CHÚ GIẢI KINH THẾ ĐẠO
            注 解 世 道 經
THIÊN VÂN - Hiền Tài QUÁCH VĂN HÒA

CHƯƠNG THỨ MƯỜI BA

KINH TỤNG CHO THẦY QUI VỊ

I.-KINH VĂN:

             KINH TỤNG CHO THẦY QUI VỊ

                           Đường công danh càng nhìn quảng đại,

                           Nghĩa thầy trò nghĩ lại khó quên.

                              Vái cùng Sư Phụ linh thiêng,

                        Chứng lòng đệ tử đáp đền ơn xưa.

                           Dầu hoạn lộ chưa vừa sở nguyện,

                           Dầu cửa quyền trọng tiếng chăn dân.

                              Ơn cha sanh hóa ra thân,

                        Ơn thầy huấn giáo cũng gần như nhau.

                           Khoa võ môn dầu nhào qua khỏi,

                           Trương vi rồng học hỏi nơi ai.

                              Đẹp mình với vẻ cân đai,

                        Công thầy tô điểm từ ngày ấu xuân.

                           Cõi hư vô nay gần phước Thánh,

                           Xin châu toàn đường hạnh môn sinh.

                              Cõi Thiên xin gởi chút tình,

                        Rót chung ly hận gật mình đưa thương.

                                                            ĐOÀN THỊ ĐIỂM

 

II.-NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA:

 

            Bài Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị do Bà Đoàn Thị Điểm là một nữ sĩ Việt Nam, là một tác giả quyển dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc nổi danh và cũng là một vị Tiên Nương nơi Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho chúng sanh Đạo Cao Đài.

            Bài Kinh này dùng để đồng nhi tụng đọc trong nghi lễ học trò tế thầy đã qui vị.

            Được sinh ra làm con người nơi cõi thế gian này, ai cũng phải học, dù đó là học nghề nghiệp, học chữ nghĩa hay học đạo lý. Mạnh Tử nói rằng: Người ta tuy có đạo lý, nhưng cứ ăn no mặc ấm, ngồi rồi mà không dạy dỗ, thì gần như giống cầm thú: (Nhân chi hữu đạo dã, bão thực noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú , , , ). Thánh nhân đời trước lấy làm lo điều đó, nên xem việc giáo hóa là hàng đầu cho con người. Do vậy, Thầy dạy học được coi là người có ơn nghĩa rất lớn đối với học trò. Ơn nghĩa của thầy được Nho giáo xếp đứng vào hàng thứ nhì sau ơn của vua và trước ơn của cha mẹ (Quân, sư, phụ).

            Tại sao ơn của thầy được coi trọng như vậy? Bới vì, việc học của cổ nhân không phải như sự học của bao nhiêu người ngày nay vẫn hiểu. Cổ nhân học là cốt học đạo của Thánh hiền để hiểu nghĩa lý, biết phải trái mà sửa mình cho thành người có đức hạnh. Chính thầy Tử Lộ đã xác định điều đó: Người quân tử học để hiểu rõ cái đạo (Quân tử học dĩ trí kỳ đạo ), để biết cách cư xử cho phải phép, để có cái phẩm hạnh đạo đức hơn người thường.

            Ơn cha mẹ tạo ra hình hài xác thịt, ơn của thầy giáo hóa cho nên người và ơn ngọn rau tấc đất là ba cái công ơn rất sâu dày: Một đàng tạo cái hình chất, một đàng khai hóa tinh thần và một đàng có vật thực để nuôi dưỡng cho con người. Chính vì thế, Loan Cung Tử mới nói rằng: Người ta ở đời có ba người phải thờ kính như một là cha sinh, thầy dạy, vua nuôi; không có cha thì không có ai sinh, không có nuôi thì không có lớn được, không có dạy thì không thể nên được người vậy (Dân sinh ư tam sự chi như nhứt, phụ sanh chi, sư giáo chi, quân tự chi; phi phụ bất sanh, phi tự bất trưởng, phi giáo bất tri, sanh chi tộc dã , , , , , , , ).

            Xét thấy ơn của Thầy cũng như ơn vua và ơn sinh thành của cha mẹ rất cao trọng như vậy, nên Đấng Tiên Nương Đoàn Thị Điểm đã giáng cơ ban cho chúng sanh đạo Cao Đài bài Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị để dành những người học trò tế những vị thầy kính yêu hầu trả được phần nào ân sâu nghĩa nặng của sự giáo huấn cho nên người.

 

III.-CHÚ GIẢI:

 

Đường công danh càng nhìn quảng đại,

Nghĩa thầy trò nghĩ lại khó quên.

            Công danh : Có công nghiệp và có danh tiếng, tức là sự nghiệp tạo dựng được và tiếng tăm vinh hiển.

            Quảng đại : Rộng lớn.

Câu 1 và 2: Đường công danh càng nhìn lại càng thấy lớn lao rộng rãi. Bây giờ đây, nghĩ lại mới thấy tình nghĩa thầy trò thật là khó quên được.

            Con người sống ở đời, nhờ có cha mẹ sinh ra mình, lại phải nhờ có thầy dạy cho mình, thì mình mới khôn, mới biết việc này việc nọ, mới nên con người, cho nên làm người học trò đối xử với thầy cũng như con ở với cha mẹ, phải lấy lòng tôn sư trọng đạo, phải lấy sự quí mến, kính trọng đối với thầy. Đó cũng là mối luân thường của người Á Đông ta vậy.

            Cái công dạy dỗ, cái ân đức giáo hóa nhuần thấm của thầy, chúng ta không nên quên, mà lúc nào cũng phải nhìn lại thân mình được cao sang, sung sướng như ngày hôm nay là nhờ ai? Nếu “không thầy đố mầy làm nên” tục ngữ chẳng phải nói như vậy sao?

 

Vái cùng Sư Phụ linh thiêng,

Chứng lòng đệ tử đáp đền ơn xưa.

            Sư phụ : Thầy dạy chữ, thầy dạy học.

            Linh thiêng: Linh hiển và thiêng liêng.

            Đệ tử : Học trò.

Câu 3 và 4: Con xin nguyện vái cùng sư phụ, có linh thiêng chứng cho lòng của đệ tử thành tâm lạy thầy để đền đáp ơn xưa.

 

Dầu hoạn lộ chưa vừa sở nguyện,

Dầu cửa quyền trọng tiếng chăn dân.

            Hoạn lộ : Con đường làm quan.

            Sở nguyện : Cái điều mình đang mong ước.

            Cửa quyền: Tức là cửa quan, nơi tập trung quyền hành thế lực.

            Trọng tiếng: Cái danh tiếng được kính trọng.

            Chăn dân: Cai trị dân, tức là bảo vệ và giáo hóa dân chúng.

Câu 5: Dầu cho đường làm quan chưa được vừa với điều sở nguyện.

Câu 6: Dầu nơi của quan được uy quyền và kính trọng là người chăn dân.

 

Ơn cha sanh hóa ra thân,

Ơn thầy huấn giáo cũng gần như nhau.

            Sanh hóa : Sinh ra, nuôi dưỡng và giáo hóa.

            Huấn giáo : Dạy bảo.

Câu 7: Công ơn của người cha đào tạo ra mảnh thân và nuôi dưỡng cho đến lớn.

Câu 8: Cùng với công ơn của thầy đã giáo hóa nên người, hai công ơn ấy cũng gần như nhau.

            Trong xã hội hiện thời, thầy được xem như người truyền thụ kiến thức lại cho con em, do vậy tình thầy trò không thấy gì thấm thiết. Ơn thầy xem như ơn hướng dẫn kiến thức, chứ không như thầy học xưa có trách nhiệm khai tâm, khai hóa một con người.

            Theo quan niệm xưa, công ơn của cha mẹ đào tạo ra hình hài thể xác thì to lớn như trời biển, song đã có tấm thân mà không có thầy khai hóa thì con người chỉ như một khối thịt tùng theo vật dục mà hành động, không có tri giác, không hiểu lễ giáo. Vì vậy người xưa cho rằng công lao thầy đào tạo nên người bằng công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, nên lập thành cái đạo: Đạo thầy trò, và xếp trước đạo cha con, sau đạo vua tôi, ấy là đạo: Quân, sư, phụ.

            Đời Tống một triết gia Trung Quốc là Chu Đôn Di mới lập Sư đạo (Đạo của thầy trò), ông cho rằng: Cái đạo của Thánh nhân rất quí, nhưng phải có thầy dạy mới biết được. Ông đặt vấn đề: Làm sao khiến cho thiên hạ đều thiện cả? Rằng phải có thầy dạy, tức là kẻ tiên giác dạy kẻ hậu giác, kẻ mờ tối học kẻ sáng suốt, như thế thì đạo thầy được thành lập vậy.

            Theo ông, người ta sợ nhứt là không có ai bảo mình biết điều lỗi, và sợ không biết thẹn “Nhân chi sinh, bất hạnh bất văn quá, đại bất hạnh vô sỉ , , ” (Người ta sinh ra, cái không may là không được nghe điều lỗi của mình, cái không may lớn hơn cả là vô sỉ). Vậy nên phải có sỉ thì thầy mới dạy được, và có nghe điều lỗi lầm của mình thì mới tiến được.

            Chính vì người xưa xem đạo thầy trò cao trọng như vậy, nên khi Khổng Tử mất, các môn đồ của Ngài phải để tâm tang ba năm (Bằng tang cha mẹ), mãn tang họ họp nhau lần cuối cùng ở trước mộ để khóc Ngài, rồi mới chia tay nhau mỗi người đi mỗi nơi. Riêng Tử Cống còn ở lại trong một căn nhà lá để giữ mộ cho thầy thêm ba năm nữa.

            Tiên Nương Đoàn Thị Điểm, trong tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận cũng cho rằng ơn nghĩa của thầy dạy học cũng sánh bằng với công sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Bà viết:

                           Con nhờ thầy công danh mới toại,

                           Như nhờ cha mới giỏi hình dung.

                              Hai ơn ấy gẫm so đồng,

                     Nghĩa kia như hiếu, mặn nồng cả hai.

 

Khoa võ môn dầu nhào qua khỏi,

Trương vi rồng học hỏi nơi ai.

            Võ môn: Hay vũ môn Một cái cửa núi ở thượng du sông Trường giang nước Trung Hoa, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, chân núi có cái vực rất sâu, tương truyền đến mùa thu nước lớn thì cá đua nhau tới đó nhảy thi với nhau, con nào vượt qua vũ môn thì hóa ra rồng. Sách Tàu có câu: “Vũ môn tam cấp lãng ”, nghĩa là Cửa Vũ có ba bực sóng, dùng để chỉ việc thi cử, tuyển lựa người tài giỏi.

            Nước Việt Nam huyện Hương Khê tỉnh Hà Tỉnh và Nghệ An, trên chót núi cũng có một cái hồ ba bực, không khác gì nơi sông Trường giang.

            Trương vi rồng: Tức giương cái kỳ của con rồng. Cá vượt qua được Vũ môn biến thành rồng, giương kỳ vi thấy oai nghi lẫm liệt, tỷ như sĩ tử thi đậu quan cao, áo mão, dù lộng vua ban làm tăng phần vinh hiển.

Câu 9 và 10: Được thành công trên đường khoa cử, công danh hiển đạt với đời vậy học hỏi nơi ai?

 

Đẹp mình với vẻ cân đai,

Công thầy tô điểm từ ngày ấu xuân.

            Cân đai: Cái khăn bịt đầu và sợi dây đai vòng ngang bụng của các vị quan thời xưa. Cân đai chỉ áo mão, phẩm phục của các quan trong triều đình.

            Tô điểm: Chấm vẽ từng nét cho đẹp đẽ thêm.

            Ấu xuân : Tuổi còn niên thiếu, tuổi còn nhỏ.

tấm bé cho đến khi thành danh, ơn ấy không biết ngần nào mà kể. Sau này học trò càng rạng rỡ cân đai áo mão

Câu 11 và 12: Áo mão cân đai làm cho thân người đẹp đẽ chính là nhờ cong ơn của thầy dạy dỗ từ thời ấu thơ.

            Công thầy dạy dỗ bao nhiêu thì công ơn của thầy sâu nặng bấy nhiêu. Thế mà có nhiều người không suy xét điều đó, khi nên danh phận, họ quên mất nguồn ơn là nhờ thầy dìu dắt mới có ngày nay.

            Chính vì thế mà bộ Lã thị Xuân Thu có nêu danh để khen tặng các vị Thánh, Hiền tôn sư trọng Đạo. Sách viết: “Thập Thánh, lục Hiền, tôn sư bất đãi , ”. Nghĩa là mười bực Thánh, sáu bực hiền trọng thầy không bao giờ khinh trễ. Cũng theo sách đó, các vị : Vua Thần Nông, vua Huỳnh Đế, vua Chuyên Húc, vua Đế Khốc, vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ, vua Thang, vua Võ vương và Châu Công Đán là mười bậc Thánh; Tề Hoàn Công, Tấn văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Công, Ngô Hạp Lư, Việt vương Câu Tiển là sáu bực hiền. Các vị này là bậc vua chúa, cao sang, chưa có vị nào chẳng tôn sư trọng đạo bao giờ.

 

Cõi hư vô nay gần phước Thánh,

Xin châu toàn đường hạnh môn sinh.

            Cõi Hư vô: Hay Hư vô cảnh : Một cõi giới trống không vắng lặng, bao quát vô cùng tận, thường còn và không biến đổi. Cõi không thực thể, nhưng là điều kiện căn bản sinh ra mọi pháp.

            Châu toàn : Làm một cách trọn vẹn, chu đáo, không có sơ sót.

            Phước Thánh : Phước đức của bực Thánh.

            Đường hạnh: Con đường của đạo hạnh.

            Môn sinh : Học trò.

Câu 13: Ngày nay thầy được về cõi Hư vô gần với chư Thánh mà hưởng phước đức.

Câu 14: Xin ra ơn dìu dắt các con theo đường đạo hạnh cho tròn vẹn con người.

 

Cõi Thiên xin gởi chút tình,

Rót chung ly hận gật mình đưa thương.

            Cõi thiên: Cõi Trời, tức cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

            Ly hận : Xa cách một cách thống hận

            Chung ly hận: Chung rượu ly biệt thương yêu một cách thống thiết.

            Gật mình: Cúi mình lạy.

            Đưa thương: Đưa tiễn đi với tấm lòng thương nhớ.

Câu 15: Con xin gửi chút tình của người môn đệ đến cõi Thiêng Liêng.

Câu 16: Xin rót chung rượu thương tiếc kính lạy thầy một lần cuối với tấm lòng nhớ thương.

            Ân nghĩa và tình cảm đối với người đã khuất được Nho giáo thể hiện những nỗi niềm bi thống bằng cách chế định các hạng tang phục. Song chế độ tang phục chỉ định cho những người vốn có quan hệ thân thuộc, còn giữa thầy trò, hoàn toàn không có bất kỳ quan hệ thân thuộc nào, thế nhưng tấm lòng thương yêu dạy dỗ của người thầy đối với học trò thì vô cùng sâu nặng. Nhứt là đối với người xưa, thầy và trò đã từng sống chung lâu ngày (như Khổng Tử và các học trò) tình cảm càng thắm thiết sâu đậm.

            Chuyện kể lại, khi Khổng Tử qua đời, để tỏ lòng tưởng nhớ công ơn dạy dỗ chăm sóc của thầy, các học trò của Khổng Tử đều muốn biểu lộ lòng thương tiếc một cách cụ thể. Thế nhưng chế độ tang lễ lại không có qui định học trò nên biểu thị thế nào với thầy dạy học.

            Trong buổi tang lễ cho thầy, Tử Cống đã đưa ra một ý kiến rất hay: Lúc trước khi Nhan Hồi mất, thái độ bày tỏ lòng thương tiếc của thầy đối với Nhan Uyên giống như là nỗi khổ mất đi một đứa con ruột thịt của mình, nhưng thầy không mặc bất kỳ loại tang phục nào; sau nầy Tử Lộ mất cũng như vậy. Ngày nay thầy đã mất đi, chúng ta học trò cũng phải có một thái độ báo đáp tương ứng. Chúng ta mất thầy, ai điếu cho thầy cũng phải có nỗi đau khổ như đã mất đi chính người cha thân yêu của mình vậy, mà không phải mặc bất kỳ loại tang phục nào.

            Nguyên văn trong Đàn Cung Thượng: “Khổng Tử chi tang, môn nhân nghi sở phục. Tử Cống viết: Tích giả Phu tử chi tang Nhan Uyên, nhược tang tử nhi vô phục; tang Tử Lộ diệc nhiên. Thỉnh tang Phu tử, nhược tang phụ nhi vô phục , . : , ; . , ”.

Tiếp theo >

Top of Page

      HOME