Thiên Phong: Mãi đến đêm 24-12-1925,

Ông AĂÂ mới cho biết chính Ngài  là  Đấng  Thượng  Đế đến lập Đạo tại Nam Phương để giải thoát chúng sanh, tá danh là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.

Vào ngày 14-3-Bính Dần (dl: 25-4-1926) tại nhà Ngài Đầu sư Thượng Trung Nhựt, Ngài thọ Thiên ân Hộ Pháp, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, đắc vị Thiên phong trước hết. Đức Ngài là người nắm cơ mầu nhiệm của Đạo, nắm luật của đời, xét xử chư Chức sắc Thiên phong và Tín đồ, giữ dạ vô tư, tạo lập bí pháp đưa các đẳng chơn hồn vào Bát Quái Đài để hiệp cùng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

2- Hành Đạo Kim Biên (Kampuchia):           

Khai Đạo ngày 14-10-Bính Dần tại Thánh Thất Từ Lâm, xảy ra việc tà quái ngoài ý muốn, nhưng người theo Đạo mỗi ngày một đông, người Pháp dòm ngó, hăm he các Chức Sắc và lập hồ sơ đen các người theo Đạo, Ngài nói:

"Riêng phần Bần Đạo là công chức, khi vâng lịnh Đức Chí Tôn đến chùa Gò Kén mở Đạo, Bần Đạo có xin phép nghỉ 6 tháng đến chừng trở lại làm việc, người ta đổi Bần Đạo lên Kim Biên. Nơi đó Bần Đạo vừa làm việc vừa lo mở Đạo. Riêng phần mấy anh lớn trong hàng phủ, huyện bị người ta dọa nạt đủ điều. Cả toàn con cái Đức Chí Tôn buổi nọ, còn lại có ba người. Ba người ấy là Đức Quyền Giáo Tông, Đức Cao Thượng Phẩm và Bần Đạo. Chúng tôi nhứt tâm nhứt trí quyết làm cho Đạo thành, cho vừa lòng Đức Chí Tôn" (ngày 13-10- Giáp Ngọ- 1954).

Nhờ làm việc tại Kampuchia mà Đức Ngài độ được Ngài Tiếp Đạo Cao-Đức-Trọng, bấy giờ làm việc Phòng Chưởng Khế. Tại đây (1927)  và anh em vua Cao Miên là Sisowark qua trung gian Tổng Trưởng Sơn Điệp. Trong Hoàng Cung hiện nay vẫn còn thờ Thiên Nhãn.

          3- Xây dựng Tòa Thánh

Công nghiệp lớn lao của Đức Ngài là xây dựng Tòa

Thánh. Đặt viên gạch đầu tiên năm 1933, qua năm 1936 mới khởi công xây cất và đến năm 1941 công cuộc kiến trúc bên ngoài vừa hoàn thành. Nhưng chưa kịp trang hoàng thì Đức Ngài bị lưu đày. Năm 1946, Đức Ngài trở về nước tiếp tục sửa sang. Năm 1954 thì hoàn tất và lễ Khánh thành được tổ chức vào đầu tháng giêng năm Ất Mùi (1955). Đây là một công trình kiến trúc tân kỳ vĩ đại, khiến cho người ngoại quốc thầm kính phục một khối óc vĩ nhân vượt hạn.

4- Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài:         

Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt đăng tiên (dl:19-11-1934), vào ngày lễ Đại Tường (dl: 8-11-1935), một Đại Hội Đồng gồm Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh đồng bầu cử Đức Ngài cầm quyền thống nhất Chính Trị Đạo cho đến ngày có Đầu sư Chánh Vị.

            Từ đó Đức Ngài Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài: Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài hết lòng xây dựng nghiệp Đạo và đem phương sách hay cho nhơn sanh.

5- Thời Pháp nạn:

          Ngày 23-7-Canh Thìn (1940), lính mật thám Pháp vào châu vi Thánh Địa xét giấy tờ, đóng cửa Báo Ân Từ.

         Ngày 25-5-Tân Tỵ (1941), Chánh phủ Pháp ra lịnh cấm công nhân tạo tác Tòa Thánh. Ngày 4-6 năm đó, vào 8 giờ sáng, mật thám bắt Đức Ngài. Ba ngày sau họ vào Tòa Thánh đuổi hết mọi người về nguyên quán. Chúng xung công tất cả Văn Phòng và chiếm đóng trọn chu vi. Chúng đày Đức Ngài sang Mã Đảo (Madagascar) trên chiếc tàu Compiège vào ngày 27-7-1941 cùng năm vị Chức Sắc. Trong chuyến tàu này, ngoài Đức Ngài còn có các nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Thế Sang

      … Khi đến Mã Đảo, Ngài và chư Chức Sắc bị giam đến ngày 24-11-1944, mới được ra ngoài làm lụng.

        Năm 1945, phe  Đồng  minh  thắng,  De  Gaulle  giải phóng nước Pháp, Đức Ngài được đưa về Việt Nam ngày 1-10-1946, tính lại thời kỳ đồ lưu hải ngoại là 5 năm, 2 tháng, 3 ngày.

6- Việc thành lập Quân Đội Cao Đài: 

Khi Đức Ngài trở về Tòa Thánh thì Quân Đội Cao Đài đã lập từ năm 1945 với danh Nội Ứng Nghĩa Binh. Vì hoàn cảnh đất nước và đạo sự lúc bấy giờ, Đức Ngài phải để quân đội thành hình và xuất quân: 8-1-Âm-lịch (1947):

          Ngài nói: "Quân đội các con thành lập đặng do toàn thể trụ cả năng lực trên nền tảng Nghĩa Nhân, đạo đức. Ngọn cờ Cứu khổ của các con xuất hiện nơi nào thì nhân sanh nơi ấy đều phải đặng các con bảo vệ, cứu khổ phò nguy mà làm rạng danh anh tuấn của non sông chủng tộc"

(Huấn dụ của Đức Hộ Pháp - xuân Giáp Ngọ 1954).      Bản tuyên ngôn tại Phnom-Pênh, ngày 30-4-1956 Đức Ngài viết:

"Khi Đức Bảo Đạo về nước, chính Bần Đạo đã giao trọn quyền sử dụng Quân Đội Cao Đài cho Đức Ngài điều khiển trong hàng ngũ Quân lực Quốc gia. Khi Đức Ngài đi Pháp mới tạm giao quân lực ấy lại cho Bần Đạo. Trong lúc vắng mặt, Đức Ngài đã ra lịnh cho hai Chính Phủ Nguyễn Văn Tâm và Bửu Lộc thi hành hợp pháp quốc gia hóa Quân Đội Cao Đài. Nhưng sự thi hành ấy kéo dài cho tới ngày Chánh Phủ Ngô Đình Diệm thọ phong toàn quyền cũng chưa quyết định. Bần Đạo buộc phải nhắc nhở và cầu cho Chánh Phủ Ngô Đình Diệm quốc gia hóa Quân Đội Cao Đài một cách hợp pháp. Bần Đạo không buổi nào muốn giải quyết vận mạng nước nhà với quân lực, mà chỉ dùng phương pháp đạo đức đặng đem hòa bình hạnh phúc lại cho giống nòi mà thôi".

7- Chấn chỉnh các cơ quan Đạo:           

Đức Ngài lo chấn chỉnh nội bộ từ Cửu  Trùng  Đài, có đủ ba sắc phái (Đạo Nghị Định số 5), hiến thân hành Đạo, cơ quan Phước Thiện thành Hội Thánh Phước Thiện có Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng liêng. Với toàn Đạo thì Đức Ngài cho phá rừng lập chợ Long Hoa, một hình thức kiến trúc theo Bát Quái, phố xá rộng rãi, đường thênh thang, dự trù cho hàng trăm năm sau. Công việc đang tiến hành thì một biến động xảy đến cho Đức Ngài, niềm đau chung cho toàn Đạo.

8- Trên đất khách:         

"Vào đầu tháng 8 năm Ất Mùi (1955), vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội Cao Đài, khi được Quốc gia hóa, ra lệnh thành lập Ban Thanh Trừng, bắt nhiều đạo hữu giam cầm. Một số thiếu nữ trong Đạo cũng bị câu lưu mấy tháng và bị ép buộc phải khai nhiều điều khiếm nhã cho Đức Ngài.

"Còn chính Đức Ngài cũng bị cầm lỏng tại Hộ Pháp Đường chung quanh có quân đội võ trang canh phòng, từ 20-8-Ất-Mùi (1955) đến 5 tháng 1 Bính Thân (1956). Vì quá đau buồn cho cảnh đồng đạo tương tàn, Đức Hộ Pháp buộc lòng cùng nhiều Chức Sắc tùy tùng rời khỏi Thánh Địa lúc 3 giờ khuya ngày ấy nhắm thủ đô Miên quốc trực chỉ".(Thượng Sanh,Đại Đạo nguyệt san số 5/64)

Việc ra đi được Đức Ngài tuyên ngôn như sau:

"Bần đạo buộc mình phải xuất ngoại đặng bảo thủ tự do cá nhân của Bần Đạo, hầu đem ra một giải pháp mới mẻ có thống nhứt hoàng đồ và chủng tộc là phương pháp Hòa Bình và Chung Sống".

 

9- Trở về ngôi xưa cảnh cũ:         

Dù sống trên đất Chùa Pháp an toàn, nhưng lúc nào Đức Ngài cũng hướng về quê hương. Mặt khác Đức Chí Tôn có lẽ định đem Đức Ngài giúp ích cho Đạo nhiều hơn.

Thế nên, ngọa bịnh không bao lâu, Đức Ngài cỗi xác trần nhằm 10-4-Kỷ Hợi (dl: 17-5-1959), thọ 70 tuổi.

Lấy tánh đức Hộ Pháp mà lập Đạo:

Thánh Ngôn thuở khai Đạo, Đấng CHÍ TÔN có lần hỏi Đức Hộ Pháp: "Tắc! Thầy lấy tánh đức con mà lập Đạo,  được chăng ?".

Xem vậy, tính đức của Đức Ngài thật quan trọng tác dụng trong nền Tân Tôn Giáo này.

Đức Ngài giáng trần có hai tính đức: Một là nhân tính, hai là Thánh tính."

- Nhân tính là tính làm người ở thế gian mang thi phàm.

    - Thánh tính là tính thiên định, chơn linh khi lâm phàm. Nhân tính của Đức Ngài phảng phất nhiều hương vị hiền triết của Thánh Gandhi, Socrate, Ki Tô, Khổng Tử, Nostra Damus …Bởi Đức Ngài đã nghiên cứu về đời sống của các bậc siêu nhiên vũ trụ này.

- Hy sinh thân thế và chịu đựng tù đày mưu tìm hạnh phúc nhân sanh: đức tính của Đức Ngài phảng phất tư chất của Thánh Gandhi (1869-1946). Thánh ra đời thì nước Ấn-độ dưới sự đô hộ của người Anh. Ngài theo học trường Anh đỗ Tiến sĩ Luật khoa nhưng chống lại sự áp bức của người Anh. Đến thế chiến thứ I (1914-1918) trước lời hứa hẹn của chính phủ Anh, Gandhi hô hào đồng bào đầu quân giúp chính quốc. Khi chiến tranh kết liễu, Anh quên lời hứa. Gandhi đứng ra lãnh đạo phong trào quốc gia Ấn, đề ra chính sách bất bạo động, bất hợp tác, năm 1919, Anh ban bố hiến chương Ấn-Độ (India Act), dân Ấn bất mãn theo Gandhi chống Anh. Gandhi bị hạ nhục từ tháng 3-1922 tới tháng 2-1924. Cuối cùng Gandhi bị bọn quá khích ám sát chết và đất nước vẫn còn chia Ấn - Hồi.

Đức HỘ PHÁP cũng hạ sanh lúc thời Pháp thuộc và chống Pháp. Đến thế chiến thứ hai (1939-1945) theo lời hứa của chánh phủ Pháp, Đức Ngài kêu gọi toàn Đạo đầu quân giúp Pháp và cũng bị Pháp cầm tù ở Mã Đảo (1941-1946) trên năm năm.

Gandhi nói: "Tất cả những nhà Tôn giáo mà tôi gặp đều là những chính trị gia trá hình. Tuy nhiên, tôi là người mang lớp áo chính trị, nhưng là một nhà Tôn giáo".

Nhờ lòng tin vào tôn giáo ông hoạt động chính trị.

- Đức HỘ PHÁP hành động tích cực, quả quyết. Đề xướng một việc nhất định phải đi đến kết quả tốt và nhất định vận dụng mọi kế hoạch để thực hiện cho kỳ được, tìm

việc chứ không đợi việc.

- Một tôn giáo có hai chánh pháp: thể pháp và bí pháp. Thể pháp là hình thể bề ngoài, còn Bí pháp là huyền nhiệm thiêng liêng bên trong. Thiếu một trong hai phép đó thì không là Tôn giáo. Vào năm 1948, Đức Ngài đã giảng về Bí pháp của Đạo, được các ký tốc viên ghi chép và in thành tập.  

Ngoài ra Pháp Chánh Truyền, cũng do nơi cặp cơ Hộ Pháp và Thượng Phẩm viết ra, Ngài được lịnh Ơn Trên chú giải. Bí pháp Đại Đạo.

- Chịu nỗi thống khổ và oan nghiệt như Đức Ki Tô bị quỉ Satan khai chiến ba lần:

. Lần nhất Satan vấn nạn: "Nếu ông là con Thiên Chúa hãy truyền những hòn đá này trở thành bánh đi". Ngài đáp rằng: "Người ta không sống bằng bánh, nhưng bằng mọi lời, bởi miệng Thiên Chúa phán ra".

. Satan mở chiến dịch thứ hai: "Nếu ông là con Thiên Chúa hãy gieo mình xuống". Chúa Ki-Tô đáp:  

"Ngươi  chớ thử Chúa là Thiên Chúa ngươi",

. Lần thứ ba nó đem Ngài lên một núi rất cao, cho xem tất cả các nước trên thế gian với những vinh quang trần thế và bảo Ngài rằng: "tất cả những vinh quang phú quí đó ta sẽ cho Ông, nếu ông quỳ xuống lạy ta". Đức Jésus đáp:"Hỡi Satan hãy cút đi vì có lời chép rằng: ngươi sẽ thờ phượng chính Chúa là Thiên Chúa của ngươi".

Kết quả là ác quỉ bỏ Ngài và Thiên Thần hiện ra hầu hạ Ngài. Đức Ki Tô chỉ chịu đựng và truyền Đạo trong ba năm, còn Đức HỘ PHÁP phải chịu 35 năm

 Đức Hộ-Pháp nói: "Khi vâng lệnh Đức CHÍ TÔN đến Gò Kén mở Đạo, Bần Đạo có xin phép nghỉ sáu tháng (vì công chức). Đến chừng trở lại làm việc, người ta không cho Bần Đạo ở Nam Việt nữa, đổi Bần Đạo lên Kim Biên. Nơi đó, Bần Đạo vừa làm việc, vừa mở Đạo mục đích làm thế nào cho Đạo chóng thành tựu.

"Từ khi lập Đạo chịu khổ hạnh truân chuyên, chịu nhục nhã, chịu mọi điều thống khổ".

- Điều này quá hẳn nhiên,"ngày nay Thầy đã khai Đạo nơi Đông Dương là cực đông của Á Châu, mà lại khai nơi xứ Nam Kỳ là xứ thuộc địa, dân tộc yếu hèn, ngu xuẩn. Ấy là do nơi thiên cơ tiền định cả muôn năm, lại để thưởng cái lòng tín ngưỡng của người Nam từ thử ".

Đức Hộ Pháp còn coi các thợ hồ là con của Thượng Đế. Trong một lời phê năm Tân Sửu, Đức Ngài viết:          

"Qua đã biết trước thế nào trong mấy em cũng có đứa ngồi ngục. Gấm bị trước vì Phối Thánh Thoại muốn cho nó trả quả đối với Thánh lúc ở phàm. Đáng kiếp, Gấm đã đụng đầu xe lửa, cũng như mẹ con Út Giáp đụng đầu xe lửa Màng (cũng Phối Thánh) buổi trước vậy. Mấy em ráng cẩn thận coi chừng đừng ăn hiếp mấy ông Thánh ẩn thân bất ngờ, phải ngồi cửa Phong Đô mà khóc đa nghe".

      - Ngoài cái khẩu khí của một chơn linh lâm phàm, Ngài còn am tường thủ thuật nói trước công chúng và  phương pháp của Socrate" là đặt câu hỏi làm thế nào cho khách bàng quang chỉ có thể đáp “có” mà thôi. Chính vì vậy, đến ngày nay, chưa thấy ai phản đối hành động của Đức Ngài.        

            - Đức Hộ Pháp tỏ cho ta thấy rõ đức tính công bình, chính trực; hai đức tính này ảnh hưởng nơi Nho giáo, cách hành xử đối với các tông đồ của Đức Khổng Phu Tử.  

            Thế mà, Ngài vẫn băn khoăn trước lúc lìa trần:

Trót đã ba năm ở xứ người

Đem thân đổi lấy phút vui tuơi

Ngờ đâu vạn sự do thiên định.

Tuổi đã bảy mươi cũng đủ rồi,

Nhớ tiếc sức phàm thừa chống chỏi,

Buồn nhìn cội đạo luống chơi vơi,

Rồi đây ai  đến cầm chơn pháp,

Tô điểm non sông Đạo lẫn Đời”

>>>o0o<<<

 

 

 

- 19 –  Ông CAO HOÀI SANG (1900 - 1971)

Thánh danh Thượng Sanh Cao-Hoài-Sang

 

 

             Ðêm 30 tháng chạp Ất Sửu (dl. 12-02-1926)

Thi cho Thanh Thủy (Cao Hoài Sang)

Bước đời chìm nổi bấy nhiêu niên,
Tâm chí ghe phen dập lửa phiền.
Ấm lạnh dốc tròn gương phấn đại,
Vui buồn chưa vẹn nỗi hàn huyên.
Lòng trần nung nấu trăm mùi khổ,
Biển ái đầy vơi một chiếc thuyền.
Nín nẵm chờ ngày tiền quả sạch,
Trau giồi đạo hạnh hưởng ân Thiên.

(Diêu Trì Nương Nương –dl: 3-7-1927)

*Phần đời: Tham tá Thương Chánh.Thơ-ký Sở Hoả-xa SàiGòn

*Phần đạo: Thượng Sanh Chưởng Quản Chi Thế

 

1- PHẦN ĐỜI:

Đức Thượng Sanh thế danh là Cao Hoài Sang, sinh ngày 11-9-1901 tại xã Thái Bình, tỉnh Tây Ninh.Thân sinh là cụ Cao Hoài Ân, Thẩm Phán đầu tiên tại Miền Nam và thân mẫu là Bà Hồ Hương Lự (Nữ Đầu Sư Hàm-phong). Đức Ngài là con út trong gia đình có ba anh em. Anh cả là Ngài Cao Đức Trọng (Tiếp Đạo HTĐ) và chị là Giáo Sư Cao-Hương Cường Giám đốc Cô nhi-viện Tây Ninh.

Sau khi thi đỗ bằng Thành chung, Đức Ngài vào làm việc tại Sở Thương Chánh (tức Quan thuế Sài gòn) cho đến chức Tham Tá Thương Chánh rồi hồi hưu.

          Trong thời gian làm công chức, Ngài còn là một Nhạc sĩ của trường Quốc Gia Âm Nhạc, được khen tặng là  công chức thanh liêm, dù ngành thuế có nhiều cám dỗ.

Ngài có chín người con, năm trai, bốn gái.

2- PHẦN ĐẠO:

Đau lòng vì nền Đạo bị phân chia (1937-1940):

Từ năm 1931, khởi đầu là ông Nguyễn Văn Ca tách khỏi Tòa Thánh Tây Ninh về lập Chi phái  ở  Cầu Vỹ (Mỹ Tho) rồi ông Nguyễn Ngọc Tương và Lê bá Trang về Bến-Tre lập Ban Chỉnh Đạo.

Ngày 10-11-1937 Ngài Thượng Sanh đứng đầu danh sách ra tờ Kỉnh Cáo như sau :

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
                 KỈNH CÁO

“Hiện thời, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Đô đã sai biệt với Chơn Truyền, bất đồng tín ngưỡng, mất trật tự tôn ti, kém tinh thần liên lạc. Điều ấy dù không giải rõ tưởng chư Đạo hữu cũng chán biết.

“Đem chúng sanh trở về Chánh giáo, nối chặt dây

thân ái đặng cùng chung một tín ngưỡng chơn chánh, một tôn chỉ bác ái từ bi, ấy là trách nhiệm hiện thời của Chức sắc Hiệp Thiên Đài do theo mạng lịnh Đức Lý Đại Tiên, Nhứt Trấn Oai Nghiêm ngày 22 ...1937

"Không thái quá mà cũng không bất cập, Chức sắc Hiệp Thiên Đài sẽ cẩn thận từ ly, từ bước một trong việc hành đạo, nguyện đem hết dạ vô tư chí thành liêm khiết đặng bảo thủ Chơn Truyền và nêu cao danh thể Chí Tôn nơi cõi Việt…”.

Điều kiên quyết là nhờ vào Đức Thượng Phẩm và Đức Hộ Pháp buổi ban đầu: phải nhìn nhận đầu công của hai ông này vào bực nhứt, trước hết và trên hết: Đức Chí Tôn mượn tay và thần lực của hai ông mà lập thành Đại Đạo. Nếu không có bàn tay xây dựng của hai ông thì:

- Đâu có Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
- Đâu có chức sắc Thiên phong nam nữ
- Đâu có Hội Thánh và các cơ quan trong Đạo
- Đâu có Pháp Chánh Truyền và Tân luật.  

- Đâu có đại nghiệp hiện giờ cho nhân sanh thừa hưởng"

  (Trương Hiến-Pháp, Đạo sử Cơ Bút -Tây Ninh 1969)

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc Ngài rất lo âu khi nhận nhiệm vụ lịch sử của nhân sanh và Hội Thánh Cao Đài giao phó, nhưng nếu sợ trở ngại, sợ trích điểm thì làm sao bảo vệ được Đạo, làm thế nào để có nền Đạo ngày hôm nay. Đó là việc Đại hội 3 ngày 8,9,10 tháng 11 năm 1935 đã đồng thanh tín nhiệm Đức Ngài cầm quyền thống nhất Chánh trị Đạo cho đến ngày có Đầu Sư Chánh vị.

"Đại hội đồng bỏ thăm tín nhiệm Đức Hộ Pháp và xin đem hết tâm trí giúp Ngài đưa cả chúng sanh đi trên con đường Thánh đức của Đức Chí Tôn

 Trong khi Pháp Chánh Truyền của Đạo Cao Đài đưa ra một loại siêu dân chủ, nghĩa là một loại dân chủ chưa có trong xã hội loài người. Ngoài ba quyền: Lập Pháp, Tư Pháp, Hành Pháp như chế độ của Phương Tây, nền Hành Chánh Đạo, trên hết "có Giáo Tông một vị lãnh đạo Tôn giáo, dưới có ba vị Chưởng Pháp có quyền xem xét luật lệ trước buổi thi hành" (Pháp Chánh Truyền).

Mọi việc chi chi đều phải có ba ấn của ba vị mới được thi hành, ba vị này giữ vai trò của Viện Bảo Hiến.

          Dưới ba vị Chưởng Pháp là ba vị Đầu Sư, có Đầu Sư Đường,, không làm việc chung ở  Giáo Tông Đường.

(PCT) “Kẻ nào nắm cả trọn phần hữu hình và phần thiêng liêng thì là độc chiếm quyền chính trị và luật lệ, mà hễ độc chiếm quyền chính trị và luật lệ vào tay thì nhơn sanh chẳng phương nào thoát khỏi vòng áp chế" .

Năm 1928, Đức Cao Thượng Phẩm bị nạn, Ngài về Tòa Thánh viếng thăm và chia buồn, an ủi, Đức Cao Thượng Phẩm cám cảnh nảy ra lời tự thán:

                      THI

Công trình gầy dựng Thất Tây Ninh
Bằng địa sóng xao khiến rập rình
Tà mị phàm rung rinh chất Thánh
Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh
Xưa Tòa Thánh dập dìu lai vãng
Nay Bửu đình hiu quạnh lụy nhìn
Thương Đạo mến Thầy xin sớm liệu
Cộng tâm chung trí chớ làm thinh
.

            (Cao Thượng Phẩm)  

Thông cảm được nỗi oan khiên của Đức Ngài, Đức Cao Thượng Sanh đã họa bài thi trên như vầy:

HỌA VĂN

Dập dìu nào buổi Thất Tây Ninh,
Hiu quạnh hôm nay gió rập rình
Trước ngõ lơ thơ vài Đạo hữu
Sau hiên meo mốc mấy pho kinh
Rừng xơ vẻ thắm chim không đỗ
Cảnh lợt màu tươi khách biếng nhìn
Xây dựng là ai, ai phá hoại?
Sụt sùi để bước khó làm thinh.

Năm 1946, Đức Phạm Hộ Pháp được chính phủ Pháp trả tự do từ Madagascar về Việt-Nam rồi về Tây Ninh. Ngày 4-8-Bính Tuất, Đức Thượng Sanh về Tòa Thánh đến thăm Đức Hộ Pháp, có làm bài thơ cảm tác:

 CẢM TÁC

Nhành lá rừng tòng đã điểm tươi,
                 Còn non còn nước lại còn người.
                 Xa nhà bỏ lúc thương pha hận,
                 Gặp Bạn vầy khi khóc lộn cười.
                 Nguồn Đạo xưa trông, đôi cảnh nghịch
                 Thuyền từ nay lướt một dòng xuôi.
                 Trời Nam thử điểm trang tân sử,
                 Đổ lệ cùng nhau gượng để lời.
           
Đức Cao Thượng Sanh ở lại dự lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, Bà Bát Nương giáng cơ cho Đức Hộ Pháp bài thi:

                     THI

Đào Nguyên lại trổ trái hai lần
Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân.
Cung Đẩu vít  xa gươm xích quỉ,
Thiên cung mở rộng cửa Hà Ngân.
Xuân thu định vững ngôi lương-tể,
Phất  chủ quét tan lũ nịnh thần.
Thổi khí vĩnh sanh lau xã tắc,

Mở đường quốc thể định phong vân.

                  HỌA VẬN

Dựng gầy xã tắc bấy nhiêu lần,
Mong mỏi vùng Nam đặng thấy lân.
Đảnh Việt Trời cho gìn cảnh trí
Thuyền Nam Đạo vững lướt dòng ngân.
Đài hoa tạc để gương anh kiệt,
Thiên khiển dành riêng đám tội thần.
Gặp phải nước nhà cơn loạn lạc,
Làm trai tua vẹn chí thanh vân.

         CAO THƯỢNG SANH

           Đây coi như bản di ngôn dài của Đức Thượng Sanh, nói lên tâm huyết về lập trường cố hữu của Ngài là phi chính trị, thuần đạo đức. Đâu ai ngờ buổi tiệc tân niên này là buổi họp mặt cuối cùng của Ngài với Chức sắc, công thợ và tín đồ.

3- Hội Thánh báo tang:            

Ngày 27-3-Tân Hợi (dl: 22-4-1971) Hội Thánh báo tang:

 “Hội Thánh lấy làm cảm xúc thông tri cho toàn thể  Chức

sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ trong toàn quốc hay tin buồn: Đức Thượng Sanh Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài vừa qui Thiên hồi 17 giờ ngày 26-3-Tân Hợi, liên Đài quàn tại Giáo Tông Đường Tòa Thánh. Lễ tang sẽ cử hành trong 9 ngày theo chương trình ấn định kể từ ngày 27-3-Tân Hợi cho đến ngày 6-4-Tân Hợi (30 tháng 4 năm 1971)

sẽ nhập Bửu Tháp. Đây là tang chung cho Hội Thánh và toàn Đạo. Để tỏ lòng tri-ân ái-kính vô biên, nồng nàn mến tiếc Đức Thượng Sanh, một bậc tiền bối đại ân nhân đã dày công khai sáng nền Đại Đạo, để tạo hạnh phúc cho nhơn sanh, trong buổi Tam kỳ Phổ Độ.

    Hội Thánh quyết định cho tất cả Thánh Thất, Điện Thờ Phật Mẫu cùng các văn phòng của Đạo tại địa phương cũng như tại Tòa Thánh phải treo Đạo Kỳ rũ. Toàn Đạo nên chay lạt tịnh tâm "Di Lạc Chơn Kinh" suốt trong những ngày Thánh lễ để cầu nguyện Ơn trên, Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng thiêng liêng ban hồng ân cho Chơn linh Đức Ngài được cao thăng Thiên vị.

HỘI THÁNH

Sau khi đài phát thanh Sài gòn phát tin “Cáo phó” nêu trên loan khắp miền Nam, ở các Châu Tộc Đạo, Chức sắc, Đạo hữu lần lượt về Tòa Thánh Tây Ninh thọ tang Đức Cao Thượng Sanh. Ai không về được thì tổ chức thọ tang tại chỗ, từ miền Trung đến miền Nam đều tổ chức thọ tang trọng thể. Chính quyền địa phương đến điếu tang. Đặc biệt nhất là tại Tỉnh Thừa thiên, phái đoàn của Bà Từ Cung đã đến làm lễ nơi Thánh Thất sở tại.

 4- Công nghiệp của Đức Thượng Sanh:

Dưới đây là bản tuyên dương công nghiệp của Hội

Thánh Hiệp Thiên Đài

"Nhơn cuộc lễ này, tôi (Trương Hiến Pháp) xin tuyên dương công nghiệp của Đức  Cao  Thượng  Sanh  về

cả hai phương diện Đạo lẫn Đời.

Về mặt đời: Nói đến ông, ai ai trong giới công chức và đồng bào tại thủ đô đều hiểu rõ thanh danh của ông là một công chức đúng mực thanh liêm (3).

           Là nhà chí sĩ thương dân yêu nước, ông thường giao du với hai ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc. Cả ba ông là nhạc sĩ lừng danh trong giới âm nhạc tại Thủ đô Sàigòn. Hai ông Cư và Sang được coi như các bậc Thầy. Sau khi ông Cư đăng Tiên, ông Sang được coi như bậc "hậu tổ". Ban Âm Nhạc Đạo Cao Đài đã nhờ Ngài chấn chỉnh rành mạch thêm…Mất Đức Ngài, giới Âm nhạc trong toàn quốc nói chung và trong Đạo Cao Đài nói riêng, đã mất một Nhạc sư cự phách. Đáng tiếc thay!

Về mặt Đạo:

Ngày rằm tháng 3 năm Bính Dần ông Cao Hoài Sang đắc phong Thượng Sanh một lượt với Đức Hộ Pháp và Đức Cao Thượng Phẩm. Từ đây về mặt hữu hình Chưởng quản tối cao của Hội Thánh Hiệp Thiên Đài không còn nữa.

Những tưởng Đức Ngài đến với sứ mạng Thiêng liêng để hoàn thành cơ nghiêp Đạo, thì chắc Ngài phải được sống lâu với  bổn Đạo để tồn tại với Đại nghiệp Đạo đến cùng. Nào ngờ đâu, ta muốn vậy mà Trời đâu cho vậy  

Đã đành rằng chúng ta phải thương tiếc một Đấng Lãnh tụ anh minh như Đức Thượng Sanh. Thương tiếc bao nhiêu thì phải noi gương của Đức Ngài bấy nhiêu để gặt hái được một phần công quả hữu ích cho Đạo, cho chúng sanh nhờ ! Đó là sự đền đáp công ơn với bậc tiền bối đã dày công xây dựng, lưu lại một sự nghiệp vĩ đại cho chúng ta thừa hưởng. Vậy chúng ta hãy đứng lên và đồng tâm hiệp lực tiếp tục xây đắp nền Đạo cao thêm mãi để khỏi phụ ơn của tiền nhân chúng ta …"

5- Đức Cao Thượng Sanh giáng cơ:         

Một hôm sau ngày qui Thiên, Đức Cao Thượng Sanh giáng cơ tại Cung Đạo, Đền Thánh lúc 20 giờ đêm 27 tháng 3 năm Tân Hợi.

THƯỢNG SANH

Chào mừng chư Chức sắc Thiên phong,            

Chư Đạo hữu nam nữ.            

 Bần Đạo lấy làm vui sướng được thoát nơi phiền lụy cái kiếp sanh con người, chỉ có giải thoát là quý hơn hết.            

Hôm nay, Bần Đạo đến để thỏa mãn sự yêu cầu của quý vị, Bần Đạo không có gì hơn là bài thi đã cho lúc Bần Đạo tái thủ phận sự, nhưng xin sửa hai câu đầu như vầy:

Từ lúc đưa tay nắm Đạo quyền,
Nguyện đem thi thố tấm trung kiên
.

Kỳ dư đều để y như cũ.  Bần Đạo còn rất nhiều Đạo sự, không tiện ở lâu,  xin kiếu.” Thăng.

Bài thơ mà Đức Ngài làm vào tháng 7-1970 hai câu đầu như thế này:

Hội Thánh mời giao nắm Đạo quyền,
Mười ba năm một dạ trung kiên

           Như vậy là Đức Ngài biết mình chỉ giúp Đạo hơn 13 năm thôi. Bài thài để dâng hiến lễ Ngài hàng năm là :


Từ lúc đưa tay nắm Đạo quyền
Nguyện đem thi thố tấm trung kiên
Độ đời quyết lánh vòng danh lợi,
Trau chí tìm noi bậc Thánh hiền.
Từ ái làm nền an thổ võ,
Đức ân dụng phép tạo nhơn duyên,
Những mong huệ trạch trên nhuần gội,

Sứ mạng làm xong giữ trọn nguyền.

 

-  20 –  Bảo Pháp Chơn Quân
 NGUYỄN TRUNG HẬU

(1892-1961)

 

 

            Ðêm 30 tháng chạp Ất Sửu (dl. 12-02-1926)

THẦY cho ông Nguyễn Trung Hậu tự Thuần Ðức

Thuần  phong mỹ tục giáo nhơn sanh,
Ðức  hóa thường lao mạc vị danh.
Hậu  thế lưu truyền gia pháp quí,
Giáo  dân bất lậu, tán thời manh
.

 

                     Thi

  Ðã có căn phần dựa cảnh Tiên,
  Bước đời chớ quản bậc sang hèn.
  Mưa mai nắng xế chờ qua khỏi,
  Ðêm tối lần ra gặp ánh đèn.

      (Ðức Chí Tôn - 24-6-1926)

Sinh: 5-3-Nhâm-Thìn (dl: 1-4-1892)

Qui: 7-9-Tân-Sửu (dl: 16-10-1961) lúc 16g50. Thọ 70 tuổi tại nhà riêng ở Gia-Định

          Bảo-Pháp

     (Fr: Conservateur Juridique)

Bảo-pháp là vị Thời quân thuộc chi Pháp, đặng đồng quyền cùng Hộ-Pháp khi đặng lịnh Người sai đi hành chánh, song mỗi vị có mỗi phận-sự riêng, quyền hành riêng.

            “Bảo-pháp thì gìn-giữ sự bí-mật ấy cho kín nhiệm, làm tờ đoán xét và định án chiếu y luật Đạo rồi dâng lên cho Hộ pháp đặng Người phân xử.

           “Bảo-Pháp là người Đầu-phòng-văn của Hộ Pháp”

Thầy buộc cả chi Pháp phải thề giữ da vô tư mà hành chánh” (PCT)

            Trách nhiệm của Bảo-Pháp là bảo-tồn luật pháp, bảo hộ không cho ai được phạm đến những điều lệ nào đã thành mặt luật”  (Hiến-pháp  Nhâm-Dần 1932)

Bài Thài hiến lễ:

Đối với nền Đại-Đạo rất đặc biệt là các bậc Chức-sắc cao cấp khi qui Thiên, liền giáng đàn cho một bài thi làm “Bài thài” hiến lễ riêng cho các Ngài:

Nhà Phật hôm nay giữ Đạo mầu,

Phiền ba nghĩ lại có vui đâu.

Tẻ đường phi thị noi đườg tịnh.

Tìm cửa Từ-bi lánh cửa Hầu.

Xác thịt trải qua miền gió bụi.

Nắm xương chờ gởi bóng tang du.

Lửa lòng vụt tắt từ đây vẫn…

Giọt nước nhành Dương gợi tấm sầu.

            (Bảo-Pháp Nguyễn trung Hậu)

       

 I- THÂN-THẾ VÀ SỰ-NGHIỆP

I- Phần Đời:

Ông tên Nguyễn-văn-Hậu bút hiệu Thuần Đức, tức Nguyễn-Trung-Hậu sinh: 5-3-Nhâm-Thìn (dl: 01-04-1892) tại xã Bình hòa, tỉnh Gia-Định (nay là quận Bình-Thạnh).

            Thân sinh ông là Nguyễn-Phục-Lễ, tức Nguyễn Văn Nhiêu, bút hiệu Tiết Văn, Đông y sĩ, làm bốn khóa Hội đồng địa hạt Tỉnh Gia Định.

Thân-mẫu là Bà Lê-Thị-Cơ người gốc Bình Định.

           Ông Hậu theo Tây học, nhưng cũng biết Hán-học, lại thông minh, là thi nhân trong văn giới Việt-Nam, tốt nghiệp trường sư phạm Gia-Định (École Normale de Gia Định) tháng 2-1911. Khi ra trường Người được bổ làm Giáo-viên tại một trường ở đường Taberd, trước gọi là trường “sở cọp”.Sau bị bãi bỏ mới về dạy tại  trường  Tiểu học đường Richaud, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu.

           Năm 1919 làm Thơ-ký cho ông Giám đốc các trường Tiểu học Sàigòn.

           Năm 1922 Giám đốc trường tư thục Internat primaire de Dakao tại đường D'Ariès, kế đổi là Tư thục Huỳnh Khương-Ninh.

           Những năm sau, Người có làm Giáo sư Pháp-văn Trường Hưng-Việt, trường Nguyễn Anh Bổn (trường Nguyễn Phan Long  cũ), trường Nguyễn Du …

            Năm 1930-1931, Người vừa viết báo cho Đuốc Nhà Nam, Hoàn Cầu Tân Văn của ông Nguyễn Háo Vĩnh, vừa làm chủ bút tờ tạp chí Pháp văn La Revue Caodaiste và năm 1932 làm chủ bút nguyệt san Đại Đồng của Liên hòa  Tổng  Hội  do ông Nguyễn Phan Long lãnh đạo.

           Đến năm 1934, vì bệnh hoạn liên miên, nhờ ông Cai tổng Trương Vinh Quy và ông Phán Của giúp đỡ từ Cầu Kho (Saigon) về nương ngụ tại số 186/42 đường Ngô Tùng Châu (nay là 101/71, đường Nguyễn Văn Đậu, quận Bình Thạnh) cho tới ngày qui vị, thọ 70 tuổi.

            Ông  phối-ngẫu với Bà Diệp Thị Nguy (thường gọi là Diệp Thị Quy con của ông Diệp Văn Chỉ và bà Dương Thị Kiển). Các con hầu hết theo nghiệp Đạo.

2- PHẦN ÐẠO

         Đầu tháng giêng năm 1926, Người nghe tin quí ông Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang cầu cơ Tiên giáng cho thi hay. Người đến nhà ông Cư xem và được Thánh huấn của Đức Chí Tôn đến với tá danh AĂÂ:

THUẦN văn chất ĐỨC tài cao,
Tên tuổi làng thơ đã đứng vào.
Non nước muốn nêu danh tuấn kiệt,
Đến hồi búa Việtt giục cờ Mao.

Vì điểm đúng bút hiệu Thuần Đức, nên Người đã có niềm

tin. Một hôm khác, Người bạch cùng Đấng AĂÂ rằng:

“Tôi còn nhớ hai câu đối thuở nay chưa ai đối được, nên xin đem ra nhờ Ngài đối chơi cho vui.

Đức AĂÂ  đáp:

“Bần Đạo xin hầu đối, nhưng nếu đối ra không chững, quí vị chớ cười mà niệm tình Bần-đạo mà chấn chỉnh lại cho".

Câu đối của Thuần Đức ra:

- "Ngồi yên ngựa đừng bò con nghé"

Đức AĂÂ đối lại:

- "Cỡi lưng trâu chớ khỉ thằng tê"

- Thuần Đức ra: "Ngựa chạy mang lạc”
- Đức AĂÂ đối lại: "Cò bay le bè"

Tất cả những người có mặt đều hết sức phục tài Đức AĂÂ. Cũng vì đó Thuần-Đức nhập môn theo Đạo Cao-Đài từ đêm 14 rạng 15-3-Bính Dần(25 rạng 26-4-1926) thọ Thiên phong Tiên Đạo phò cơ Đạo sĩ, cùng với Trương-Hữu Đức

         Đến năm 1926 vì làm ăn sa sút, ngày 23-6-1926 (14-5 Bính Dần) Người có cầu hỏi Đức Chí-Tôn coi nên tiếp tục hay để cho sụp đổ, thì Thầy dạy:

Con muốn làm sao tự ý con,
Nhà nghèo Nhơn Nghĩa miễn vuông tròn.
Thầy đâu nỡ để môn đồ cực,
Mối đạo giữ cho ngàn thưở còn.

           Đến ngày 21-7-Bính Dần (dl: 04-08-1926)  Người tự thấy không thể đứng vững được nữa với cái trường “Internat de Dakao” nên cùng với ông Đốc-học Đoàn-Văn Bản thỉnh giáo Thầy một lần  nữa ( mỗi  người  thỉnh  việc

riêng của mình) Thầy giáng cho  ông Thuần-Đức:

Cái khiếu thông minh con ở đâu ?
Kêu Thầy mà hỏi việc cơ cầu.
Hễ là quân tử chi màng việc,
Hễ biết điều cao bớt việc sầu.

        Theo lời dạy của Đức Chí-Tôn, Người giao trường lại cho ông Huỳnh Khương Ninh rồi gia nhập phong trào Tôn giáo Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Ngài với ông Trương Hữu Đức lãnh đi phổ độ trong các tỉnh Chợ Lớn, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Định Tường, Bến Tre.

Trước có đàn: 16-11-1925 có vị Quí Cao là một Thi sĩ đã quá vãng, bạn thơ xưa kia, có giáng đàn cho thi:

Thương nhau nhớ lúc hứng thơ hòa,

Sanh tịch đôi đàng phải cách xa.

Chén rượu đồng tâm nghiêng ngửa đổ,

Biệt ly này trách bấy Trời già.

                   (Quí Cao)

   Thuần-Đức họa lại:

Đêm khuya tịch-mịch gió thu hòa,

Chạnh nghĩa kim bằng dạ xót xa.

Đạo-lý những mong vầy một cửa.

Ngờ đâu rời-rã buổi chưa già.

                    (Thuần-Đức)

Ông Nguyễn-Trung-Hậu vốn là một nhà thơ lỗi-lạc,  ký-giả có bút hiệu Thuần-Đức, giờ đây gặp được cơ huyền diệu. Đức Chí-Tôn dùng Cơ Bút để giáo-hóa, làm tăng lòng hứng khởi, do vậy mà bấy giờ Ngài sáng tác nhiều hơn và xướng họa thi văn với đủ các giới, từ hữu hình đến vô hình.Ngày 15-12-1925,Ông Thuần-Đức  bài thơ xướng:

                                         THI

Mấy năm rồi cũng phủi tay không.

Đường thế chiêm-bao một giấc nồng.

Nặng nghiệp phong-trần buồn với phận

Lo bề trung hiếu thẹn cho lòng.

Trời cao chưa phỉ tình mây bạc.

Đất túng càng khinh chốn chậu lồng.

Chờ gặp cố nhân lòng dám hỏi:

Hỏi ra mới biết vận cùng thông.?

Hầu như các bậc Thiên mạng đến cảnh trần đều ngao ngán cảnh trần, chớ không phải chán đời mà tìm cách lánh đời. Chính cũng vì động cơ chán ngán ấy thúc đẩy mà quyết ra tay cứu đời, quyết làm theo lời Thầy dạy-dỗ để sẵn-sàng “Tu mà cứu thế dễ như không”! Ông Quí-Cao giáng đàn họa:

                      THI

Một tiếng U-minh gióng cửa Không.

Phồn-hoa giựt tỉnh giấc đương nồng,

Ngồi thuyền Bát-Nhã qua tình biển.

Mượn nước nhành Dương rưới lửa lòng

Cuộc thế lạnh-lùng làn gió lọt

Đường đời ngán-ngẫm bụi trần hồng,

Kiếp tu xưa tiếc chưa nên Đạo.

Oan trái phủi rồi phép Phật thông.

                   (Quí-Cao)

         Đầu tháng tư Đinh-Dậu (tháng 5 năm 1957) Ngài cùng với Đức Thượng Sanh và quí vị Thời Quân về Tòa Thánh tái thủ phận sự. Ngày 15-4-Đinh Dậu (dl:14-5-1957). Ngài được Hội Thánh cử làm Giám đốc Hạnh Đường dạy lớp bồi dưỡng Giáo-Hữu và Lễ-Sanh, đúng theo chơn truyền của Đạo. Trong thời gian này Ngài tái lập Ðạo Đức Văn Đàn, mà trước đây do Ngài Cao Tiếp Đạo bút hiệu Huyền Quang, Chánh Đức, đứng ra thành lập vào năm 1950 và chỉ hoạt động được hai năm. Ngài dạy về niêm luật Đường thi được nhiều người hưởng ứng nên sau ngày cải táng Ngài về đất dành riêng cho Thập Nhị Thời Quân thì quí thi gia trong Đạo Đức Văn Đàn có xuất bản tập “Hoài niệm THUẦN ĐỨC Tiên sinh” (năm 1974, Giáp Dần). Tập Hoài Niệm này được Ngài Hiến pháp, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài ghi “Lời hoài cảm”.

            Vì tuổi già sức yếu (bị huyết áp cao) ngày 24 tháng 12 năm 1958 (Rằm tháng 11 năm Mậu Tuất) Ngài trở về Gia Định dưỡng bịnh. Trong cuộc chính biến ngày 11-11-1960, do nhóm người tổ chức đã tự ý để tên Ngài vào bản tuyên ngôn nên sau đó Ngài bị nhà cầm quyền Sàigòn cũ tạm giữ một tháng năm ngày từ ngày 18-11-1960 đến 22-12-1960. Trong thời gian bị tạm giam, Ngài có làm 12 bài thi. Trong bài cảm thuật có 2 câu:

Ai biết ta chăng ta tự biết,
Riêng hiềm có miệng cũng như câm.

Từ đó Ngài sống thanh đạm tại gia-đình, với các con, an hưởng tuổi già. Ngài cũng thường làm thơ tự thuật, tả cảnh, tả tình gói niềm tâm sự trong các vần thơ và cũng trong thời gian này Ngài thường xướng họa thơ với các thi

sĩ lão thành trong Nam Phong Thi Xã.

             Năm 1961: Ngài qui Thiên sau một cơn bạo bịnh tại tư gia. Thời gian bịnh kéo dài đúng một trăm ngày, Ngài thoát xác qui thiên tại Gia-định vào lúc 16 giờ 50 ngày 7 tháng 9 năm Tân Sửu (dl: 16-10-1961). Tang lễ được Hội Thánh cử hành theo lễ Đạo trong 5 ngày và tạm an táng tại nghĩa trang gia đình tại Cây Quéo.

3 - Sự nghiệp văn chương:

Ngoài việc viết báo, Ông Thuần Đức có dịch đăng báo một số ít tiểu thuyết từ Pháp văn ra Việt văn. Nhưng sự nghiệp thi phú của Người là nổi bật hơn hết.

Người bước vào làng thơ  năm 19 tuổi  (1911)  với

 bài tự thuật có hai câu chuyển kết :

Cạn trần chưa biết ai là bạn,
Liều với xuân xanh bút một ngòi.

Bài thơ cuối của Người đề ngày 30-6-1961, đúng 108 ngày trước ngày Người về chầu Chí-Tôn, là “Thôn chiều  buồn” trong đó có cặp trạng báo trước tâm sự người sắp  ra đi:

Khoanh tay đứng ngóng thuyền xa bến,
Đứt ruột ngồi nghe nhạn gọi đàn.

 

4- Tiểu-sử của Bảo-Pháp Nguyễn-Trung-Hậu

Do Ngài Hiến-Pháp Chưởng-quản Hiệp-Thiên-Đài tuyên đọc trong dịp Lễ Di táng Liên-đài Ngài Bảo-Pháp về đất Thập Nhị Thời-quân (Ao Hồ) ngày 7 tháng 9 năm Giáp-Dần (dl:  21-10-1974)

      …Ngài tên thật là Nguyễn-Trung-Hậu tự Thuần-Đức tức Nguyễn-Trung-Hậu, sanh năm 1892 tại Bình-Hòa-xã, tỉnh Gia Định, con của cụ Nguyễn-Phục-Lễ và Bà Lê thị Cơ (vị hôn thê của Ngài là Diệp thị Qui). Ngài có 8 người con; 5 trai, 3 gái đều là người học thức và noi theo chí cả của Ngài và chung lo phục vụ Đạo.

Thuở thiếu thời, Ngài theo Tây học và cũng biết một  ít Hán học, nhưng Ngài rất thông minh, sáng suốt, học ít biết nhiều và nổi tiếng là một thi nhân trong văn-giới miền Nam, tánh của Ngài rất cương trực, thẳng thắn, không chịu khuất phục trước bạo lực.

Ngài tốt nghiệp trường Sư-phạm, nên được bổ làm Công chức, sau xin nghỉ việc về nhà lập Tư thục Internat de Dakao, kế đó đổi lại Trung học Huỳnh-Khương-Ninh. Nhưng qua một thời gian rồi giao lại cho Ông Ninh. Ngài vẫn tiếp tục dạy học ở các trường Trung-học Huỳnh-Công-Phát, Nguyễn-Du, Nguyễn-Anh-Bổn, đồng thời cộng tác với báo Đuốc nhà Nam, thời Ông Nguyễn Phan Long làm chủ nhiệm, nhất là với tạp chí La Revue Caodaiste và về sau Ngài mở lớp dạy Pháp-văn tại tư gia, cơ sở này hiện nay được con cái tiếp tục quán xuyến và đổi danh thành trường Trung-học Thuần Đức. Với một Thiên tài, học ít biết nhiều, đặc biệt là về văn Nho, Ngài học ít nhưng rất lỗi-lạc, người Tàu phải kính phục.

Tôi còn nhớ lúc nọ, Đức LÝ  Đại Tiên giáng cơ khen tặng và ý

nói rằng “Ai muốn xin liễn thì hãy xin nơi Hậu”. Bằng  cớ  là

đôi liễn nơi thuyền Bát-Nhã là của Ngài cho rất hay mà ai ai

cũng đều công nhận.

    “Vạn sự viết vô, nhục thể thổ sanh hoàn tại thổ,

   “Thiên niên tự hữu linh hồn thiên tứ phản hồi Thiên”

Khi Ngài về tư gia nghỉ ngơi để bồi dưỡng lại sức khỏe, nhưng thiên số định kỳ, vào năm 1961, sau cơn bạo bịnh Ngài đăng Tiên, tại nhà riêng ở Gia-Định vào lúc 16g50 ngày  7 tháng 9 năm Tân-Sửu, hưởng thọ được 70 tuổi…

               Hiến-Pháp Chưởng-quản Hiệp-Thiên-Đài.

Trương-Hữu-Đức

(13 năm sau Ngài Bảo-Pháp qui Thiên, vào giữa năm Giáp Dần (1974) Ngài ứng mộng cho gia đình và các con yêu cầu Hội-Thánh xin cải táng hài cốt của Ngài về Thánh-địa trong năm 1974. Được Hội-Thánh chấp thuận. Ban Nhà thuyền Trung ương do ông Giáo-sư Thái-Hồ Thanh hướng dẫn Đạo tỳ đến phần mộ, đem quan tài ra)

5- Lễ truy điệu và nhập Bửu tháp của

 Cố Bảo-Pháp Chơn Quân

Theo lời yêu cầu của gia đình Ngài Cố Bảo-Pháp Chơn Quân Hiệp-Thiên-Đài Nguyễn Trung Hậu đã được Hội-Thánh chấp thuận. Hài cốt của Ngài đã được truy điệu và nhập Bửu tháp tại Tòa-Thánh (Ngã ba Ao Hồ)

            Hội-Thánh Cung Thỉnh bửu ảnh vào Hiệp-Thiên Đài Đền Thánh. Hội-Thánh cầu nguyện Đức Chí-Tôn và các Đấng Thiêng-Liêng ban ân cho Ngài được cao thăng Thiên vị. Sau đó được di đến Bửu tháp (ngã ba Ao Hồ).

>>>o0o<<<

- 21-  ÔNG TRƯƠNG HỮU ĐỨC

(1890-1976)

Thánh danh: Hiến pháp Trương Hữu Đức

 

 

 

-         Phần đời : Thư ký Sở Hỏa xa

-         Phần đạo : Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài

I- PHẦN ĐỜI:

          Ngài Hiến Pháp tên thật là Trương Hữu Đức sanh ngày 2-2-Canh Dần (1890) tại Hiệp Hòa, (Chợ Lớn) con  ông Trương Văn Tựu (Thiên Phong Giáo sư phái Ngọc) và bà Lê Thị Nhụy. Ngài làm việc tại Sở Hỏa Xa Sài gòn,  sau  bị  buộc sang làm thông dịch viên cho Sở Mật Thám Nam Kỳ. Đến năm 1952, Ngài về nghỉ hưu ở Hiệp Hòa.

II - PHẦN ĐẠO:

Năm 1925, Ngài sang nhà ông Cao Quỳnh Cư quan sát các

ông Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang và Cao Quỳnh Cư xây bàn. Ngài hoài nghi nên về tập làm thử thì vong linh người anh nhập bàn cho hai vị thuốc trị lành bệnh hậu của Ngài trên 20 năm qua. Ngài bắt chước Đức Hộ Pháp chấp bút chỉ được  một lần duy nhất:

Minh Đức mừng nay đã gặp Thầy
Chẳng còn ao ước cái không hay
Mừng câu Âu, Á càng thêm mặt,
Mừng Nậu côn đồ đã chịu chay.

Ngày khai đạo: 15-10-Bính Dần: Ngài đắc phong Hiến Pháp, hợp cùng Bảo Pháp là cặp cơ truyền Đạo. Lắm lúc phải đi suốt đêm, có đêm Ngài phải lên tận chùa Gò Kén để chấp cơ cho nhơn sanh nhập môn cầu đạo.

            Ngài cũng nhờ Ơn trên bố hóa mà trị được các bệnh phù thủng, dịch tả, cảm, rất huyền diệu; trị bệnh bằng nhân diện chỉ xảy ra trong giai đoạn đầu mà thôi và chấm dứt huyền diệu đó vào năm 1927 khi có lệnh ngưng Cơ Bút.

Năm 1955, khi quốc-gia-hóa quân đội Cao Đài, Ngài mới trở về Tòa Thánh làm việc. Năm 1956 Ngài cùng Ngài Bảo Thế thay mặt Hội Thánh ký thỏa ước Bính thân, cam kết Đạo không làm chính trị. Mặc dù Ngài không nhận đại diện cho phong trào Hòa bình Chung Sống nhưng vẫn bị Chánh Quyền cấm trú hai năm tại Sài-gòn.

Năm 1962 Ngài về Tòa Thánh nhận chức vụ Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh, Trưởng Ban Kiểm Duyệt, Ban Đạo Sử, rồi Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, sau đó lên thực thụ. Thời Chưởng Quản Hiệp-Thiên-Đài, Ngài tiếp tục xây dựng cơ sở Đạo, phò cơ với Ngài Khai Đạo phong ba vị Bảo Quân và ba vị Phối Sư. Vì tuổi già sức yếu, Ngài qui Tiên năm 1976, hưởng thọ 86 tuổi.

1- Sự ngộ nhận danh-từ của người Pháp về

“ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ”

Khi còn làm việc ở Sở Mật Thám Nam Kỳ Ngài đã

cứu Đạo ra khỏi sự hiểu lầm trầm trọng. Vốn là  Đức  Cao

Thượng Phẩm ban hành bản "Cáo phó chúng sanh", ngoài bìa có đề: ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ mà không có chữ Hán nên Nha Tổng Giám đốc Sở Mật Thám Hà Nội dịch là "Đạo lớn cứu vớt ba kỳ". Ngài phải dịch là "Đạo lớn mở lần thứ ba". Nền Đại-Đạo đã phải chịu một phen khảo-đảo nặng nề là người Pháp hiểu lầm danh-từ: “Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ” 大 道 三 期 普 渡

           Với thời điểm khai Đạo là năm Ất-Sửu, qua năm Bính-Dần (khoảng 1925-1926). Việt-Nam đang thời kỳ Pháp-thuộc nên mọi việc đều chịu sự kiểm-soát của ngoại bang là người Pháp. Đạo Cao-Đài xuất hiện trong thời buổi khuynh-nguy đó.

           Sau khi Ông Cao-Quỳnh-Cư (tức Thượng Phẩm) có ra một bản “Phổ-cáo chúng-sanh” để truyền-bá Đạo Cao Đài, trên bìa Bản Phổ-cáo ấy có đề tựa: “Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.” Lần đầu, Bản phổ-cáo ấy không có kèm theo   chữ Hán, nhưng lần sau Ông Cư có ghi thêm mấy chữ Hán: Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ 大 道 三 期 普 渡

        Để tượng-trưng Tam-giáo Qui nguyên, ngoài bìa Bản Phổ-cáo  có vẽ hình ba vị Giáo-chủ là Đức Thích-Ca, Đức Lão-Tử, Đức Khổng-Tử.

           Bản Phổ-cáo chúng-sanh in lần đầu được gởi ra Nha Tổng-Giám-đốc Mật-thám Hà-Nội để dịch ra Pháp văn, nhưng người Thông-dịch-viên ngoài ấy lại dịch câu tựa: Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ là một nền Đạo lớn mục đích để cứu-vớt ba kỳ. Lúc đó nhà cầm quyền Pháp để ý theo-dõi hành-vi của Đạo Cao-Đài rất gắt, nên Hà-nội gởi bài dịch văn ấy vào Nam hỏi Ông Chánh-án Sở Mật-Thám Nadau: Có phải Đạo Cao-Đài làm Chánh-trị không?  Để giải tán!  Nhằm lúc ấy, Ông Nadau tin dùng ĐỨC  (tức là ông Trương-Hữu-Đức, sau đắc phong là Hiến-Pháp Hiệp Thiên-Đài) nên Ông mới hỏi bài dịch ấy có đúng không?

            Đức trả lời:  - Không đúng!

            Vì nguyên-văn câu ấy có nghĩa là: Đại-Đạo mở lần thứ ba để độ-rỗi, chớ không phải cứu vớt ba kỳ (vì bấy giờ ba kỳ trong Liên-bang Pháp là Nam, Trung, Bắc của Việt Nam đang bị Pháp đô hộ). Để trưng bằng-cớ cụ-thể, Đức đem tài-liệu về Bản Phổ-cáo trao cho Ông Nadau xem, vì ông  Nadau cũng biết chữ Hán.

           Ông liền gởi phúc-trình ra Hà-Nội giải thích rõ việc ấy. Nhờ đó mà Đạo khỏi bị giải-tán và người Đạo cũng đỡ khổ. Đó là một bằng chứng “Đức cứu Đạo”.

           Lúc nọ ông Đức được Chánh-Sở Mật Thám Nam kỳ là ông Nadau mời đến để giao cho chức-vụ Thông dịch viên sở ấy. Trước khi nhận lời, Đức có cầu Cơ thỉnh-giáo cùng Đức Chí-Tôn, vì lúc bình-thường Đức không thích giúp việc cho Sở ấy, là sở không có cảm-tình đối với dân chúng. Đức Chí-Tôn lại dạy Đức nên qua đó giúp việc cho sở ấy vì sẽ có cơ-hội “Cứu Đạo”.  

           Quả thật, đây là cơ-hội “Đức cứu Đạo” đã đến như lời Đức Chí-Tôn dạy.

 

          

- 22 – Ông HUỲNH-TRUNG-TUẤT (1873-1947)

Nghiệp Chủ Chợ Đủi Sài-Gòn

 

 

 

 

Ông Huỳnh Trung Tuất có vợ là bà Nguyễn thị Hoà (1873-1947) ông bà có BA người con là: Huỳnh văn Sơn  (thọ phong Giáo Hữu ngày 17-9-Bính Dần). Huỳnh văn Cao và Huỳnh văn Vạn.

            Ông là người gốc ở Rạch Kiến, Cần Giuộc, theo Nho học. Ông Huỳnh Trung Tuất có chủ trương kháng Pháp, điển hình là việc tham gia phá khám lớn, giải cứu Phan Xích Long (1916). Ông làm Hộ Trưởng và có nhà vùng Chợ  Đũi, nên thường được gọi là ông Hộ Tuất. Ông nhập môn tháng 2 năm Bính Dần, thọ phong Lễ Sanh ngày 23-8-Bính Dần. Ông cũng tách khỏi Toà Thánh.

            Về sau ông lập Thánh Tịnh Ngọc Tuyền tại tư gia (sau là Thánh Thất Chợ Đũi) hẽm 306 Nguyễn thị Minh Khai. Quận 3 ngày nay. Thánh Thất hiện nay cũng không còn. Ông Huỳnh Trung Tuất qui vị ngày 28-12-1947, an táng tại thổ mộ gia đình vùng Ông Tạ (Hoà hưng).

 

>>>o0o<<<

 

 

- 23 - Ông NGUYỄN-VĂN-CHỨC (1873-1956)

Cai Tổng Chợ-Lớn

 


Ông  Nguyễn văn Chức có người vợ là Bà Trần thị Trầm (1871-1947). Năm 1926, ông đang làm Cai Tổng Phước điền Trung, được Ngài Nguyễn Ngọc Tương chủ Quận Cần Giuộc khuyến khích nên đã nhập môn vào cửa Đạo Cao-Đài.

Ông đã xây dựng nhiều công trình phúc lợi cho dân địa phương như đắp đường, làm cầu (Cầu Thầy Cai..)

Ông Nguyễn văn Chức qui vị ngày 24-4-1956. Mộ phần ông bà hiện ở Ấp Thuận Bắc, xã Thuận Thành, Cần Giuộc.

 

 

 

- 24 – Ông Lại văn Hành (1878-1939)

Hương Cả Chợ-lớn

 

 

 

Ông nhập môn vào Đạo Cao-Đài ngày 29-8-Bính

Dần tại Đàn Tân Kim, lúc ấy ông đang làm Hương Cả.

            Ông có vợ là bà Trần thị Chốt (1885-1968).

            Năm 1930, ông có hiến một mẫu đất tại ấp xóm Cống (Bến Lức) để xây dựng nên Thánh Thất Long Phú Sau rồi ông cũng rời Toà Thánh Tây-Ninh hiệp vào Chi phái Bến Tre (nay thuộc ban Chỉnh Đạo)

            Ông Lại văn Hành qui vị vào năm 1939, an táng tại Thánh Thất Long Phú.

 

>>>o0o<<<

 

 

- 25- Ông NGUYỄN-VĂN-TRÒ (1886-1949)

Giáo-viên Sài-gòn

 

Ông là con thứ 9 của ông Nguyễn văn Lừa (1846-1914) và bà Nguyễn thị Lộc (1847-1942) ông có vợ là Bà Dương thị Ngại (1885-1965). Nhị vị có một gái là bà Nguyễn Như Ý.

Ông Học Ecole Normale d’Instituteurs.

Năm 1926, ông Nguyễn văn Trò làm Giáo viên ở Sài gòn. Ông nhập môn vào Đạo Cao Đài. Sau đó ông rời Tây Ninh và theo phái Bến Tre. Ông có hiến đất nhà xây dựng nên Thánh Thất Tân-Hương (nay thuộc ban Chỉnh-Đạo). Khoảng 1940, Thánh Thất Tân-Hương bị thiêu huỷ, nhờ các vật dụng dỡ từ Thánh Thất Cầu Kho nên bổn Đạo tạm dựng lại được phần nào, đến nay đã ổn định khang trang .

            Ông Nguyễn văn Trò qui vị ngày 25-7-Kỷ Sửu (1949). Mộ phần ông đặt tại Thánh Thất Tân Hương, tỉnh Long An.

 

 

26 - Ông NGUYỄN-VĂN-HƯƠNG

Giáo viên Đa-Kao

 

.. . . . . . . . . .

>>>o0o<<<

 

 

 

 - 27 -  Ông  VÕ-VĂN-KINH

(1880-1946)

Giáo Tập Cần-giuộc

 

          Người làng Thanh Hà, xã Tân Kim, Cần Giuộc. Từ nhỏ, ông sống với mẹ là bà Lê Thị Liên. Ông lập gia đình với bà Lê thị Ngưu. Ông bà có bốn người con: người đầu mất sớm, kế đến là bà Võ thị Cúc (An), ông Võ văn Nhàn và bà Võ thị Thủ (Thạnh).

            Ông Võ văn Kỉnh dạy Quốc ngữ tại trường Qui Đức cho đến khi về hưu. Ông dạy thêm chữ Nho tại nhà. Trước lúc nhập môn vào Đạo Cao Đài (dl: 5-3-1926), ông Giáo Kỉnh có thời gian khoảng ba năm tu học với Hoà Thượng Nhứt Thiện  trên đỉnh núi Bà Đen.

            Sau khi nhập môn, ông Võ văn Kỉnh tích cực hành Đạo, được thọ phong Lễ Sanh ngày 17-5-Bính-Dần (1926), nhưng sau đó thì ông rời bỏ Toà Thánh và qua chi Phái Bến Tre, tức là Ban Chỉnh Đạo.

            Ông Võ văn Kỉnh qua đời vào ngày 15-12-Bính Tuất (1946), an táng tại đất nhà làng Thanh Hà. Khoảng năm 1980, gia đình đã bốc mộ lưu tro tại chùa Huê Nghiêm (An Dưỡng Địa) Phú Lâm.

 

 

<<<o0o>>>

 

 

- 28- PHẠM-VĂN-TỈ

(1887-1949)

Giáo-tập Cần giuộc

 

           

Theo Đạo-sử của Bà Hương Hiếu thì nguyên ông Phạm-văn-Tỷ là Giáo tập ở Quận Cần-giuộc. Ông được Ơn Trên thâu nhận vào Đạo ngày 20-3-1926 tại đàn Tân Kim, vì Ông thường đến hầu Đàn nơi Đàn Tân-kim (Quận Cần-Giuộc). Đàn này lập tại nhà Ông Nguyễn-văn-Lai (nguyên Hội-Viên Hội Đồng Quản Hạt).

Phò loan: Ông Ca-Minh Chương (Nguyên là Lão-sư Minh-Sư và ông Phạm văn Tươi.

Hầu đàn gồm có các ông Nguyễn-Ngọc Tương chủ Quận Cần-giuộc, Lê-văn-Lịch trụ trì chùa Vĩnh Nguyên, Phạm-văn-Tiếp, Phạm văn Tỷ, Phạm văn Nhơn, Võ-văn Kinh.

            Ông Phạm-văn-Tỷ được thọ phong phẩm Lễ-Sanh ngày 17 tháng 5 năm Bính-Dần (1926).

            Trong gia đình ông thứ sáu, người em ruột thứ chín là ông Phạm văn Tươi, cùng theo Đạo Cao-Đài, sau này là Hiến Đạo, một trong Thập Nhị Thời Quân của Toà Thánh Tây Ninh.

 

Tiếp theo >

Top of Page

      HOME