
|
|
Bần đạo muốn giảng điều siêu việt về tinh thần đạo đức, hầu tóm cả
chơn lý của các tư tưởng đối cùng Đức Chí Tôn, nhưng e cho sự cao siêu
mầu nhiệm ấy nó sẽ quá sức cho sự đoán xét của thính giả mà biến
thành ra tuồng mộng ảo, nên quyết lấy cái thiết thực hiển nhiên của
Đạo đối cùng Đời đương giữa cơn tinh thần phát triển, sưu tầm một mối
tư tưởng phù hạp với trình độ trí thức nhơn sanh, đương nhiên hầu giúp
hay cho bực cố tâm tầm Đạo.
Những cơ quan và những hành vi hiện tượng của các tôn giáo đương
nhiên ngày nay như dường biến thành cổ vật, nên đã mất cái hay để
giúp đời tự trí, tự giác, tâm hồn thiếu ơn an ủi, tư tưởng mất phép
chuẩn thằng, trí thức không phù hạp hành động, biểu sao đời không
trở nên một trường náo nhiệt rắc rối khó khăn, rồi giục cho cả nhơn
sanh dong ruổi trên con đường duy vật mà quên hẳn cái quyền vi chủ
của trí thức tinh thần.
Ôi ! Thử nghĩ cái ngày nào trí thức tinh thần đã tiều tụy thì cái
lương tri lương năng cũng do đấy mà tiêu tàn thì con người đứng giữa
cõi trần hoàn nầy phải trở nên bao nả ?
Chúng ta duy buộc phải trả lời rằng : Luật thiên nhiên tự bảo nó sẽ
buộc mỗi cá nhân chuyên chú về sự sống. Hại thay, cái sống ấy do
nơi phép duy vật mà lưu tồn thì con người chỉ sống hèn như con vật mà
thôi.
Bần đạo chẳng cần luận thuyết chi sự phân biệt xa cách nhau như trời
với vực giữa vật chất và tinh thần, thì như thính giả cũng dư hiểu :
Hễ vật chất hữu bổn nguyên, hữu định thể; còn tinh thần thì tự chủ
tự do.
Ấy vậy, vật chất có giới hạn, chớ tinh thần vốn không giới hạn.
Chúng ta lại thầm hiểu rằng : mỗi điều chi hữu bổn hữu nguyên hữu
định thể thì cái sự lớn nhỏ của nó, dầu hình dầu bóng tùy theo mặt
luật pháp định hành tàng. Hễ có bổn nguyên ắt có xứ sở cội nguồn,
có định thể ắt có khuôn viên sắc tướng.
Nói tóm tắt, hễ vật thì có chủ. Ấy vậy, do quyền có chủ ấy nó
giục thành một trường tranh đấu đua chen mà làm cho mặt thế biến
thành chốn chiến trường náo nhiệt.
Sống của con vật là phải ăn mà sống, phải mặc mà sống, phải ở mà
sống, sống một khuôn luật với sắt đá cỏ cây, côn trùng, điểu thú.
Nhơn loại đã nghịch lẫn nhau, tàn hại lẫn nhau, giết bỏ lẫn nhau, cũng
do bởi chạy theo cái sống của con đường duy vật.
Trái lại, cái sống của tinh thần là sống tự chủ, tự quyền, thì cái
sống ấy không nguồn không cội, không luật, không hình, không bờ
không cõi, sống theo gió theo mưa, theo Trời theo Đất, sống với càn
khôn vũ trụ, sống với nhựt nguyệt tinh quang theo một khuôn luật với
cái sống vô ảnh vô hình của các tư tưởng bậc Thánh hiền từ thượng
cổ.
Cái sống của con vật thì chỉ có hai bữa ăn mà sống, còn cái sống
của tinh thần vốn vô độ lượng. Cái sống của vật chất ở tại bụng,
cái sống của tinh thần ở tại óc. Bụng với óc vẫn khác nhau thì hai
cái sống ấy cũng khác nhau đặc biệt.
Cái vấn đề tương tranh của hai cái sống ấy, dầu cho trình độ trí thức
nhơn sanh đặng cao siêu tăng tiến dường nào cũng chưa xử trí và giải
quyết thế nào cho đích xác. Dường
như chúng ta phải biết hẳn rằng : Hễ bụng no thì óc rỗng, óc cứng
thì bụng mềm. Cuộc tương tranh nầy chưa có một ông tòa nào nghị án
nổi.
Ấy vậy, cái thuyết duy vật và thuyết tinh thần tự chủ đến chừ chưa
có một tôn giáo nào cầm đủ quyền hành dung hợp.
Có tôn giáo thiên về mặt vô vi, phế vong hình thể, tức nhiên là
đảng phái của tinh thần; lại cũng có thể nhiều tôn giáo khác bị xu
hướng hữu hình, còn vô vi thì vong phế, là tức nhiên làm môn đệ của
thuyết duy vật đã đành. Hai đảng phái ấy đương đấu đương tranh, đặng
bia vào miệng thế tình những nẻo tà nẻo chánh. Cũng vì do nơi vật
chất với tinh thần đã gây lắm điều quyền biến; một đàng là tôn chỉ
luật điều tùng khuôn viên duy vật; một đàng thì cậy huyền diệu nhiệm
mầu do tinh thần vi chủ.
Những nhơn sanh tùng hai lý thuyết ấy vốn phản khắc xa nhau dường như
sao Khuê sao Dược.
Hỏi, đã có nảy sanh ra một Giáo Chủ nào đủ đức tánh, đủ quyền năng,
đủ phép mầu, đủ trí huệ làm cho hai đảng phái ấy dung hòa, mới mong
mỏi đại đồng thế giới hay chăng ?
Nếu chúng ta để cho tịnh tâm tịnh trí đặng tầm chơn lý của hai lẽ ấy
cho hẳn hòi, thì chúng ta dám cả tiếng phô rằng : Sự xung đột của hai
tư tưởng ấy thật ra chưa đích đáng, chẳng qua là một trường tranh luận
tình cờ của các tiên nhơn lưu hậu.
Dưới ngọn đuốc văn minh chiếu diệu soi huệ trí sáng ngời giữa thế kỷ
20 nầy, chúng ta đã thấy quả quyết sự tương hiệp thân thiết của cơ
quan hình thể với tinh thần, thì chúng ta lấy làm ngạc nhiên cho sự
quái dị cái nỗi phân chia của thuyết tinh thần đối cùng hình thể.
Chúng ta lại còn để tâm nghiên cứu nguyên do của hình vật tương phân
bởi đâu mà sản xuất thì chúng ta lại thấy đặng bởi tư tưởng của Nho
giáo và Đạo giáo mà nảy sanh, chẳng phải do nơi miệng của Đức Khổng
Tử hay Đức Lão Tử mà ra, mà lại do bởi những thuyết của các môn đồ
của đôi nhà luận bác.
Chưa có một quyền hành nào mà chia rẽ trí tuệ riêng ra hình vóc của
con người, thì chưa có một quyền năng cả gan dám phân chia hình vật.
Bởi vậy, tinh thần và hình thể vốn là hai bộ phận cần yếu trọng hệ
của kiếp con người. Nếu chiếu theo phép thiên nhiên thì đôi bên đồng
một bổn, hễ có xác không có trí thì điên, hễ có trí không thân thì
dị.
Đời là hình duy vật, Đạo
là bóng của trí thức tinh thần. Vậy thì phép Đời, Đạo vốn đồng, cơ
tạo thế phải có công Đời cùng nghiệp Đạo.
Đạo Cao Đài là một tôn giáo do do lương tâm vi bổn, lấy cả triết lý
của toàn cầu làm căn, hầu làm trung gian cho các tư tưởng hiệp đồng
đặng dìu dắt nhơn sanh hồi thiện.
Ngoài ra pháp luật định quyền luật của thiên lương thì để cho mỗi cá
nhân đặng tự do tư tưởng.
Chẳng cần luận giải, chư thính giả cũng đủ biết rằng : cái tư tưởng
vốn vô cùng, chiều theo thời thế của Đời đặng nâng đỡ trí thức của
nhơn sanh tạo thời cải thế. Nếu hiểu rằng nghĩa lý của Đạo là đường
duy nhứt của tâm lý nhơn sanh, ắt phải nhìn nhận rằng : phải để cho
tinh thần đặng tự do tín ngưỡng, miễn là làm thế nào cho Đạo thuận
cùng Đời, Đời không nghịch Đạo, mới gọi là lý thuyết cao siêu làm
cho thái bình tâm lý.
Thái bình tâm lý đặng mới làm cho thái bình thiên hạ đặng, thái bình
thiên hạ đặng mới làm cho đại đồng thế giới đặng.
Giữa buổi toàn cầu đương xôn xao chen lấn trong bước tấn bộ văn minh,
loạn hàng thất thứ, tùy theo tài lực của mỗi nước trong vạn quốc có
văn hóa, có dã man, có tài hay, có tục dở, phẩm giá vốn không đồng,
nếu lấy giá trị hữu hình của nước đặng định phân thì ắt khó mong
làm cho cả nhơn sanh hiệp chủng.
Tài lợi không đồng, phương diện không đồng, xã tắc không đồng, tức
nhiên buộc chánh trị cũng không đồng, cái chánh sách hiệp quốc hiệp
quần chưa đủ kế hay mà vĩnh thủ.
Xin nói hẳn rằng, nếu giá trị hữu hình của vạn quốc toàn cầu đặng
định nặng nhẹ thấp cao thì là phép giục thêm hại, so hơn tính thiệt.
Tưởng khi đều cho nhà chánh trị đại tài nào bôn xu trên con đường vật
chất, mong mỏi cho thiên hạ hòa bình thì tỉ chẳng khác đem cung trăng
thay mặt đất, chẳng qua lập phương lừa dối lẫn nhau, mượn chước khéo
đặng tranh quyền giữ thế.
Ngày nào cả nhơn sanh biết rằng cả con người chẳng phải sanh ra để vụ
tất lấy cái sống theo con vật gọi là phúc hạnh khéo khôn, trái lại
phải coi mạng sanh là báu trọng, biết kính nể nhau, biết thương yêu
nhau, biết binh vực nhau, biết nuôi nhau, lại lấy phận sự cao thượng
ấy đặng làm cái Đạo của người thì ngày ấy là ngày của toàn nhơn
sanh đều hạnh phúc.
Tưởng lại,
tương lai của Đạo Cao Đài do nơi cái sở hành và cái tư tưởng cao
thượng của nó, ngày nay nó có thể hứa với nhơn sanh rằng :
Chúng ta sẽ hưởng điều hạnh phúc ấy./.
Công thợ đang ngồi nghỉ mệt nói chuyện, chợt thấy Đức Hộ Pháp đi vừa
đến, cả thảy anh em thợ sợ hãi vội lo kiếm việc làm, kẻ trộn hồ,
người rinh đá, ...
Đức Ngài bảo mấy em nghỉ, cả thảy lại đây.
Mấy em làm có mệt thì nghỉ, đừng có trốn lánh nặng tìm nhẹ thì công
quả không đầy đủ, đừng có tựu lại Sở, ghi tên rồi đi chơi, chờ đến
giờ chạy về làm bộ siêng năng đặng Cai Sở ghi công. Đó là mấy em
tưởng làm đây rồi trả nợ cho qua buổi.
Thường công việc làm ở ngoài Đời, họ buộc từ giờ từ khắc, là vì
mấy em làm ăn tiền, nên cái tật lánh né đã quen. Nơi cửa Đạo,
trường công quả không buộc, không ép, hễ ai muốn lập công để tạo
quả vị thì làm, rất có nhiều phương lập công, từ bực thấp hèn dốt
nát đến hạng trí thức thượng lưu, đều tùy sức và tài năng của mỗi
người, nam nữ cũng vậy.
Người giỏi có văn tài thì làm việc công văn ngồi bureau, cùng là đi
Đầu Họ, Đầu Quận để hành đạo, đúng chơn truyền luật pháp không sửa
cải, họ phổ độ nhơn sanh lập đức chiếm đại công quả. Điều nầy rất
khó, vì mang một Thánh thể vào mình để dìu dẫn con cái Đức Chí Tôn,
nếu ai đầy đủ Tam Lập, được đem đại công về trình với Đức Chí
Tôn; còn nếu làm không trọn vẹn thì công quả đã mất mà còn thiếu
nợ nhơn sanh nữa mà chớ !
Còn ngồi bureau làm công văn, mà cứ lo xem sách, truyện, đọc báo, mà
chờ giờ ghi công trả nợ, đến khi khai công nghiệp kể cho nhiều năm
để thăng phẩm Chức sắc về hữu hình thì dễ, còn về quyền năng thiêng
liêng thì dễ gì qua được, giỏi lắm là trừ hột cơm của nhơn sanh,
chưa đủ nữa là khác !
Sự lập công quả nơi cửa Đạo, dầu việc nhỏ việc lớn, đều là đắc vị
được, do tâm đức để tạo thiện đức, thiện công, thiện ngôn,
trong ba mà thiếu một là chưa chiếm được, dầu cho công phu đào luyện
lên bực Đạo Nhơn đi nữa, một lời nói chơi, nếu có hại cho người cũng
đủ tái kiếp trả quả, chớ đừng nói đến sự ghét giận người, gây oán
trách hờn, không trọn tình thương thì không dễ gì đoạt được Tam Lập.
Còn mấy em đây là hạng dốt nát thì cứ vâng lời Hội Thánh, sự mệt
nhọc mồ hôi tầm tã mà không thối chí ngã lòng, ăn cháo rau, rách
rưới, ngày nào cũng vẫn như ngày nấy, dầu vậy mà mấy em có phước
về đây hiệp cùng Qua lo tạo tác Đền Thánh.
Trước kia đã 3 năm khởi tạo đều ngưng trệ bỏ dở vì không tạo được
tâm đức nên Hội Thánh giao cho Bần đạo lãnh làm. Bần đạo tạo tâm
đức cho mấy em.
Nếu ai muốn làm công quả, phải trọn hiến thân, chỉ có người Phước
Thiện về đây, đứa thì lãnh Đốc Công, Cai Sở, thợ hồ, công thợ,
nam thì tu chơn, nữ thì thủ trinh tình nguyện cho đến khi tạo Đền
Thánh xong. Chỉ có tâm đức đó, thầy trò mình mới dám lãnh, đứng ra
làm.
Vậy, các em ráng bền chí lo công quả tạo tâm đức, lập âm chất, thì
Đức Chí Tôn ban cho mỗi đứa được hưởng cái vinh diệu vô cùng, ai muốn
hưởng tại thế thì hưởng, còn không thì hưởng phần thiêng liêng cao
trọng và tồn tại.
Hồi mấy thế kỷ trước, nơi Đế Thiên Đế Thích, người cũng tạo bằng
cây gạch ngói vôi cát, Chí Tôn cũng cho đắc vị hết.
Bên nữ thì ham làm vì sợ thua bên nam, nên ráng làm cho rồi, còn bên
nam thì ỷ giỏi không cần làm, thả trôi, đến ngày Chí Tôn cho thành
thì bên nữ đắc vị về thiêng liêng nhiều hơn, còn bên nam thì ít.
Ngộ nghĩnh thay, lúc thành đạo, tòa Đế Thiên trở thành đá hết, đến
đỗi xung quanh và người đang bào đục, nấu cơm, . . . nói rõ là cả
thảy người nơi đó đều thành đá, bia tạc lưu truyền thiên niên chi cổ
cho đến ngày nay vẫn tồn tại, danh tiếng khắp cả hoàn cầu, mặc dầu
xác họ là đá, nhưng linh hồn họ đạt Phật vị cả.
Đền Thánh Đạo Cao Đài hiện tại ở Việt Nam ngày nay là nơi Đức Chí
Tôn ngự, tượng trưng Bạch Ngọc Kinh tại thế, bây giờ nó là gạch
ngói, xi măng, cát vôi, cho đến buổi thành thì là một khối đá vĩnh
cửu trường tồn cũng như tòa Đế Thiên đó vậy, nó sẽ mỹ lệ hơn nữa.
Rồi đây, mấy em muốn đến xem phong cảnh tòa Đế Thiên, Bần đạo sẽ cho
đến xem thì sẽ thấy quyền năng thiêng liêng vô đối. Vậy mấy em
cứ lo làm, đừng tưởng làm đây rồi không có hưởng gì, nếu mấy em đặt
trọn đức tin nơi Chí Tôn thì sẽ hưởng hồng ân vô đối của Ngài ban cho
không gì bằng.
Khi làm Đền Thánh xong, Bần đạo còn chọn một chỗ cất Nhà Tịnh thì
mấy em cũng ráng làm nữa.
Ông Huỳnh Thiện Chơn : -
Bạch Đức Ngài, nếu cất Nhà Tịnh, mấy con cũng cứ lo làm công quả,
làm sao tịnh được và cấp bực nào mới xin vào tịnh ?
Đức Ngài nói : -
Bần đạo lập là chung cho cả nhơn loại, hạng nào cũng được, không
phân biệt Chức sắc hay tín đồ, hoặc các Chi phái xin trở về, cùng là
các đạo giáo khác, nếu muốn thì vào cũng được nhưng phải có Quyền
Vạn linh công nhận (đó là phần Chi phái và ngoại giáo).
-
Bạch Đức Ngài, rồi đây người nào cũng xin vào tịnh, rồi ai lo phổ độ,
ai làm công quả, chỉ có mấy người không phận sự họ mới xin vào tịnh.
“
Đức Ngài day lại nói với Sĩ Tải Hiển, Luật Sự Trấn ở bên cạnh đang
ghi chép :
- Hiển với Trấn hay tò mò
lục lạo, các nước ngoài người ta giỏi lắm, chế ra nhiều thứ chữ
viết tắt lẹ lắm, mỗi khi hội đàm cùng giảng thuyết, họ đều ghi chú
lại hết, còn mình đây dốt, chưa phát minh, có khi hội đàm cùng đi ra
ngoài đời, có nhiều cái hay mà mình không chép lại được để học hỏi.
Mấy đứa bây ráng chế làm sao, làm dấu như thế nào để ghi lại cái
hay mà người ta nói giữa đông người.”
Đức Ngài nói tiếp : -
Chơn, bộ em ham tịnh lắm sao ? Đâu có phải những người làm biếng
mà vào tịnh được. Trước khi vào tịnh thì phải có đủ Tam Lập là :
Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn. Nơi cửa Đạo đặt ra việc chi đều là
hữu ích cả, mượn Thể Pháp tượng trưng mới đoạt Bí Pháp. Trước kia Bần
đạo lập Phạm Môn xuất hiện tại Tòa Thánh tượng trưng Cửa Phật độ
sanh hồn, tức nhiên gọi Phật; Minh Thiện Đàn mở tại Khổ Hiền Trang,
Bần đạo khai Thể Pháp tại đó, gọi là Pháp, Phước Thiện ngày nay đã
ra thiệt hiện, tức nhiên ra mặt xã hội, gọi là Tăng, thì nó sẽ bành
trướng vận chuyển lưu hành cùng khắp xã hội nhơn quần, nghĩa là phải
phụng sự cho toàn thể chúng sanh, tế khổ phò nguy, đi Đầu Họ Đầu
Quận làm hậu thuẫn cho Hội Thánh Cửu Trùng Đài, lo cơ tận độ, chỉ
có công phổ độ mới giải quả tiền khiên. Ai không có xuất thân
hành đạo, nghĩa là không có công phổ độ thì không vào tịnh được, vì
không đủ Tam Lập.
Trước khi xin vào, phải nạp tất cả giấy tờ hành đạo, lai lịch từ
thuở nhỏ đến trưởng thành, ở ngoài Đời không án tiết, trong cửa Đạo
cũng vậy, trọn tùng luật pháp Đạo và trường trai mới được, rồi giao
cho Pháp Chánh minh tra về Thể Pháp đủ bằng chứng.
Chi Pháp phải giữ hồ sơ của mỗi người, còn nhiều điều trọng yếu về
vô vi, không thế gì Chi Pháp biết đặng, chiếu văn kiện thì đầy đủ
lắm vậy, Chi Pháp chỉ biết văn bằng hiện hữu về mặt hữu hình mà
thôi. Khi minh tra đủ lẽ, rồi mới giao cho
Hộ Pháp cân thần,
nếu vị nào đủ Tam Lập thì vào tịnh được, bằng thiếu thì trở lại đi
Đầu Họ, Đầu Quận, đi hành đạo nữa. Nói rõ là phải có Hộ Pháp trục
thần khai khiếu mới biết đặng đủ hay thiếu Tam Lập, còn không thì
ngồi tịnh, bụng lớn vô ích.
Ông Bàng : -
Bạch thầy, như thế mấy con đây làm công quả, không đi Đầu Họ Đầu
Quận làm sao vô tịnh được, vì không đủ Tam Lập ?
Đức Ngài nói : -
Riêng về phần mấy em, cứ lo tạo Đền Thánh, rồi đây Bần đạo định cho,
phần thiêng liêng thì Chí Tôn đã hứa, còn về hữu hình, nếu muốn
làm quan Đạo thì Bần đạo ban cho phẩm Giáo Thiện, nam nữ cũng vậy.
Ông Trình bạch : -
Những hạng văn hay chữ giỏi tài đức, người ta mới giúp nhơn quần xã
hội đúng theo lời thầy dạy là phải giúp nhơn loại khắp cả hoàn cầu
đặng Lập Đức, còn Lập Công, muốn đền ơn cha mẹ và xã hội vì công
sanh thành và xã hội nuôi hột cơm và manh quần tấm áo, nhờ đó mà ta
sống, tức nhiên đụng ai trả nấy, nghĩa là trả cho toàn thể nhơn quần
xã hội trên mặt địa cầu mới đúng thuyết Lập Công. Còn Lập Ngôn thì
tìm hiểu chép Thánh Ngôn lời lành lời phải để lại cho nhơn sanh học
hỏi cái Đạo ngôn ngữ mà bắt chước, mấy con dốt có thế nào làm
được ?
Đức Ngài nói : -
Phương pháp Tam Lập, nói rõ là chỉ đem trọn mảnh thân nầy làm tế vật
cho Chí Tôn đặng phụng sự nhơn loại, nếu giải rõ thì rất nhiều chi
tiết, để có dịp Bần đạo sẽ thuyết minh hoặc viết sách in ra cho học
hỏi.
Bây giờ mấy em làm công quả, nó cũng ở trong thuyết Tam Lập, lại
nữa cái công tạo tác Đền Thánh là đền thờ chung của toàn nhơn loại
sùng kính, như thế cũng đáng lắm rồi.
Mặc dầu không đủ Tam Lập, mà mình làm điều gì mà toàn thể nhơn loại
hằng ca tụng, nhắc nhở và ghi ân, lưu danh hậu thế, cũng là một việc
khó làm, nó cũng sánh với công phổ độ vậy.
Nếu xét lại, em nào còn thiếu Thiện Công, Thiện Ngôn, sau nầy phải
xuất sư, cũng làm thầy tạo nghiệp đạo, rồi ngoài kia hễ Chức sắc
xuất dương ngoại quốc, các em cũng xuất sư tạo nghiệp ở các nước,
nên ráng lập công, học cho thông mọi việc theo nghề nghiệp mình.
Bần đạo khuyên các em ở cùng nhau một sở, phải coi nhau như ruột thịt
vậy, trên thương dưới, dưới không nghịch trên, dùng ngôn ngữ từ hòa
đối đãi với nhau để đoạt đạo ngôn ngữ, nam nữ cũng vậy.
Thợ hồ : -
Bạch thầy, mấy con về đây làm công quả, đã hiến thân trọn đời vào
Phước Thiện, hằng ngày cực khổ, ăn cháo rau, áo quần tiền bạc thiếu
kém mọi mặt mà không Thiện Công, Thiện Ngôn. Bạch thầy, kiếp sanh
làm người ở thế mong được cái Đức là hạnh phúc mà có người làm
chưa được, bây giờ thầy dạy phải Thiện Đức thì làm sao cho đặng
?
Đức Hộ Pháp nói : -
Bần đạo hỏi mấy em về làm công quả tự mình đi hay là có ai biểu ? -
Mấy con là người hiến thân Phước Thiện thì trọn quyền của Hội Thánh
sai khiến, khi nghe Châu Tri mộ công quả, mấy con mới vâng lịnh ông
Đầu Họ biểu về đây.
Đức Ngài nói : -
Đó là lập công lập vị hay là chuộc quả, đứng vào hàng “Giáo nhi
hậu thiện” là nghe lịnh mà theo. Nếu các em nào tâm đức minh mẫn,
được “Bất giáo nhi thiện” là thiện công thiện ngôn đó vậy.
Hạng nầy gọi là phi thường, khỏi vào Nhà Tịnh họ cũng đoạt pháp
được là vì họ sẵn là nguyên nhân, họ hiểu biết mà làm, họ tự tạo
âm chất, thật hành điều nghĩa điều thiện, là Thể pháp, tức nhiên có
thể đoạt Bí pháp, có điều thiếu một việc, muốn đắc pháp phải có
chơn sư khai khiếu mới trọn vẹn được, đó mới gọi là “Thượng phẩm
chi nhơn”; còn mấy em đây là “Trung phẩm chi nhơn, giáo nhi hậu
thiện”, mấy em tạo thiện đức được là là biết nghe lời Hội Thánh.
Người ta có tài thì làm việc hay, còn mình dở thì làm việc thường.
Bần đạo tỉ dụ một việc thường để mấy em dễ hiểu : Phận mình dốt thì
làm theo dốt. Muốn tạo thiện đức, thiện công, thiện ngôn là làm như
vầy :
Mình nghe đâu có cất chùa thì mình tự tính đi đến xin làm công quả;
nghe đâu có ai bị tai nạn khốn khổ thì trong đêm ấy, nằm tính và thương
xót, nghe chỗ đó bị tai nạn, mình định sáng ngày rủ anh em hay tự mình
đi, dầu sáng nầy tằm chín hoặc có một mối lợi gì đó cũng bỏ, đi đến
trợ giúp việc tai nạn, đó là thiện đức, nghĩa là khi mình tính.
Khi đến nói như vầy : Thưa anh, tôi nghe anh bị tai nạn, tôi đến để xin
phép giúp anh một ngày, hoặc là vác một cái cây, hoặc là giúp một
đồng bạc, vậy xin anh vui lòng cho tôi giúp với một nghĩa mọn.
Khi mình nói là thiện ngôn, khi mình làm là thiện công. Chớ không
phải ỷ có của rồi nói sỗ sàng : đây tôi cho anh một đồng bạc mua
gạo ăn đỡ đói. Như vậy là chưa thiện ngôn.
Mấy em đừng có phân bì việc lập công với Đạo, bực Chức sắc mà
không làm được, còn mình là tín đồ thì làm gì !
Mấy em phải hiểu rằng cái tâm đức từ thiện ở cửa Đạo không phân
biệt lớn hay nhỏ, dầu nhỏ lớn đều làm được. Hễ ai có nguyên căn thì
làm được.
Cam La sớm gặp
cũng vinh,
Muộn thời Khương Tử
cũng vinh một đời.
Mấy em đừng lầm tưởng rằng phải vào Tịnh Thất mới đoạt pháp đặng.
Mấy em làm công quả hằng ngày là tô điểm nuôi nấng Thể pháp. Khi
mấy em đắc pháp mà mấy em chưa biết đặng, cái Thể pháp ở trong trong
thuyết Tam Lập mình tự đào tạo nó hay là lo làm âm chất và làm điều
thiện, tự giác nơi lòng mình, thì cái Chơn pháp ấy vẫn từ từ sẽ có
và tồn tại. Đó mới gọi là Chơn pháp, chớ chẳng chờ ai ban cho mình
Chơn pháp.
Nếu tâm thiện mình không có, dầu thọ pháp hay là tịnh luyện rồi nó
cũng mất. Bởi lẽ ấy mà Bần đạo truyền Thể pháp lẫn có Bí pháp cho
Chức sắc giải oan, tắm Thánh, hôn phối và phép xác. Chỉ có Giáo Sư
Minh vừa khá rồi cũng bị lấy lại, còn bao nhiêu từ từ phai lợt của
Bần đạo đã ban cho mà tự mình làm mất, bởi lý do không giữ tồn tại. 1.
là sự nóng giận khiến ngôn ngữ không lành. 2.
là sắc dục, dầu cho vợ chồng cũng là sắc dục. 3.
là không trọn vẹn giữ trai giới và không tinh khiết.
Trọng đại hơn hết là cái đạo ngôn ngữ ở trong cửa Đạo, từ tín đồ
lập công cho đến Chức sắc phải có ba ngàn (3000) công quả, đã nhiều
năm dày công tu luyện mới nhập vào Thánh thể của Đức Chí Tôn, nếu
mà chưa trọn đạo ngôn ngữ, thốt ra một lời nói bất lợi cho mình cho
người thì nó cũng tan như giá.
Nhứt ngôn khả dĩ
hưng bang,
Nhứt ngôn khả dĩ
tán bang. Tỉ
như lúc gặp đồng đạo của mình mà bị phạm tội với Đạo, với Hội Thánh,
với thầy với bạn, họ đã chịu khổ đau tâm hồn lắm vậy. Mình là người
vô tội hoặc là mang Thiên mạng vào mình, mà còn tánh đức phàm tục,
cứ khinh rẻ chê bai, trích điểm, làm cho bạn mình đau khổ thêm. Lẽ đạo
thương người không hết, có lý đâu buông lời nhạo báng, vô tình mà
mình mất cả chơn pháp mà gánh lấy tội của họ đã làm mà may duyên
cho họ được trao lại cho mình.
Chớ chi Hội Thánh thay hình thể Đức Chí Tôn, dùng luật hữu hình trị
tội thì Thiên điều khỏi tội.
Còn mình không phải là thay hình thể Đức Chí Tôn, cũng là bạn đồng
sanh, mà mình chưa chắc gì trong sạch hơn kẻ đang có tội, mà mình lại
lãnh thêm nữa.
Cái huyền vi mầu nhiệm của Bí pháp rất hệ trọng lắm vậy.
Học đạo ngôn ngữ của Thánh hiền phải cẩn ngôn cẩn hạnh, trước khi
nói phải suy nghĩ điều nào phải, điều nào lợi rồi sẽ nói. Một là
chơn chánh, hai là dễ thương, ba là hữu ích.
Nhược
bằng không được ba điều trên thì nên giới khẩu, làm thinh là tốt hơn
nói.
Thưa cùng
chư Viên quan quí chức, quí Ông quí Bà, chư Chức sắc Thiên phong nam nữ,
chư Đạo hữu lưỡng phái.
Chiếu theo ý nghĩa chữ ĐẠO là một định từ để chỉ tánh đức của loài
người đối với Đức Chí Linh cùng càn khôn vũ trụ.
Loài người bao giờ cũng chủ tâm tìm tòi. Kiếm cái nguyên do lai lịch
của mình, hầu định phận đối cùng Tạo đoan vạn vật. Muốn biết mình, con
người phải lột cả sự bí mật huyền vi của vạn vật hữu sanh tại thế,
gọi là chúng sanh, đặng so sánh. Thấy đặng cái sống của vạn vật mới
biết đặng cái sống của mình. Thấy đặng cái năng tri năng giác của
chúng sanh mới tìm đặng cái tâm linh của mình là báu. Thấu đáo đặng
tâm linh mới biết Thiên lương do Chí thiện. Khi hiểu cái Thiên lương ấy
là mầu nhiệm huyền bí, tả không cùng, hiểu không tột, chẳng biết
lời chi mà đặt để, nên định phỏng danh là ĐẠO. Vì
cớ cho nên lấy chữ TÂM làm mục đích.
Các Thánh nhơn xưa thường đem cái triết lý ĐẠO TÂM hiệp làm môi
giới, nên dầu cho các vị Giáo Chủ, tuy mỗi Đấng đều có cái tư tưởng
đặc sắc nên triết lý cao thấp không chừng, nhưng cũng phải buộc lấy
chữ TÂM làm nguồn cội.
Ôi ! Nếu luận đến hai chữ CHỦ TÂM thì ta cũng thấy rõ ràng : một
vấn đề thuyết không cùng, biện không tận, vì nó quảng đại bao la, vô
biên vô giới, bởi nó do nơi Đức Chí Linh là Trời mà sản xuất.
Hễ càn khôn vũ trụ nầy vĩ đại bao nhiêu và cơ bí mật Tạo đoan bao
nhiêu thì nhơn tâm đều hưởng ứng bấy nhiêu. Dầu cho kiến thức đặng
hay là còn ẩn vi mầu nhiệm mà lương tâm của con người đã hưởng ứng,
đều cho mọi trí não mọi tinh thần tự hiểu rằng : sự thấu đáo chữ
ĐẠO vô cùng vô tận, muôn phần loài người
chưa định đặng một, vì vậy các nhà triết học
đạo đức tinh thần cho Nhơn
tâm tức Thiện tâm cũng đáng.
TÂM ấy là gì ?
Ấy cũng là một định từ để chỉ cái hình bóng của trí thức tinh thần.
Đạo gọi là Nhứt điểm linh quang chiếu giám. 1.
Đức Chúa Jésus khi thọ pháp giải oan nơi sông Jourdain thì điểm linh
quang ấy đến với một cái hình ảnh phi cầm là con bồ câu hào quang
sáng lạng. 2.
Đức Phật Thích Ca khi trì định tại vườn Bồ Đề thì điểm linh quang ấy
giáng như hình khối lửa. 3.
Đức Lão Tử khi thiền định tại Thư viện nhà Châu thì điểm linh quang ấy
giáng như hình sấm sét. 4.
Đức Khổng Phu Tử khi vấn đáp với thần đồng Hạng Thác, thì điểm linh
quang ấy giáng như hình sợ sệt.
Chẳng cần luận cao xa hơn nữa, như Abraham và Moise thấy Đức Chúa Trời
trong đạo hào quang sáng sáng suốt; như Đức Lão Tử, Nguơn Thỉ Thiên
Tôn và Thông Thiên Giáo chủ thấy Hồng Quân Lão Tổ trong năm sắc
tường vân, như Phục Hy thấy Long mã hóa Hà đồ. vv . . .
Nhứt điểm linh quang ấy vẫn nhiều hình dáng, vẽ không nên hình, tả
không nên tướng.
Ấy là một huyền bí vô chừng mà các nhà đạo đức từ thượng cổ đến
chừ đã để tâm nghiên cứu tìm tàng, đôi phen phải lặn suối trèo non,
chun trong hang sâu, vào nơi vực thẳm.
Bởi cái chí hướng của loài người bị quyền năng của Nhứt điểm linh
quang thôi thúc, nên trí não tinh thần cũng xu hướng theo sự bí mật ẩn
vi của quyền năng Tạo đoan còn chất chứa.
Hễ có tìm thì có biết, hễ biết lại còn phải biết nữa, càng biết
lại càng giấu, bởi sự hay biết của tánh đức loài người chưa hề thấu
đáo đặng sự bí mật Tạo đoan cho cùng tận, tức gọi là “Tầm Đạo”. Hễ
càng tìm càng dốt, hễ gọi biết lại là ngu, vì chưa có một mắt phàm
nhơn nào tại thế nầy mà Đức Chí Tôn đã giao trọn huyền vi bí mật. (De
pauvres esprits prétentent qu’ ils sont dans le secret de Dieu. Or, je ne donne
à nul humain ici-bas d’ en faire la révélation).
Ấy vậy, chữ ĐẠO vẫn để nói mà hình vật của Đạo vốn khó tìm. Đạo do
trí thức tinh thần mà xuất hiện, chưa có một vật chi hữu linh tại thế
nầy mà không có Đạo. Cái vĩ đại của Đạo thật là khó rõ, mà Đạo
lại dễ lợi dụng.
Dưới mặt luật tương đối của đời đã biến hình, biết bao tư tưởng phô
bày, biết bao tướng diện ảnh hình.
Tranh nhau từ cái khôn cái khéo, hơn nhau từ cái xảo cái ngoan, sánh
nhau từ cái cao cái sâu, giành nhau từ cái sang cái trọng, để một
trường luận biện chánh chánh tà tà, cho biết cái quyền năng của Đạo
nó tạo cái hay sự dở.
Chưa ai lấy một triết lý dầu cao siêu thế nào đặng làm môi giới
chuẩn thằng hầu định đức tánh của loài người cho cùng tận thì không
có một giáo lý nào dưới mặt địa cầu nầy đã đáng danh là Đạo.
Chúng ta không dám chối, các tôn giáo không phải là Đạo, mà chúng
ta quyết hẳn rằng, các nền tôn giáo chưa đáng danh gọi Đạo. Nếu biết
cái triết lý do tinh thần sản xuất thì là Đạo đã đành, nhưng nó chỉ
là một tư tưởng trong vô cùng vô tận của trí thức tinh thần mà thôi,
song chúng ta phải biết bao nhiêu tư tưởng khác nữa. Cái nguồn ấy
chưa khô chưa cạn và chúng ta lại quả quyết rằng, hễ còn loài người
thì có tư tưởng, cả tư tưởng ấy cho đến
tận thế cũng vẫn còn.
Ấy vậy, loài người đương bôn xu trên con đường Đạo chớ chưa hề tới
tận nguồn cội của Đạo bao giờ.
Các tôn giáo tuy đáng danh Đạo chớ chưa phải Đạo. Tỉ như cát kia ở nơi
một gò, một bãi biển, một sa mạc thì nhỏ lớn đều đặc biệt cùng nhau.
Thay vì chỉ tên một gò, một bãi hay một sa mạc, lại gọi tiếng cát
trơn, thì chúng ta chẳng hề chối đặng, bởi dầu một bãi, một sa mạc
hay một gò, nó đều có danh là cát.
Vậy thì dầu cho tả đạo bàng môn hay là chơn tông chánh giáo, cũng
đặng phép tạm xưng là Đạo, những điều khinh trọng, duy để nơi cân
công bình của toàn Thiên lương trí thức tinh thần định đoạt. Ta
không dám xử, nhưng tự nhiên mỗi cá nhân để trí thức mà định phận.
Ta
không đủ thông suốt đặng dung nạp các giáo lý của các nền Đạo đương
thời mà linh tâm cho ta hiểu rằng, nó chưa vui hưởng đặng
cái hay của mùi Đạo.
Từ cổ chí kim, con người đã mua cái danh Đạo rất nên mắc mỏ. Cái linh
tâm của chúng ta vốn là tự do mà các tôn giáo đã buộc ràng nó
trong một hành vi chật hẹp đặng bảo thủ cái Thiên lương thì tức nhiên
nó đem một cái báu vô giá đặng đổi chuộc một vật thường tình, e cho
thế gian thất Đạo cũng do theo lẽ ấy.
Cái khí hứng của Linh tâm bao giờ cũng chú trọng theo cái hoạt động
tự do, lấy Thiên mạng làm căn bản, thì Thiên lương là tớ, Linh tâm
là thầy. Các tôn giáo buộc thầy tùng tớ, thì rõ ràng là trái
lý. Bởi cớ cho nên Linh tâm phản động mới nảy ra Tả đạo bàng môn,
làm cho các mối chơn truyền thành ra bất năng vô ích.
Hỏi Linh tâm do đâu mà sản xuất ?
Có phải do nơi Tạo Hóa Chí Linh đã ban cho loài người đặng có đủ
quyền năng làm chúa cả toàn vạn vật hay chăng ? Nó là Nhứt điểm
linh do nơi Đức Chí Linh mà có, thì nó là con của Trời, tức nó là
Trời.
Còn Thiên lương do nơi đâu mà có ?
Thiên lương do nơi sự đối phó cùng vạn vật hữu hình lập phương chước
bảo tồn sanh hoạt. Không có Thiên lương thì chưa biết nhìn nhau là bạn
trong trường khổ não đau thương hầu bảo thủ mạng sống lẫn nhau đặng
dìu dắt nhau đi tận con đường giải thoát.
Có Linh tâm mới biết mình là một vật trong vạn vật của Chí Tôn đào
tạo, rồi nhìn Chí Tôn trong hình vạn vật mà tự hiểu rằng, Chí Tôn
phải có tự nhiên tánh đức Bác ái Từ bi, mới nuôi nấng trọn chúng
sanh vạn vật.
Tâm lành của Trời tức là tâm lành của người. Hình ảnh vĩ đại trước
kia nó biến ra hình ảnh tối thiểu sau nầy, nên gọi nó là Thiên lương. Vì
vậy, các giáo lý của mấy vị chưởng giáo từ trước đều là cơ quan un
đúc bảo trọng Thiên lương mà thôi. Hễ có Linh tâm tức nhiên có
Thiên lương, dầu không cần kiếm, tự nhiên nó cũng có. Chúng ta chưa
hề dám nói các tôn giáo là vô ích mà ta chỉ than rằng : Chưa đủ.
Dạy đời cho lành mà không dạy đời cho ngoan thì chẳng khác nào dạy
cho biết cái sống mà quên cho hiểu cái chết, hay là dạy cho đọc sách
mà không cho học chữ. Chớ chi, các tôn giáo biết chú trọng Linh tâm
hơn là cần lo gầy dựng un đúc Thiên lương thì con đường Chí thiện của
chúng sanh sẽ đặng quang minh quảng đại hơn nhiều, mà cái Đạo của Đời
sẽ tùy theo Linh tâm trở nên hiền lương nhơn hậu hơn. May ra khối khổ
não của Đời chưa đến nỗi to lớn nguy hiểm như thế nầy.
Chúng ta thoạt nhiên quan sát tận tường, bởi các bằng cớ tạo đời do
nơi tư tưởng của các tôn giáo hiển nhiên tại thế nên đoán chắc rằng,
nếu giáo lý nào mà rộng mở cho sự tự do hoạt động của điểm Linh
tâm thì điểm Linh tâm tùy theo sự nhỏ lớn của sự ân hậu khoan hồng
ấy mà hưởng ứng, do đó, các tôn giáo mạnh yếu khác nhau cũng vì lẽ
ấy.
Hiện thời, đạo Thiên Chúa đã đặng thế lực mạnh mẽ, đáng danh là
một tôn giáo toàn cầu, kể tổng số hơn các tôn giáo khác. Ngoài ra
phương chước làm cho thành tướng các triết lý chơn ngôn, những tay cầm
giềng mối đạo đã rộng mở cho đời đôi chút tự do tư tưởng, đạo Thiên
Chúa nhờ nương cái đức tín của một Đấng Chí Tôn nên thế lực vững
vàng kiên cố.
Các quốc dân châu Âu đã đặng khôn ngoan hơn, đặng tài tình hơn, đặng
cao trọng hơn, tưởng cũng do may hưởng các đặc ân của Đấng Chí Tôn cho
rộng thế hoạt động thành hình của tự do tư tưởng.
Trái lại, chúng ta lại buồn thay cả khu địa giới cõi Á châu nầy chịu
dưới quyền cảm hóa của Phật giáo từ cổ đến kim, nên dân sanh phải
chịu lỡ bước văn minh tấn bộ.
Kiếm duyên cớ, chúng ta đã thấy hẳn rằng : Triết lý mà Phật đã bó
buộc tư tưởng của con người vào một khuôn khổ hành vi chật hẹp nên
mới ra đến đỗi. Một tôn giáo đã khuyên nhủ, đã dụ dỗ, đã yêu cầu
cho điểm Linh tâm tự diệt, rồi lại để cho Thiên lương vi chủ, thì là
một nền tôn giáo biểu chủ phải tự tử để cho tớ cầm quyền thì bảo
sao không chịu cái nạn tán gia bại sản. Thảm thay ! Nếu phải vong phế
vì quốc sự bạc nhược ấy, các sắc dân nơi cõi Á châu nầy phải tìm
tòi đặng học vấn với một thầy nào, tức nhiên phải đến gõ cửa
Khổng gia hay tìm nhà Lão giáo.
Ông Khổng thì biểu ôm một kho sách cho dẫy đầy, đủ phương chước mưu
mô đặng trị an thiên hạ, đặt đủ truyện đủ tuồng, đủ vai đủ vở, nhưng
rủi thay đời chưa kiếm đặng một mặt kép hay đặng làm tuồng theo đúng
vở, thành thử không khác nào một ông thầy tuồng đặt bài vở thiệt
hay nhưng không có kép tài đặng hát.
Ấy là một tôn giáo rộng lý thuyết mà hẹp thật hành, bởi thúc
phược tự do tư tưởng.
Nho giáo như cái chậu, cái khôn ngoan của đời tức là Linh tâm như cây
kiểng, cây kiểng ở trong chậu chẳng hề đặng to lớn bao giờ, duy để
cho đời đặng ngoạn mục xem ngắm cái hay
của sự u nần cùi cụt.
Ông Lão thì chỉ khuyên nhủ dân sanh nuôi nấng cái điểm Linh tâm cho
cường cho thạnh, nhưng không cho nó hoạt động biến hình, thành thử dạy
đời về khôn khéo mà ghét đời về ăn ở thì chẳng khác nào như một
ông thầy thuốc đã triï bịnh cho người, biểu đừng ăn cứ ngủ.
Tưởng ra thì một giáo lý dạy chúng sanh nằm ngủ đặng đợi hết đói thì
dầu cho các môn đệ của người bảo thủ vẹn vẻ lấy điểm Linh tâm, thì
điểm Linh tâm ấy cũng hóa bất năng vô ích.
Cái triết lý của đạo Lão là một triết lý rộng mở cho điểm Linh tâm,
mà trở lại một tôn giáo thúc phược lương tâm hơn hết.
Đường Đạo vốn mênh mông, tâm đức đi ngõ nào cho đúng nẻo ? Tâm đức
vốn vô ngằn, phải đạo lý nào cho phù hạp ?
Hai câu vấn đáp mật thiết tương thân nầy, nếu mấy vị Giáo chủ còn
đương thời hỏi đến cũng phải nhăn mày nhíu mặt.
Chúng ta cũng nên riêng tưởng rằng : chưa có một cái quyền năng nào
mà thúc phược đặng điểm Linh tâm, hầu bỏ nó vào một khuôn khổ hữu
hình hữu dạng, thì tức nhiên chưa có một nền tôn giáo nào đủ tài
đức quyền hành đặng làm chủ đức tin thiên hạ.
Đời phải học với cha mẹ, cha mẹ chưa đủ đức mà dạy cho nên danh, đời
phải học với thầy, thầy chưa đủ đức mà dạy cho nên phận, đời phải
học với vua, vua chưa đủ đức mà dạy cho nên Đạo, duy phải tìm Trời là
Đấng đủ quyền năng tạo thế, lại là Cha của đức tánh loài người, thì
mới đủ phương pháp dạy người cho nên người vẹn vẻ.
Đạo Cao Đài vốn là cơ quan để nắm tay của đời đặng dắt vào trường
học của Trời mà chớ.
Thưa cùng
chư Viên Quan quí chức, quí Ông, quí Bà, chư Chức sắc Thiên phong lưỡng
phái, chư Đạo hữu nam nữ.
Thưa, chúng ta đã rủi sanh nơi cõi trần nầy, tỉ chẳng khác chi người
khách du lịch. Trước khi để bước ra đi, hằng mong tưởng rằng : cái tánh
háo kỳ của ta sẽ đặng thỏa mãn, ngoạn mục đặng một phong cảnh tốt
tươi đẹp đẽ, hứng chí thích tình.
Ôi ! Biết đâu chúng ta lại chẳng mong tìm mảy may sự hứng chí thích
tình ấy mà phải chịu đòi phen khổ nhọc, lặn suối trèo non, thắng nguy
mạo hiểm.
Chí hướng tâm thần của loài người bao giờ cũng đeo đuổi mãi theo con
đường hạnh phúc, chẳng phải hạnh phúc nơi xác thịt hình hài, mà ta
lại mong tìm cái hạnh phúc tinh thần hơn hết, nên đòi phen ta đày đọa
hình hài xông lướt đến nơi luồng đầm hổ huyệt.
Tâm chí của khách du lịch vẫn nhiều hạng tùy theo khí phách của mỗi
người.
Có kẻ đã đổ đường lên đèo xuống ải tìm cho ra cảnh an nhàn, khi đến
tận nơi gặp phải chốn đìu hiu quạnh quẽ, non nguy nước hiểm, phong cảnh
âu sầu thì nhắm mắt dậm chơn, nghiến răng chắc lưỡi mà than thở rằng
: Uổng công trình ngàn trùng diệu viễn mà lạc bước đến chốn vô tình.
Cái thất vọng ấy cũng nên cho là quá đáng, nhưng cũng có người
đặng thiên tánh tự nhiên thích hợp với nước biếc non xanh, rộng bước
tang bồng hồ thỉ, ham hứng trăng thanh, vui mùi gió tối, quen cùng điểu
thú, bạn với cỏ cây, có sẵn chất phong lưu tài tử thì đâu đâu cũng
là cảnh hữu tình : dầu đẹp dầu thô, dầu hèn dầu trọng, dầu lịch xinh
tươi nhuận, dầu cùi cụt đìu hiu, thì cái cảnh thích của người cũng gần
một giá, bởi khí hứng của khách hữu tình vốn để vào nơi mật thiết
nhiệm mầu của máy hóa công tạo vật.
Những mặt du lịch nhà nghề nầy, dầu rủi để chơn nơi trái cảnh thì lại
đem cả cái ái tình mà châm chế vào chốn bất phước vô duyên đặng
thay thế cho cái phước thích tình, ngoạn mục. Thật ra thì nơi nào có vẻ
u nhàn ảm đạm lại là nơi giục bước
khách hữu tình.
Những cuộc đau thảm ngờ ngờ trước mắt con người, đối với khí phách
của bậc siêu hoát tâm hồn vốn y một lẽ. Ta
chẳng hiểu rõ đặng đích xác, bởi nguyên do nào mà ta đã sanh nơi thế
gian nầy, rồi ta lại chết trong vòng tục nầy, nhưng Thiên lương ta
chiêm nghiệm tự biết lấy rằng : vốn chẳng phải là việc ngẫu nhiên
hay là vô duyên cớ.
Những khách đồng thuyền của ta phân ra nhiều hạng, con đường tấn bộ
trí thức của mỗi kẻ vẫn không đồng, dầu cho ngậm miệng cúi đầu ruổi
dong trên ngả tự trí tự giác, hiu quạnh một mình đi nữa, thì mọi điều
hành động của ta cũng đã tả thành một bài học hay, in vào cuốn sách
đời của toàn thiên hạ.
Ôi ! Ai đã mang thi phàm xác tục nầy rồi cũng phải chịu dưới quyền
thương yêu của Tạo vật, ta dầu không biết thương ai tất cả thì ta cũng
buộc biết thương ta, mà đã còn biết thương thân ta thì ta chưa hề đặng
phép quên thương thân của kẻ khác.
Nơi trường tranh sống của con người, giống chẳng khác chi chiến trường
náo nhiệt. Nếu chẳng có cái năng lực thương yêu của Đấng Hóa công
dính vào óc não của chiến sĩ võ quân thì đời chắc phải tàn diệt lẫn
nhau lâu rồi mà chớ. Ta
còn lại dám mạo hiểm xưng hô lên rằng : Con người dầu cho có nạn
oán nghịch tàn hại lấy nhau đi nữa, cũng do luật thương yêu của Trời
mà có vậy. Nếu như ai vấn nạn thì ta lại trả lời rằng : Khuôn luật
thương yêu chia ra hai mặt :
1. Thương mình.
2. Thương người.
Hai hình trạng của luật thương yêu ấy phải nương theo cây cân công bình
tạo đoan mới hòa bình tâm lý. Nếu mình quá thương mình mà bỏ người thì
bị cái điên vị ngã, còn quá thương người mà quên mình thì bị cái ngây
vị chủng.
Ấy vậy, rõ thật ra thì ta đã quả quyết rằng : cũng vì cơ quan vị ngã
vị chủng phản khắc tương tranh mà gây thành loạn lạc vậy. Trời phải
định cho có nơi lòng của mỗi người một cây cân công bình thiêng liêng
mới đặng. Cây cân công bình ấy là chi ?
Ấy là chất Thiên lương, tục gọi là Lương tâm của ta đó vậy.
Hại thay ! Thiên lương hằng buộc ta phải ngó chăm chỉ sự thật của
Đời vì chính nó là bạn thương yêu mật thiết của Đời, rồi buộc ta
phải thú thật rằng : dầu cho ta muốn làm màu chê ghét Đời, gớm ghê
Đời, kinh khủng Đời, chán ngán Đời mà ta chưa hề buổi nào từ bỏ
đặng Đời bao giờ.
Trái lại, những khách hờn Đời lại là người thương Đời hơn hết.
Cái quyền năng cảm hóa phi thường của tuồng đời, sớm thay hình, chiều
đổi dạng, diễn trên sân khấu thế tình nhiều màn mới mẻ, lắm lớp hay
ho mãi mãi hoài hoài, làm cho thính giả khán quan ngồi không biết mỏi,
nghe chẳng nhàm tai, đặng gầy sự nghiệp của Đời thêm vĩ đại.
Nơi cảnh tục ta đây, Đạo gọi là sông mê bể khổ, vốn còn náo nhiệt
hình bóng của loài người, là nhờ sự khéo khôn của quyền Đời đào
tạo.
Số khách hữu tình của Đời ngày nay đã tăng thêm chín trăm hai triệu
mặt.
Đời càng phụ ta lại càng thương, Đời càng nguy ta càng thêm mến, vì
cớ nên ta hằng thấy, hễ buổi nào Đời bị khổ não hiểm nguy thì
có Thánh nhơn trổ mặt.
Thật sự thì Đời có quyền phụ ta, còn ta không phép phụ Đời. Nhờ đấy
mà bậc thượng đẳng nhơn sanh thường nương theo Bí pháp của Đời mới đào
luyện tinh thần siêu thoát.
Sự thế còn dài, con người còn khổ. Có khổ mới có hay, có dài mới
có thú. Cơ nghiệp của Đời thâu thập các món thuế của khách trần,
phải nạp giọt đau thương, phải đóng sưu sầu thảm.
Nầy đảnh thương sơn, nọ nguồn lệ thủy, hãy càng ngắm càng cao, càng
nhìn càng rộng, dầu ta xuống hang sâu hay chen vào vực thẳm, trên
chẳng đụng trời, dưới không thấu đất, hầu mong xa lánh nợ đời, quyết
tránh hồng trần, tính lìa thế tục, không muốn gặp mặt của bạn khách
trần, kỵ lóng đặng lời ăn tiếng nói hầu mong diệt tận thất tình cho
đặng đi nữa, thì thoạt nhiên ta sẽ thấy cả sắt đá cỏ cây phát động
âm thanh xúm nhắc luật thương yêu tạo vật. Ta
dầu cứng lòng chắc dạ, chưa để cho ai cảm hóa với ngôn ngữ thường
tình, khi nghe đặng ngôn ngữ của Vạn linh thì ắt cái quyền lực ái tình
nó tăng thêm vô độ.
Những bậc lánh trần, ta xem kỹ lại là ai ?
Có phải mấy vị thầy tu là trước hết chăng ?
Vậy thì có tu mới biết thương Đời, chẳng phải thương Đời với khuôn
viên hình bóng mà vì nồng nàn của khí phách tinh ba, thì sự thương ấy mới ra cao thượng. Ôi
! Biết bao nhiêu khách đã chịu riêng đau, ấp thảm, ngậm khổ nuốt sầu,
chịu lắm cuộc bể dâu, xem những nỗi nên hư thế sự.
Khi đêm
tàn canh lụn, ẩn thân nơi nước trí non nhân, đặng lén dòm quanh cuộc
thế, gởi tình chung cho gió mát trăng thanh, nạp đức tánh cho trời cao
đất rộng, một bóng một hình, không ai là bạn. Cái may của một kiếp
sanh bậc siêu hoát tâm hồn đã thường phải vậy. Ấy là một kiếp sanh
để cho Đời phụ bạc, chớ chẳng phải cốt để phụ bạc lại Đời, đến
đỗi dầu ép
thân theo thú hạc cầm, cũng chưa gặp mặt tri âm tri kỷ, sống cũng
không ai hay, thác cũng không ai biết. Ôi ! Tưởng cái lịch sử của
thế tình, nếu có thiếu sót thì do nơi đấy mà ra khuyết điểm.
Hỏi, nếu Đời biết cảm tình, gìn ân giữ nghĩa, thì những bạn đồng
thuyền ấy, ta phải khép vào nơi hạng phẩm và giá cả bậc nào ?
Đức Thích Ca bị bỏ đói, Đức Lão Tử bị cút côi, Đức Khổng Phu Tử bị
xô đuổi, Đức Chúa Jésus Christ bị tàn sát, nhưng may thay, dầu cho mảnh
thân bị nơi tay ác độc của nhơn sanh tàn hại thế nào, khi qui thần,
đời biết hiểu, biết nghe, biết nhìn tiếng than thở đau thương, ái nhân
ái vật, và đặng công nhận là người ân của nhơn loại thì cũng nên
gọi rằng, chết gặp kiếp duyên mà trừ cái khổ sống mang kiếp trái. Ta
cũng nên chắc hẳn quả quyết rằng, từ thượng cổ đến chừ, cũng còn
lắm bậc siêu hoát tâm hồn, thùy từ mẫn khổ, cũng gần như các vị
Giáo chủ trên đây, nhưng thiếu cái bằng chứng ngôn ngữ thế tình mà
công nghiệp của kiếp sanh phải ra mai một.
Ôi ! Anh
cả ôi ! Anh cũng là một người đã chịu mang một kiếp sanh để cho Đời
phụ bạc, chớ chưa hề biết phụ bạc lại Đời. Em nhớ khi đêm hôm tăm
tối, anh hay thuật tâm tình. Ngoài em thì chưa ai hiểu đặng chỗ để tâm
trí của anh là nơi nào ?
Bần đạo xin để lời cám ơn chư Chức sắc Thiên phong và chư Nghị viên,
Phái viên nam nữ có mặt về dự hội hôm nay đều đủ.
Kỳ hội nầy, chúng ta sẽ quyết đoán nhiều hành vi và cả khuôn viên
của Đạo đặng đem ra thật hành cho nên mỹ mãn. Xin chư vị ráng để trọn
tâm chiêm nghiệm tường tất mỗi khoản trong chương trình rồi quyết định,
đặng giúp thế cho Hội Thánh ban hành cho nên mặt Đạo.
Cả tương lai của Đạo sẽ tốt đẹp hay không đều do kỳ hội nầy.
Ấy vậy, Bần đạo xin đọc khoản thứ nhứt trong chương trình cho chư Nghị
viên bàn định.
Ông Chủ tọa (Đức Hộ Pháp) đọc khoản thứ nhứt trong chương trình và
nói :
Tưởng lại, Bần đạo cần phải trạng vẽ cả khuôn viên hiện thời và
quyền hành đương nhiên của Đạo và tại sao
Hội Thánh không cầm quyền phong
thưởng, lại để cho Quyền Vạn Linh định đoạt.
Vậy trước hết Bần đạo cần thuyết minh ra đây cho rõ giá trị của Chức
sắc thế nào đặng Quyền Vạn Linh thấu đáo.
Vả chăng, Chí Tôn là Chúa tể cả càn khôn thế giới, tức là Đấng tự
hữu hằng hữu. Hễ vào phẩm Chí Tôn tức là vào phẩm tuyệt đối của
thế giới càn khôn. Quyền hành Chí Linh của Người rất bao la quảng đại.
Nếu như có thế giới nào ngoài ra khác nữa thì chúng ta không định
đặng quyền hành của Người là sao, còn như càn khôn hiện tượng nầy
nó đã tối đại thế nào thì có lẽ quyền năng vô biên vô tận của
Người cũng bao trùm tới đó.
Cái ống thiên lý của Đời soi thấu đến đâu mà còn thấy một vì tinh
tú nào thì quyền Chí Tôn cũng tự nhiên đến đó.
Nơi Thiên văn đài, người ta ngó thấy ngoài các ngôi tinh đẩu thì còn
những khóm tối đen, nghĩa là quá sức của kính thiên lý thấy đặng,
nên quyết đoán rằng cả cơ thể hữu vi nầy nó huyền vi mầu nhiệm là
dường nào, thì Chí Tôn cũng thế ấy.
Quyền hành Chí Tôn đã bao trùm khắp hết, hoặc còn ra khỏi ngoài càn
khôn ta thấy đặng đây mà chớ.
Ngày nay, Đấng Chí Tôn đến lập Đạo đặng nhìn nhận cả con cái của
Người là cả thảy chúng sanh. Thay vì lấy quyền hành Chí Tôn mà làm
chúa, Người lại dụng tánh đức yêu thương, lấy lòng từ bi quảng đại,
tôn con cái của Người vi chủ, nghĩa là Người giao quyền hành của
Người lại cho chúng sanh lập quyền cho con cái của Người là Quyền Vạn
Linh.
Quyền Vạn Linh là gì ?
Là tổng hợp cả 3 quyền :
1. Quyền Hội Nhơn Sanh.
2. Quyền Hội Thánh.
3. Quyền Thượng Hội.
* Quyền Hội Nhơn Sanh
: tức là quyền của bậc Tín đồ tới bậc Lễ Sanh, nghĩa là từ phẩm hữu
sanh cho tới thượng sanh.
* Quyền Hội Thánh
: tức là quyền của
bậc Giáo Hữu tới Đầu Sư nhưng Đầu Sư có đặc quyền làm đầu Chánh trị
Đạo, vì đã vào Hội Thánh là bậc hữu phẩm tới thượng phẩm. (1)
* Quyền Thượng Hội
: tức là quyền Giáo
Tông và Hộ Pháp, còn dưới quyền Thượng Hội có Chưởng Pháp là tể
tướng của Thượng Hội. Nếu có điều chi trắc trở thì quyền Chí Tôn hỏi
nơi Chưởng Pháp mà định đoạt, chớ Chưởng Pháp không có quyền hành chi
cả. Chưởng Pháp phải hiểu cả tâm lý của Đời và Đạo mà liệu phương
hòa giải (Conseil juridique). (2)
Cả 3 quyền hiệp lại thì được đồng quyền cùng quyền Chí Linh của Đấng
Chí Tôn. Đối với quyền Chí Tôn mà nó còn ngang phẩm, thì dầu cho các
Đấng thiêng liêng cũng còn phải dưới quyền ấy nữa. ~~~~~~~~~~~~~~~~~~
(1) Đây là lúc năm 1937, sau nầy
sửa lại, Hội Thánh gồm các Chức sắc từ Giáo Hữu đến Phối Sư và
Chánh Phối Sư, còn Đầu Sư thuộc Thượng Hội.
(2) Đây là lúc năm 1937, sau nầy
sửa lại, Thượng Hội gồm 11 vị : Giáo Tông, Hộ Pháp, Thượng Phẩm,
Thượng Sanh, 3 Chưởng Pháp, 3 Đầu Sư nam và 1 Đầu Sư nữ.
Ấy vậy, ngoài ra Quyền Chí Tôn thì chẳng ai có quyền hành phong thưởng
Thiên phong Chức sắc của Hội Thánh, duy có Đức Lý Giáo Tông và Đức
Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn là hai Đấng đã có lịnh Đức Chí Tôn cho
được quyền phong thưởng thì phẩm tước ấy mới nên giá trị.
Ngoài hai Đấng ấy ra, dầu cho một vị Đại Giác Kim Tiên hay là Cái
Thiên Cổ Phật mà không thừa mạng lịnh của Chí Tôn và không quyền
hành nơi cửa Đạo, nghĩa là không lãnh mạng lịnh trong buổi Tam Kỳ Phổ
Độ nầy thì không đặng quyền phép phong tước cho ai tất cả.
Ngày nay bọn Tả đạo bàng môn phong thưởng chẳng do Thiên mạng, đều
là cơ quan tà giáo mà thôi. Cơ
phong thưởng là chỉ do nơi Quyền Vạn Linh hiệp đồng hay là Quyền Chí
Tôn, chớ chẳng phải ai muốn phong thưởng cũng đặng.
Trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ nầy, Chí Tôn chia ra ba cặp cơ là : Pháp, Đạo,
Thế. Cơ
quan Phong Thánh là do cơ Đạo có Hộ Pháp và Thượng Phẩm phò loan,
ngoài ra chẳng có cặp cơ nào phong thưởng cho ai đặng. Sau nầy vì muốn
cơ Phong Thánh sống rốn thêm nữa, thì duy có Cao Tiếp Đạo phò loan với
Hộ Pháp, song mỗi phen phò loan đều có chơn linh của Cao Thượng Phẩm
đến nâng loan với huyền diệu thiêng liêng của Ngài.
Hại thay, có một điều bí yếu hơn hết là Chí Tôn chỉ coi về thiêng
liêng phẩm vị mà phong thưởng, nên thành thử phẩm vị thì cao trọng còn
trái lại hình thể của họ thì rất thô kém thiệt thòi, khó hèn nhẹ giá.
Ấy cũng là cơ quan bí mật của Chí Tôn, mình không thể nào rõ thấu.
Bởi cớ cho nên có nhiều vị Tiên Phật giáng trần, mượn hình thể hèn
hạ phung cùi lở lói, đến đỗi giả dạng ăn xin đặng thử đời hiền dữ.
Hại thay Đời thì cứ ngó cơ hữu hình mà tôn trọng, còn khinh rẻ phẩm
vị thiêng liêng, thành thử Chí Tôn phong thưởng cao trọng chừng nào thì
đời càng rẻ khinh chừng nấy. Một điều hại nữa là những vị ấy nhiều
khi chưa biết giá trị của nó là thế nào ?
Từ thử, Hội Thánh chịu nạn vô giá trị là do nơi đó. Nhiều Thiên phong
coi giá trị của mình không bằng cây diêm hộp quẹt, chúng sanh coi
không bằng điếu thuốc, thì thế nào Hội Thánh, hình thể hữu vi của Chí
Tôn, có đủ quyền năng tạo thời cải thế.
Ngày nay, Bần đạo đem việc phong thưởng ra cho Quyền Vạn Linh định đoạt,
là không phải ý của Bần đạo muốn vậy, mà chỉ là mật lịnh của Chí
Tôn giáng dạy, lại nữa cũng là một phương để cho họ nâng mình lên
cho đáng giá, đặng họ tôn trọng cho đành.
Ấy vậy, từ đây chư Chức sắc Thiên phong sẽ nhờ Quyền Vạn Linh tạo
nên giá trị cùng đời. Thoảng như có ai nghi rằng : E để cho Quyền Vạn
Linh định vị thì nó không có y theo phẩm vị thiêng liêng của Hội Thánh
đi chăng ? Ta
lại nói : Chúng ta phải biết rằng ở thế gian nầy không có mảy mún
hành vi nào mà không có Thiên ý Chí Tôn định trước. Giờ nào họ đứng
trước Quyền Vạn Linh và chịu cho Quyền Vạn Linh nâng đỡ họ lên là
ngày họ được đem danh vị vào Thiên thơ mà chớ. Bởi thế cho nên
dầu ai có tài ba lỗi lạc bao nhiêu, đạo lý uyên thâm đến đâu đi nữa
thì cũng không qua khỏi mắt chúng sanh chọn lựa.
Quyền hành chánh trị của Chí Tôn chuyên chú về mặt tâm đức làm
chuẩn thằng, chớ chẳng phải dụng cường quyền áp bức. Nếu người nào
phải tay cầm quyền tinh thần ấy tức là có đủ tâm đức mới được. Nếu
Hội Thánh đưa quyền cho một người vô giá trị thì người ấy sẽ chết
tại nơi quyền đó mà thôi, bởi nó là quyền về tinh thần chớ chẳng
phải về vật chất.
Người nào đã được Quyền Vạn Linh công cử thì họ càng sợ sệt và
càng khéo giữ hơn nữa. Từ đây chẳng còn ai cầu may mà đặng. Như có
dở thì cả đời phải chịu ngồi một chỗ, còn đủ tài đủ đức thì chúng
sanh nâng lên cao, nếu thất Đạo thì chúng sanh xô xuống.
Từ đây cả quyền thăng thưởng trong Hội Thánh hay là nhơn sanh cũng
vậy, Chí Tôn đã nấy giao cho Quyền Vạn Linh.
Đức Lý Giáo Tông đã mật lịnh cho Bần đạo làm như vậy rồi, mới đem
lên quyền Chí Tôn phong thưởng mà thôi.
Bần đạo chỉ có quyền phong thưởng tới bậc Lễ Sanh, còn từ bậc Giáo
Hữu đổ lên, Bần đạo xin rửa tay, không còn quyền hành chi hết.
Bần đạo xin trạng vẽ Ba quyền hành ấy ra đây cho toàn đạo rõ thấy : CHÍ
LINH đối với VẠN LINH.
* Bát Quái Đài
: Đức Chí Tôn và các Đấng
thiêng liêng : Quyền Đạo.
* Cửu Trùng Đài - Hiệp
Thiên Đài : Giáo
Tông và Hộ Pháp, Hội Thánh : Quyền Thánh Thể tức là Quyền Hội
Thánh.
*
Lễ Sanh, Chức việc, Tín đồ
: Quyền Thế.
-
Quyền Chí Tôn : Luật Thiên điều tức là Thiên luật. -
Quyền Hội Thánh : Luật Hội Thánh. -
Quyền Nhơn sanh : Tân Luật và Thế luật.
a). Cả Thánh giáo tổng hợp lại là luật của Chí Tôn, tức là Thiên
luật.
b). Lập Thánh thể của Người rồi, Người lại dạy Đức Lý Giáo Tông
lập Tân Luật cùng Đạo Nghị Định, ấy là luật của Hội Thánh với luật
hành động từ 12 năm nay.
c). Luật của chúng sanh là luật Đời tổng hợp lại với luật Đạo.
Chúng ta còn chịu một điều xôn xao náo nhiệt là họ sẽ nói rằng :
Giao quyền phong thưởng của chúng ta lại cho Quyền Vạn Linh là phàm.
Chúng ta chẳng lạ chi cái phàm của nó, vì là đem 3.115 người phàm
đặng làm xác Thánh của Người là Hội Thánh, thay vì chúng ta nói nó
một lần phàm mà thật ra 3.115 lần phàm. Vì thế mà chưa hề Thầy hay
là Đức Lý Giáo Tông cầm viết lập luật, chỉ để cho nhơn sanh lập luật
đặng tự buộc lấy mình.
Vả Đức Lý Giáo Tông có nói rằng : “ Nếu để cho Lão lập
Luật thì nội trong 3 ngày là xong, song e cho chúng sanh tu không đặng.”
Lòng Đại từ Đại bi của Thầy cho quyền chúng sanh lập Luật mà tu đặng
lần lần khép mình vào Thiên Luật, vì ở nơi phàm luật của mình nó có
khuôn viên Thiên Luật.
Ấy vậy, Luật Hội Thánh là phàm luật. Còn Thánh Luật duy có Pháp
Chánh Truyền mà thôi.
Một người chủ nào mà quảng đại bao la thì chẳng hề định giới hạn sự
hành động của đứa tớ bao giờ, chỉ để cho nó tự do lấy trí ý đặng
kiếm phương chước thi hành cho nên vẹn vẻ. Chí Tôn cũng vậy, cả con
cái của Người, đầu óc mỗi đứa đều mỗi khác, chẳng hề buổi nào
Người định giới hạn khuôn khổ cho nó, chỉ để cho nó định mà thôi. Cả
khuôn khổ của nó định là trong khối phàm mà ra, rồi bảo sao không
phàm cho đặng. Ấy là Người muốn lấy khí cụ phàm mà trị phàm.
Một khi nọ, Bần đạo có hỏi Đức Lý Giáo Tông, Ngài nói rằng : Đức
Chuẩn Đề có 18 món bửu pháp hằng diêu động hoài hoài. Cả thế giới
chẳng có một món bửu pháp nào đối thủ với nó được, duy có một
lòng lành thắng nó đặng mà thôi. Hội Thánh cũng như Đức Chuẩn Đề,
hễ cái phàm của chúng sanh càng nhiều chừng nào thì Hội Thánh lại
càng phàm hơn nữa. Mình đã cho nó ra phàm rồi ngồi mà than thở hoài
rằng : Nó phàm thì chẳng bổ ích vào đâu tất cả.
Hại nỗi, trong chúng sanh có kẻ dữ người hiền, hễ muốn dạy đời sao
cho đặng hiền lành tốt đẹp thì phải lấy lòng hiền từ nhơn đức mới
đặng. Bằng mình không có lòng hiền thì 18 món bửu pháp kia lay động,
mình phải chịu lấy, chớ than thở với ai ?
Những kẻ đã làm khổ não cho Hội Thánh từ bấy lâu nay là làm cho
Hội Thánh trở nên oai quyền với họ. Muốn trừ hết cái khí nộ của
Thánh Thể Chí Tôn thì phải liệu phương hay nào làm cho Hội Thánh đặng
thân mật với Quyền Vạn Linh mới đặng. Vì
vậy cho nên Bần đạo để cho Quyền Vạn Linh tuyển chọn Chức sắc. * * *
Ngày
14-10-Đinh Sửu.
(Đại Hội Hội Thánh)
Thưa cùng Hội Thánh Cửu Trùng Đài và HTĐ.
Bần đạo xin để lời cám ơn chư Thánh chẳng quản nhọc nhằn về hội
đông đủ hôm nay.
Vậy trước khi mở Hội, Bần đạo xin yêu cầu cùng Hội Thánh nam nữ
rằng, để hết tâm giải quyết các khoản theo lời quyết nghị trong chương
trình của Hội Nhơn Sanh dâng lên.
Vả chăng, Đại Từ Phụ vì lòng thương yêu vô tận, thấy cả con cái của
Người đang bị đọa lạc trầm luân nơi khổ hải, nên mới đến khai Đạo
đặng cứu vớt, cũng như một người cha hiền đức ở thế gian nầy thấy
con cái mình đang bị tù tội ngục hình nên phải tầm phương giải nạn.
Người đến cốt yếu để tâm nuôi nấng cả con cái khổ não của Người,
chớ chẳng phải đến đặng rước những kẻ vinh hiển, nghĩa là Người
không phải đến lập vị cho những người sang trọng, mà đến đặng chia
khổ não cùng đời. Vì
vậy, chúng ta đã thấy ngày nay duy còn lại trong hình Thánh Thể toàn
những kẻ thật thà chơn chất hiền lương hiếu hạnh, còn những kẻ sang
trọng vinh hiển, biết đâu Đức Chí Tôn đã dùng huyền diệu thiêng
liêng đuổi ra khỏi cửa Đạo.
Bần đạo xin nói quả quyết rằng : Cái thiệt tướng của cơ quan giải
thoát cho chúng sanh là Chí Tôn đến đặng chia đau sớt khổ cùng đời,
đặng đem các con cái của Người ra khỏi cảnh khổ não trầm luân hay là
chốn ngục hình tại thế.
Đức Đại Từ Phụ vì không hình thể hữu vi, nên mới lập Hội Thánh đặng
thay hình thể cho Người.
Vậy cái trọng trách của Hội Thánh là phải làm thế nào ? Người
chẳng phải đến đặng biểu chúng ta làm ông tòa trị thế, mà trái lại,
Người đến đặng biểu chúng ta làm cha làm thầy đặng thương yêu dìu dắt
giùm đám con cái khổ não của Người.
Hễ cái khổ não của con cái Người bấy nhiêu thì chúng ta phải thương
tâm đau đớn bấy nhiêu, vì Đại Từ Phụ đến đặng làm cha, tức nhiên
Người đến đặng lấy giọt huyết lệ rửa cả khổ não của con cái Người.
Mảnh tâm vô cùng vô tận yêu ái của Người là duy có làm thế nào
cho con cái của Người đặng hạnh phúc. Ấy là sở vọng thỏa mãn của
Người đó.
Hại thay ! Chúng ta vì mang thi hài xác tục nên chưa làm đặng tròn
nhiệm vụ của Người đối cùng chúng sanh, cho nên cái năng lực của
chúng ta không tương đối với Chí Tôn.
Lại nữa, cả khuôn luật của Người hay là cơ quan giải thoát nó thường
hay nương theo không gian và thời gian mà định tướng. Ấy vậy, phận sự
chúng ta là thay thế hình ảnh Chí Tôn đặng làm cho con cái Người đặng
hạnh phúc thì con đường hạnh phúc của chúng sanh, chúng ta phải dong
ruổi. Cái thiệt phận của chúng ta là phải gánh vác các điều khổ
não đặng thay thế cho Chí Tôn mới đáng.
Ấy vậy, nếu Hội Thánh chẳng đủ làm cho chúng sanh hạnh phúc thì Hội
Thánh chẳng hề từ chối một mối khổ tâm nào, một điều nhục nhã nào,
dầu phải đi trên tuyết giá hay là vào luồng đầm hổ huyệt, cùng là
đi trên lửa cũng chẳng hề thối chí nãn lòng, đặng quyết mong đoạt
thành cái thiệt Đạo của Chí Tôn là dẫn cả thảy chúng sanh đi vào con
đường hạnh phúc.
Cái buổi nào phải đi đặng làm cho con cái của Người ra hạnh phúc thì
chẳng bao giờ chúng ta từ chối đặng, vì chúng ta đã hết tâm mà thật
hành Thánh Thể của Người. Nếu mình còn lo một điều chi mảy mún vị
ngã cho mình nữa thì là chưa đúng bực nam nhi xử thế và mình cũng còn
vì mình thì không thể nào thay thế hình ảnh Chí Tôn đặng. Cơ
thể của Đạo vốn phải chuyển luân chớ chẳng phải là điều áp bức.
Từ khi mở Đạo đến nay, Chí Tôn đã truyền cho Bần đạo một bí pháp mà
Bần đạo chưa nỡ thật hành đặng, là vì Chức sắc Thiên phong còn bán
thể qui y nửa đời nửa đạo, nên không đắc dụng. Bí
pháp ấy là gì ? Là cho Chức sắc chết vì Đời, sống vì Đạo mà thôi.
Trong một thời gian 12 năm nay là một kỷ cũng đã quá lâu, Bần đạo
đã rộng rãi khoan hồng để họ đủ thời giờ lo tóm dẹp gia đình cho yên
ổn, chớ chẳng hề khi nào Hội Thánh nghiêm khắc. Ấy vậy, từ đây,
Bần đạo nhứt định thi hành bí pháp ấy.
Bần đạo xin thuyết minh và nói quyết hẳn rằng : Bần đạo chẳng còn
muốn nghe trong hàng Chức sắc Thiên phong có một ai nói rằng : gia đình
ràng buộc, nào cha mẹ vợ con, mà không để trọn tâm hành đạo.
Ngoài ra, Chức sắc phải để lòng từ tâm giúp đỡ lẫn nhau, thoảng như
những yếu nhơn trong cửa Đạo có lắm cảnh bi yếu khổ tâm thì duy nhờ
lòng từ tâm của nhơn sanh và sự thương yêu của Chức sắc chia sớt lấy,
chớ quyền trên của Hội Thánh từ đây không muốn biết tới nữa, nghĩa
là Bần đạo để cho Chức sắc liệu định thế nào cho phần đời của họ
được thỏa mãn cùng nhau mà thôi, chớ quyền trên nhứt định không muốn
biết tới quyền đời của một Chức sắc nào cả. .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Khi Đức Quyền Giáo Tông còn đương đời thì Bần đạo có nói cùng Ngài
rằng : Ở đời không có sự nhục nhã nào bằng thầy mà đi xin cơm của
học trò, quan đi xin tiền của dân. Đừng nói chi nhiều, cha với con là
tình máu mủ mà còn chẳng nỡ mở miệng nói : Cha nay già yếu, mấy con
phải nuôi dưỡng cha thay, huống chi là Đạo còn phải đưa tay xin tiền,
không xin trước mặt cũng xin sau lưng, thì nó khỏi xấu hổ trước mặt
chớ cũng rất hổ thầm với lương tâm chớ.
Xấu cho đến đỗi, hễ thấy
Chức việc vừa đến nhà, các tín đồ đã lánh mặt.
Bây giờ có phương giữ thể thống đỡ một chút là cậy người khác xin
cho mình ăn, hay là làm mướn đặng nuôi mình.
Một khi đó, Bần đạo có giải nghĩa với Đức Quyền Giáo Tông thì Ngài
cũng cười ngất mà thôi.
Tạo Cơ Quan Phước Thiện là cho có người chịu cực khổ lăn lóc mà nuôi
Đạo. Vậy có lẽ Phước Thiện là người biết tiện tặn gìn giữ tiền bạc
ấy đặng.
Còn như thể Bần đạo quyết định, Bần đạo không nói quản hạt, địa hạt
mấy ngày gì cả, mà Bần đạo chỉ nói con chim kia còn có chỗ ở, nó
đâu có đi cày cấy, nó còn có lúa ăn;
cái cây kia nó đâu có làm lụng
mà còn có tuyết sương nuôi dưỡng. Nếu như mấy anh đủ Đạo tâm, dám
mang bầu quãy gậy nơi mình, rồi cứ lo việc Đạo, mà hễ có đói
thì Bần đạo dám cam chịu tội.
Xin có cho thì cho, không thì thôi. Đời muốn mình làm tôi tớ lâu dài
thì dễ cho nó, bằng không để lang thang rách rưới, nó làm tớ lâu dài
không đặng, thì Đời phải lỗ chớ mình không hại chi hết.
Trần Khai Pháp nói : . . . . . . . . . . . . . . . . .
Bần đạo nhớ Đức Khổng Tử xưa, Ngài từ nhà Châu về nước Lỗ, thì duy
có ngồi mà dạy học trò đó thôi, Ngài đã lập giáo rồi cũng có
Thất thập nhị Hiền ra đi truyền giáo, mà có xin thiên hạ châu cấp chi
chăng, họ cũng sống vậy.
Bên Chánh trị Đạo, Bần đạo chẳng dám nói, chớ bên Phước Thiện, Bần
đạo dám chắc rằng : Mỗi người, trước khi lên bậc Giáo Thiện, lãnh
lịnh ra đi, trong túi không có một xu, lập Sở không có một chiếc đũa,
mà họ nào có đói đâu, họ cũng nhờ thời gian mà nên đặng vậy. Mới
có một năm mà đã thành tựu biết bao sản nghiệp. Bần đạo chỉ chỗ bí
yếu trọng hệ hơn hết mà không ai nói đến là tại Chức sắc Thiên
phong khiếm hạnh đức nên mới khổ tâm nhọc trí, chớ nếu có đủ đạo
đức thì đâu đến nỗi.
Trần Khai Pháp nói : . . . . . . . . . . . . . . . .
Dưới mắt Bần đạo còn thấy một điều trái hẳn với chơn đạo là vì
Chí Tôn đến dạy chúng ta làm cho nhơn sanh được hạnh phúc, chớ chẳng
phải dạy chúng ta đến ăn xin với con cái của Người.
Ấy vậy, phải làm thế nào cho đáng mặt là Thánh Thể của Đấng Chí
Tôn.
* * *
Ngày
15-10-Đinh Sửu.
(Thượng
Hội)
Luôn dịp, Đức Hộ Pháp cho Hội Thánh rõ rằng : Theo lẽ thì ngày mai sẽ
có Thượng Hội, nhưng quyền Thượng Hội, kể từ phẩm Đầu Sư, Chưởng
Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh và Giáo Tông, song các bậc phẩm đều
thiếu, nên Bần đạo sẽ phê chuẩn các lời bàn nghị của Hội Nhơn Sanh
và Hội Thánh, đã đồng thinh công nhận./.
(Trích trong quyển Vi Bằng
Hội Quyền Vạn Linh tại TTTN ngày 15-10-Đinh Sửu 1937)
Do Tam Giáo thất chơn truyền, Nho Thích Đạo hiện nay đã
trở nên phàm giáo.
Chư đệ tử trong ba nhà đạo không giữ y luật pháp qui
điều, canh cải chơn truyền, bày ra các điều giả cuộc, làm cho Tam Giáo
biến thành dị đoan.
- Đệ tử nhà Đạo chẳng tùng pháp giáo của Đức Thái
Thượng Lão Quân, tuy ở trong nhà Đạo mà tức thị dị đoan mê tín.
- Đệ tử nhà Thích không thuận theo lời giảng dạy của
Đức Phật Thích Ca, thì đệ tử nhà Thích dị đoan mê tín.
- Đệ tử nhà Nho chẳng thật hành điều mục của Đức
Văn Tuyên Khổng Thánh, thì đệ tử nhà Nho dị đoan bất chánh.
Tóm lại, hai chữ “DỊ ĐOAN” nghĩa là đồ theo không
trúng kiểu cái qui giới thể lệ chơn truyền của Tam Giáo.
- Tiên Giáo, Đức Thái Thượng dạy Tam Bửu, Ngũ Hành,
tu tâm luyện tánh, thủ cảm ứng
công bình.
- Phật Giáo Đức Thích Ca dạy Tam Qui, Ngũ Giới, minh
tâm kiến tánh, thật hành bác ái từ bi.
- Nho Giáo Đức Khổng Phu Tử dạy Tam Cang, Ngũ Thường,
tồn tâm dưỡng tánh, giữ theo hai chữ Trung Hiếu mà làm tiêu chuẩn cho
mọi hành vi.
Cả luật pháp khuôn viên điều mục của ba nhà tôn
giáo từ buổi sơ khai có đủ phương diện quyền năng dìu đời thống khổ.
Nhơn sanh trong thời kỳ thượng cổ còn tánh đức biết giữ chơn truyền,
chuẩn thằng qui củ của ba nhà : Nho, Thích, Đạo, làm lành lánh dữ,
dưỡng tánh tu tâm, nên mới chung hưởng đời thái bình an cư lạc nghiệp.
Nay đến kỳ Hạ nguơn cuối cùng, thế đạo suy vi, nhơn
tâm bất cổ, đạo đức đổi dời, lòng người chẳng giống xưa, luật Tam
Cang chẳng giữ, phép Ngũ Thường không noi. Tam Giáo thất chơn truyền,
nhơn tâm biến đổi, bỏ phép công bình, tranh danh trục lợi, cướp giựt
hiếp đáp, giết hại lẫn nhau không tưởng cốt nhục, chẳng tưởng đồng
bào, thù nghịch lẫn nhau thành ra một trường náo nhiệt, luân lý suy
đồi nên gọi là đời mạt kiếp.
Các vì Giáo Chủ ngày xưa tiên tri rằng : Buổi sau nầy
Tam Giáo phải qui phàm nên có để lời bí tích trong sấm truyền như :
- Phật Tông Nguyên Lý, Đức Thích Ca nói : Lục vạn
dư niên Thiên khai Huỳnh Đạo.
- Còn Nho Giáo, Đức Khổng Tử nói : Mạt hậu Tam Kỳ
Thiên khai Huỳnh Đạo.
- Đức Chúa Jésus khi bị đóng đinh trên cây Thánh giá
có nói tiên tri với môn đồ của Ngài rằng : Trong hai ngàn năm Tận
thế, Ta sẽ đến phán xét cho nhơn loại một lần nữa. Và Ngài có
nói : Còn nhiều chuồng chiên, sau Đức Chúa Trời sẽ qui về một mối.
Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là đúng theo lời sấm
truyền của các vị Giáo Chủ ngày xưa.
Chỉ có hai phương diện là do nơi Tam Giáo thất chơn
truyền, chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập Đạo đặng qui nguyên phục
nhứt, gọi là Chấn hưng Tam Giáo lại cho hoàn toàn, lập luật pháp
khuôn viên cho phù hạp theo dân trí buổi nầy mới tìm phương độ rỗi
nhơn sanh, hiệp cả tinh thần của các dân tộc, biết nhìn nhau một Cha
chung mà thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ nghĩa thương yêu, chung thờ
một nền tôn giáo đại đồng thì nhơn loại mới đặng gội nhuần ân huệ
và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong, thì vạn
loại mới chung hưởng hòa bình, phục lại đời thượng cổ là do Thiên thơ
tiền định, buổi Hạ nguơn chuyển thế, hoán cựu duy tân.
Tóm lại, Đức Chí Tôn khai Đạo kỳ thứ ba nầy là
thuận theo lẽ tuần hoàn, châu nhi phục thỉ./.
Tại sao Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ không ăn ngọ, tuyệt
cốc, và tịnh luyện như các tôn giáo khác ?
Tại thời kỳ giả dối đã qua, thời chơn thật hầu đến,
Đức Chí Tôn khai Đạo kỳ thứ ba nầy là tạo một Trường thi Công quả
hữu vi tại thế cho nhơn sanh lập công nghiệp và tâm đức mà đoạt phẩm
vị thiêng liêng, chớ không có dạy ăn ngọ, tuyệt cốc, và tịnh luyện
như các tôn giáo buổi trước.
Bởi nhơn sanh trong buổi Hạ nguơn đương tranh đấu mạnh
được yếu thua, khôn còn dại mất, mười người đều mất hết chín rưỡi
lương tâm, chỉ nhờ phương châm đạo đức làm cơ quan cứu thế, phổ độ
chúng sanh cho họ biết ăn năn tự hối, lánh dữ làm lành, noi theo
luật pháp chơn truyền của Đạo để trở nên người chí thiện, lập thành
minh đức, tân dân, ấy là chấn hưng phong hóa.
Nếu mọi người nhập môn giữ đạo, không lo phổ độ
nhơn sanh, chỉ chuyên chú về phương ăn ngọ, tuyệt cốc, kiếm chốn u
nhàn ẩn thân tịnh luyện thì gọi là “độc thiện kỳ thân”
chẳng bổ ích chi cho nhơn quần xã hội. Hỏi vậy, nhơn sanh nương theo nơi
nào mà thoát khổ ?
Đức Chí Tôn khai Đại Đạo, lập luật pháp khuôn viên
chuẩn thằng qui củ, làm một cái thang vô tận để cho nhơn sanh,
kẻ trước dìu người sau, nương theo con đường Thánh đức mà đoạt phẩm vị
thiêng liêng : Thần, Thánh, Tiên, Phật. Nên Đức Chí Tôn có nói rằng
: “ Các con đắc đạo cùng chăng là tại phương phổ độ, nếu các con
không đến trường Thầy lập mà đoạt phẩm vị của mình thì chẳng đi nơi
nào khác mà đắc đạo bao giờ.”
Các Đấng Thánh trước Hiền xưa cũng trải qua thiên
tân vạn khổ, đội nguyệt mang sao, như Đức Khổng Phu Tử, Mạnh Tử, bỏ
nhà cửa, từ biệt phụ mẫu, đoạn dứt ái ân, châu lưu liệt quốc, dạy
người cải dữ làm lành, thể Thiên hành hóa, do nơi công nghiệp ấy mà
đoạt thành phẩm vị, nào có thấy tuyệt cốc hay tịnh luyện chi đâu !
Tam Kỳ Phổ Độ là cơ quan cải tạo Đời, dạy nhơn sanh
biết cải ác tùng lương, thương yêu, thuận hòa cùng nhau, chung thờ một
chủ nghĩa, chỉnh đốn bại tục tồi phong cho trở nên Đời tận thiện tận
mỹ, để thuận theo buổi Hạ nguơn tuần hoàn qui cổ.
Đức Chí Tôn khai Đạo là muốn cho nhơn loại hòa bình,
càn khôn an tịnh, nhơn sanh noi theo luật pháp mà tu hành, lập công bồi
đức cho đầy đủ thì đặng thăng phẩm vị thiêng liêng, đem chơn tánh phản
bổn huờn nguyên làm một cùng Đức Chí Tôn là đắc đạo.
Ấy là điều chơn lý, nên chẳng ăn ngọ, tuyệt cốc,
tịnh luyện chi cả./.
Do lời Thánh giáo của Đức Chí Tôn từ buổi mới khai
đạo, thờ Thiên Nhãn là chủ nghĩa Nhứt Điểm Linh Quang của Tạo
Hóa.
Bởi Thiên Nhãn thuộc chơn thần : Thần cư tại nhãn.
Nhãn thị chủ tâm,
Lưỡng quang chủ tể,
Quang thị thần,
Thần thị Thiên,
Thiên giả Ngã dã.
Tâm thuộc hỏa, hỏa thuộc dương, dương là mặt nhựt,
mặt nhựt là thanh khí, thanh khí là Trời.
Có câu : Thanh phù giả vi Thiên.
Con người biết tôn sùng Trời, thì phải biết kính trọng Thần lương tâm.
Có câu : Khi kỳ tâm tất tự khi kỳ Thiên. Thiên kỳ bất khả khi hồ
?
Mọi nhà thờ Thiên Nhãn, sùng bái hằng ngày đặng xét mình, coi các
điều tội lỗi. Thoảng như trong tâm giục khởi làm việc chi bất bình thì
sợ có quyền năng của Trời răn phạt.
Nên thờ Thiên Nhãn là một phương mầu nhiệm cho mọi
người biết tùng Thiên lý.
Kỳ Hạ nguơn nầy, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Đạo, không
có chơn linh giáng sanh nguyên hình như các vị Giáo Chủ trước nữa.
Nếu sự thờ phượng riêng một vị Giáo Chủ buổi trước
thì không đủ thống nhứt đặng tín ngưỡng của nhơn sanh trong toàn cầu
thế giới.
Cho nên thờ Thiên Nhãn là cơ quan hiệp cả chơn thần
của toàn vạn linh và hiệp Tam bửu : Tinh, Khí, Thần vi nhứt.
Ấy là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh.
Từ khi các tôn giáo bị bế, âm thạnh dương suy, nên
Thần chẳng hiệp cùng Tinh, Khí được, vì vậy nên người tu hữu công mà
không đắc quả.
Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo, đem chơn thần huờn
nguyên cùng Tinh, Khí, là cơ mầu nhiệm cho chúng sanh đắc đạo.
Ai biết noi theo chơn truyền luật pháp, giữ trai kỳ 10 ngày trở lên,
đến ngày công viên quả mãn, đặng thọ truyền bửu pháp, chơn thần
siêu thăng.
Trong buổi Hạ nguơn chuyển thế, Đức Chí Tôn khai đạo
dạy thờ Thiên Nhãn là thờ chơn thần của Chí Linh cho hiệp cùng Vạn
Linh, tức là thờ ngôi Thái Cực, là thờ Trời vậy./.

5. Thuyết đạo tại Kim Biên : Mật thiết Triết lý của Đạo CĐ.
Ngày 11-7-Bính Tý (dl 27-8-1936)
THUYẾT ĐẠO của ĐỨC HỘ PHÁP
đọc tại Thánh Thất Kim Biên
giảng về : Mật thiết Triết lý của Đạo Cao Đài.
6.- Đức Hộ Pháp nói chuyện với thợ hồ đang xây cất TòaThánh.
Ngày 16-10-Bính Tý (dl 29-11-1936)
ĐỨC HỘ PHÁP nói chuyện
với thợ hồ đang xây cất Tòa Thánh.

7.- Thuyết đạo trong lễ Khánh Thành TT Kim Biên : Linh Tâm.
Ngày 15-7-Đinh Sửu (dl 20-8-1937)
THUYẾT ĐẠO
của Đức Hộ Pháp
trong lễ Khánh Thành Thánh Thất Kim Biên
8.- Nhơn lễ kỷ niệm Đức Q. Giáo
Tông : Luật Thương yêu.
Ngày 14-10-Đinh Sửu (dl 16-11-1937)
DIỄN VĂN
của Đức Hộ Pháp
đọc nhơn ngày Lễ kỷ niệm Đức Q. Giáo Tông.
9.- Thuyết minh trong Ba Hội lập
Quyền Vạn Linh.
Ngày 15-10-Đinh Sửu (dl 17-11-1937)
ĐỨC HỘ PHÁP THUYẾT MINH
trong Ba Hội lập Quyền Vạn Linh
tại Tòa Thánh năm Đinh Sửu. Ngày 12-10-Đinh Sửu. (Đại Hội Nhơn Sanh)

10.- Tại sao có Tam giáo rồi, Đức Chí Tôn còn khai ĐĐTKPĐ ?
Ngày 22-6-Mậu Dần (dl 19-7-1938)
ĐỨC HỘ PHÁP
thuyết đạo tại Đền Thánh
Đề tài : Tại sao có Tam Giáo rồi,
Đức Chí Tôn còn khai ĐĐTKPĐ.
11.- Đắc đạo hay không là do công quả phổ độ nhơn sanh.
Ngày 25-6-Mậu Dần (dl 22-7-1938)
ĐỨC HỘ PHÁP
thuyết đạo tại Đền Thánh
Đắc đạo hay không
là do công quả phổ độ nhơn sanh.
12.- Tại sao thờ Thiên Nhãn ?
Ngày 26-6-Mậu Dần (dl 23-7-1938)
ĐỨC HỘ PHÁP
giảng đạo tại Tòa Thánh
Đề tài : Tại sao thờ Thiên Nhãn ?

